HuyDuc
Mấy lời của tác giả

Tôi rời Campuchia trước khi Việt Nam rút hết “Quân tình nguyện”. Khi học ở trường chuyên gia quân sự 481, chúng tôi được chuẩn bị tư tưởng để “giúp bạn lâu dài”. Nhưng thay vì ở lại hàng thập niên, tôi chỉ phải ở lại Campuchia gần bốn năm. Tôi quyết định rời quân đội. Một cá nhân cũng như một quốc gia, súng ống chỉ nên được lựa chọn khi không còn con đường nào khác. Cuối năm 1987, tôi bắt đầu làm việc ở Văn phòng huyện uỷ Nhà Bè. Thời gian ấy, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh

Read More

Chương 12 Cởi trói

Cho dù tuyên bố “cởi trói” của Nguyễn Văn Linh là “ngứa miệng kêu” như ông nhận, hay là sách lược được áp dụng khi mới cầm quyền, thì sự thật là các hoạt động văn nghệ và báo chí sau đó đã bắt đầu được đặt trong một không gian mà tự do chỉ mở dần ra chứ không thể nào bóp lại. Những Việc Cần Làm Ngay Chiều chủ nhật 24-5-1987, toà soạn chuyển lên Ban Biên tập báo Nhân Dân một phong thư, nói là của một “người đứng tuổi nhờ đưa ngay cho đồng chí tổng biên tập”. Bảo vệ mô tả, “người đứng tuổi” đi xe Lada và có một người cận vệ nói giọng miền Nam. Chi tiết quan trọng nhất để Ban Biên tập báo Nhân Dân liên hệ giữa bút danh N.V.L., ký trong thư, với Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh

Read More

Ông Nguyễn Văn Linh làm Tổng bí thư vừa đúng một nhiệm kỳ (1986-1991). Người kế nhiệm ông - ông Đỗ Mười - nói rằng, thời gian thực sự làm việc của ông Linh chỉ khoảng gần hai năm vì ông thường xuyên đau ốm. Nhưng ông Nguyễn Văn Linh đã nỗ lực như một người mạnh khỏe để bảo vệ thành trì xã hội chủ nghĩa. Những nỗ lực đó có thể được Đảng Cộng sản Việt Nam ghi công nhưng cũng khiến cho di sản của Nguyễn Văn Linh trở nên rất khác. Cải cách ở bậc đại học Chính sách kinh tế nhiều thành phần thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VI, tháng 12-1986, đã đặt Việt Nam trước nhiều áp lực thay đổi mà trước đó chưa ai trù liệu tới. Một trong những lĩnh vực chịu áp lực đó là giáo dục. Trong bài trả lời “phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam” ngày 4-12-1988, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thừa nhận: “Trong khi thực hiện những chính sách đúng đắn theo phương hướng đổi mới, chúng ta chưa lường trước diễn biến phức tạp cho nên đã không kịp thời xử lý tốt các vấn đề mới nảy sinh”. Cũng như các nước xã hội chủ nghĩa khác, giáo dục đại học của Việt Nam đã tuân theo mô hình bao cấp. Hằng năm, căn cứ vào tính toán nhu cầu của các cơ quan, các địa phương, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước phân bổ cho các trường đại học chỉ tiêu tuyển sinh. Rồi căn cứ vào chỉ tiêu đó, ngân sách rót tiền cho các bộ chủ quản, các bộ rót tiền xuống cho các trường thuộc quyền quản lý của mình. Sinh viên ra trường được nhà nước phân công công việc. Nhưng, từ năm 1987, nhiều lĩnh vực trước đây thuộc khu vực công bắt đầu do “các thành phần kinh tế” khác đảm trách: biên chế không còn nhu cầu, sinh viên ra trường không còn được phân công về các cơ quan nhà nước. Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội có 1.000 giáo viên, năm 1987 chỉ còn được giao chỉ tiêu tuyển sinh 100 sinh viên. Các trường khác cũng rơi vào tình huống tương tự, viễn cảnh ra trường không có việc làm làm cho sinh viên không muốn học, thầy cô không muốn dạy. Bộ trưởng Đại học và Trung học Chuyên nghiệp (1987-1992), Giáo sư Trần Hồng Quân nói: “Tình hình cực kỳ nguy hiểm, nếu không thay đổi thì các trường đại học sẽ tan rã”. Năm 1987, đang là Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, ông Trần Hồng Quân được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Đại học và Trung học Chuyên nghiệp. Ông Quân là cháu gọi phu nhân Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, bà Ngô Thị Huệ, là dì ruột. Không thể định lượng mối quan hệ “dượng-cháu” này đã ảnh hưởng như thế nào tới các quyết định của Bộ trưởng Trần Hồng Quân. Nhưng, đây là giai đoạn mà chính sách tuyển sinh phân biệt đối xử được bãi bỏ và nhiều quyết định của Bộ đã làm thay đổi giáo dục đại học Việt Nam(89). Mùa hè năm 1987, Bộ Đại học quyết định triệu tập hiệu trưởng và bí thư Đảng uỷ các trường đại học trong cả nước về Nha Trang dự một hội nghị, về sau gọi là “Hội nghị Nha Trang”. Hội nghị đã thảo luận bốn tiền đề đào tạo: Đào tạo không chỉ cho các cơ quan nhà nước mà cho cả các thành phần kinh tế; Đào tạo theo dự báo yêu cầu tương lai; Đào tạo phục vụ nhu cầu của nhân dân về học, không kèm theo trách nhiệm phân công, sinh viên tự tìm việc làm và lập nghiệp tạo việc làm cho xã hội; Đào tạo đa dạng, có cả những loại hình phi chính quy, không chỉ bằng ngân sách mà còn thu học phí. Lần đầu tiên, trong một hội nghị của ngành các đại biểu có thể đối thoại với cơ quan quản lý. Bộ trưởng Trần Hồng Quân nhớ lại: “Phản ứng kinh khủng, vì đào tạo không theo kế hoạch, không phân công, không ngân sách là sai nguyên lý xã hội chủ nghĩa. Nhiều bí thư đảng uỷ đòi đối thoại với ông Đặng Quốc Bảo, trưởng Ban Khoa giáo Trung ương. Ông Bảo nói: ‘Cứ đối thoại với Bộ trưởng, tôi đến đây để nghe’. Tôi nói: ‘Các đồng chí bác đề án này vậy có sáng kiến gì khác để nền đại học của chúng ta tránh được sụp đổ?’. Mọi người chỉ than mạo hiểm mà không đưa ra được phương án khác nào, cuối cùng phải chấp nhận”. Theo ông Trần Hồng Quân, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp và Bí thư Trung ương Đảng Trần Xuân Bách hoàn toàn ủng hộ kế hoạch cải cách này. Cả hai ông sau đó đã tham gia Hội nghị Vũng Tàu và ủng hộ các trường ký trực tiếp với nước ngoài về hợp tác đào tạo thay vì qua Bộ. Cho dù có những phản ứng lúc đầu, nhưng sau Hội nghị Nha Trang, khi lên tàu trở về, các hiệu trưởng bắt đầu bàn với nhau các kế hoạch thực hiện. Ý tưởng bầu hiệu trưởng và phân cấp cho các trường bắt đầu được đề cập đến ở Hội nghị Nha Trang. Về Hà Nội, trong một lần gặp riêng tư, ông Trần Hồng Quân nói: “Tôi hỏi ông Võ Văn Kiệt, khi ấy đang là phó chủ tịch thường trực Hội đồng Bộ trưởng: ‘Chú thấy sao?’. Ông Kiệt hỏi lại: ‘Mày còn phân vân à?’. Rồi nói: ‘Nếu tao là bộ trưởng thì tao sẽ cho tiến hành’. Về, tôi cho áp dụng luôn ba hình thức: bổ nhiệm thẳng hiệu trưởng, thăm dò trước khi bổ nhiệm và bầu cử”. Bầu hiệu trưởng đã tạo ra nhiều hiệu ứng trong các trường đại học. Trước khi bỏ phiếu, Bộ trưởng trực tiếp đối thoại với toàn thể cán bộ công nhân viên về mặt chủ trương. Sau đó, các ứng cử viên đưa ra chương trình hành động của mình và đối thoại trực tiếp với những người bỏ phiếu. Chính những cuộc đối thoại này đã làm cho các ứng cử viên luôn luôn phải động não, luôn luôn phải làm hết sức mình. Đó là một giai đoạn mà trong các nhà trường đại học, ở đâu cũng thảo luận, ở đâu cũng bàn bạc. Ngày đầu tiên có cuộc đối thoại giữa Bộ trưởng Trần Hồng Quân và cán bộ công nhân viên trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, hội trường Mễ Trì có sức chứa 600 người, từ sáng sớm đã chật từ bên trong đến bên ngoài, tranh luận diễn ra liên tục từ bảy giờ sáng cho tới một giờ chiều. Tranh cử không phải là một sản phẩm của đổi mới ở Việt Nam. Hội nghị Nha Trang diễn ra khi mà ở Moscow, vào ngày 21-6-1987, Xô viết Moscow đã tổ chức bầu cử chủ tịch và các phó chủ tịch theo phương thức các đại biểu có thời gian ba ngày để thảo luận về danh sách các ứng cử viên. Thay vì chỉ được biết tên các ứng cử viên trước khi bỏ phiếu, như cách mà báo Nga gọi là “bộ máy cũ tái sản xuất ra chính nó”(90). Sinh viên và các phong trào tự phát Cho dù không được tham gia bỏ phiếu, lực lượng chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ chủ trương bầu hiệu trưởng vẫn là sinh viên nhất là trong một giai đoạn “đòi tự do, dân chủ” đang trở thành một trào lưu trên thế giới. Ở Nam Triều Tiên, chính quyền độc tài quân sự cũng bắt đầu lung lay. Một thứ trưởng ngoại giao Mỹ đã tới Seoul trao tận tay Tổng thống Chun Doo Hwan lá thư của Tổng thống Reagan, khuyên Chun đối xử nhẹ nhàng với những người biểu tình và đàm phán với bên đối lập để sửa đổi hiến pháp. Đại sứ Mỹ tại Seoul cũng đã vào tận nhà tù để gặp riêng hai lãnh tụ đối lập Kim Young Sam và Kim Dea Jung. Sau bảy năm kiên trì đấu tranh, người dân Hàn Quốc đã buộc Chun Doo Hwan phải chấp nhận sửa đổi hiến pháp và chế độ bầu cử, bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận; thả tù nhân chính trị và cam kết, đến tháng 2-1988, khi kết thúc nhiệm kỳ sẽ trao lại quyền lực cho vị tổng thống dân sự được bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, trực tiếp. Người dân Seoul đổ xuống đường ăn mừng. Báo Tuổi Trẻ ngày 7-7-1987 gọi đây là “thắng lợi của sức mạnh quần chúng”. Khi những người tuổi trẻ ý thức được sự trưởng thành, họ không giới hạn sự đòi hỏi của mình trong những chuyện cơm ăn, áo mặc. Không khí dân chủ trong môi trường đại học đã giúp họ nhận ra và bày tỏ thái độ cả với chương trình đào tạo, thay vì cung cấp những kiến thức cần thiết cho cuộc sống, sau năm 1975 đã bị chính trị hoá(91). Từ sau Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị(92), bậc “giáo dục mầm non”, dành cho trẻ từ hai đến bốn tuổi, cũng được coi là “một bộ phận rất quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những con người mới xã hội chủ nghĩa”. Ở bậc “giáo dục phổ thông” - từ hệ 10 năm của miền Bắc được thiết kế thành hệ 12 năm như miền Nam - nội dung giáo dục được yêu cầu phải “coi trọng các môn giáo dục công dân và đạo đức cách mạng”. Tham gia đoàn thể là một hoạt động bắt buộc và trở thành đoàn viên cộng sản là điều kiện tiên quyết để một học sinh được thi vào đại học. Mục tiêu đầu tiên của bậc “giáo dục đại học” là đào tạo những người “một lòng một dạ trung thành với tổ quốc xã hội chủ nghĩa”(93). Chương trình học và sách giáo khoa bắt đầu được soạn mới, chính trị càng tràn ngập trong các nội dung giảng dạy. Giữa năm 1987, tại trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, xảy ra vụ một sinh viên khoa Triết bị loại bài thi và bị trưởng Bộ môn Marx-Lenin nhận xét: “Phê phán cực đoan và có nguy cơ phản Đảng”. Nhiều sinh viên đã phản ứng. Đoàn trường Tổng hợp, hồi tháng 6-1987, đã tiến hành một cuộc thăm dò dư luận cho thấy 89% sinh viên được hỏi không thích học các môn lý luận chính trị, trong đó, 30% sinh viên cho rằng do bài giảng chính trị chất lượng kém, 20% cho rằng cách tổ chức dạy và học chưa tốt. Ngày 18-6-1987, Chi đoàn khoa Triết năm thứ ba trường Đại học Tổng hợp tổ chức hội thảo về “giảng dạy và học chủ nghĩa Marx-Lenin”. Tại đây, các sinh viên đã phê phán “giáo viên dạy lý luận chính trị mà dựa vào sách vở như là viện dẫn kinh thánh”. Nhiều sinh viên tuyên bố không thích học chính trị theo cách giảng dạy hiện nay. Một sinh viên năm thứ tư cho rằng: “Tôn trọng thầy không có nghĩa là không có quyền nhận xét thầy dạy dở. Đã đến lúc chất lượng bài giảng, phương pháp giảng dạy, kể cả chất lượng giáo viên chính trị cần phải được đánh giá lại”. Không dừng lại ở nội dung giảng dạy, đầu năm học 1987, hai sinh viên Đại học Kinh tế đã vẽ bốn tấm bích chương dán ở bốn ký túc xá để thu thập chữ ký đòi các Ban Quản lý Ký túc xá cải thiện điều kiện ăn ở cho sinh viên. Ở khoa Văn, Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi phản ánh nhiều lần không có kết quả, sinh viên đã xếp xe đạp thành rào chắn, chặn xe tải chạy vào xưởng cồn “cải thiện đời sống” của khoa vì xưởng cồn gây ồn, ảnh hưởng đến các lớp học. Ban Giám hiệu sau đó đã phải bố trí một nơi khác yên tĩnh hơn cho sinh viên, còn “kẻ chủ mưu” cuộc biểu tình, sinh viên Nguyễn Ngọc Vinh, tháng 12-1987, được bầu làm bí thư Đoàn khoa Văn.Việc người lãnh đạo cuộc đấu tranh với nhà trường được sinh viên tôn vinh cho thấy không gian dân chủ trong giới sinh viên bắt đầu được đánh thức. Không chỉ tình hình Đông Âu, giữa năm 1989, sự kiện Thiên An Môn(94) cũng trở thành đề tài bàn luận của sinh viên Việt Nam. Tin tức về Thiên An Môn bị Ban Tuyên giáo kiểm soát. Báo chí bị buộc phải đứng ngoài cho tới chuyến thăm lịch sử của Tổng bí thư Liên Xô tới Bắc Kinh(95). Ngày 15-5-1989, trong bản tin nói về chuyến đi của Gorbachev, báo Tuổi Trẻ mới có cơ hội lồng vào thông tin liên quan tới Thiên An Môn: “Ngày 4-5-1989, khi tiếp các đại biểu ngân hàng các nước dự hội nghị tại Bắc Kinh, Triệu Tử Dương nói, biểu tình sẽ dần lắng dịu”. Một tuần sau, tuần tin Thanh Niên, xuất bản ngày 21-5-1989, viết rõ hơn: “Trong những ngày Gorbachev đang ở Bắc Kinh, hàng trăm ngàn sinh viên vẫn biểu tình tại Thiên An Môn và tới nay thì lôi cuốn tất cả các thành phần khác như nông dân, công nhân, các nhà khoa học, nhà giáo, kể cả nhân viên nhà nước. Hàng ngàn sinh viên đang tuyệt thực, trong đó có những sinh viên phải vào bệnh viện”. Cho dù bị đàn áp đẫm máu(96), hình ảnh đoàn xe tăng lầm lũi tiến vào Quảng trường Thiên An Môn bị chặn đứng bởi một người đàn ông vô danh(97) đã khiến cho cuộc biểu tình được coi như một biểu tượng quả cảm vì tự do, dân chủ. Bí thư Đoàn khoa Văn, Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh năm 1989, Nguyễn Ngọc Vinh nhớ lại: “Ngay từ khi ở Hàn Quốc, Thái Lan, đặc biệt là ở Thiên An Môn nổ ra biểu tình, không khí trong sinh viên đã rất sôi sục. Anh em nói: ‘Khi nào hạ lệnh là tụi em làm liền’. Tôi tìm gặp Giáo sư Lý Chánh Trung hỏi: ‘Thưa thầy, có nên biểu tình?’. Giáo sư Lý Chánh Trung khuyên không nên, ông phân tích tương quan rồi nói: ‘Trong chế độ này không nên làm cái gì mang tính đối lập”. Đất nước lúc ấy vẫn chưa hết nghèo đói, xã hội rất bức bách, sinh viên bắt đầu trăn trở. Các thăm dò xã hội cho thấy thanh niên không hài lòng với cuộc sống hiện thời(98). Cho dù không có những hoạt động mang tính tổ chức nhưng nhu cầu phản kháng trong giới sinh viên vẫn như một thùng thuốc súng. Chính yếu tố không có tính tổ chức này đã làm cho các phản ứng của sinh viên rất bộc phát và đôi khi vì những lý do nằm ngoài những bức xúc chính trị. Hai cuộc biểu tình lớn diễn ra ở Sài Gòn trong năm 1989 đều có tính chất như vậy. Cuộc biểu tình thứ nhất xảy ra vào đêm 10-6-1989. Vài giờ trước đó, tại ngã ba Nguyễn Cư Trinh - Cống Quỳnh, dân quân Nguyễn Thanh Hùng đi xe đạp từ phía sau vượt lên va vào ghi-đông xe đạp của hai sinh viên thuộc ký túc xá Trần Hưng Đạo. Vì xe bị “tráng niền”, Hùng đánh hai sinh viên cho dù họ đề nghị Hùng mang xe về ký túc xá sửa. Thay vì can gián, một nhân viên phường đội phường Nguyễn Cư Trinh và một dân quân khác đã mang súng ra bắt hai sinh viên về cơ quan phường đánh đập. Hay tin, hàng ngàn sinh viên đã kéo lên trụ sở Uỷ ban Nhân dân Thành phố đòi phải trừng trị những kẻ đã đánh sinh viên. Chính quyền Quận 1 ngay sau đó đã phải hứa cho điều tra, khởi tố các nhân viên phường đội, sinh viên mới bằng lòng giải tán. Cuộc biểu tình thứ hai nổ ra gần một tháng sau giữa sinh viên và bảo vệ Công viên Kỳ Hoà. Sự việc bắt đầu cũng khá đơn giản: Cuối giờ chiều ngày 6-7-1989, năm sinh viên ký túc xá Ngô Gia Tự và một số học sinh lên Thành phố dự thi đang chơi ngoài bãi cỏ Công viên Kỳ Hoà thì trời đổ mưa đột ngột. Họ cùng với những người khách khác chạy vào trú mưa dưới mái hiên Nhà kính dị dạng. Ít phút sau, bảo vệ công viên đi qua nhìn thấy một tấm kính bị vỡ nên đã mời số sinh viên này lên phòng Ban Giám đốc giải quyết. Hai bên đôi co, người bảo vệ phát hiện tấm kính vỡ đã đánh một sinh viên dập sống mũi. Một sinh viên khác liền chạy về ký túc xá Ngô Gia Tự thông báo. Một số sinh viên, trong đó có Ban Quản lý Ký túc xá đã đến Công viên Kỳ Hoà yêu cầu lập biên bản. Cuộc làm việc chưa đi tới đâu thì bảo vệ Kỳ Hoà cho thả chó bẹc-giê ra cắn hai sinh viên bị thương. Số sinh viên đang đứng đợi dưới nhà, kêu lên: “Không đàm phán nữa, về kêu sinh viên ra đập chết chó đi”. Một thành viên trong Ban Tự quản Sinh viên trực tiếp thảo “lời kêu gọi” rồi đọc trên hệ thống loa phóng thanh của ký túc xá Ngô Gia Tự. Hơn 600 sinh viên, trong đó gồm cả sinh viên ở ký túc xá Nguyễn Chí Thanh, nghe tin cũng kéo theo, trực chỉ Hồ Kỳ Hoà. Ban Giám đốc Công viên bỏ chạy. Bảo vệ chối không có chó. Sinh viên bắt phải tìm ra con chó thủ phạm đã cắn sinh viên. Sẵn cừ tràm của một công trình đang xây dựng trong Kỳ Hoà, sinh viên bẻ cừ, đập chết con chó đồng thời làm hư hỏng thêm một số đồ vật khác. Sinh viên vẫn đang sùng sục thì sáng ngày 9-7-1989, báo Sài Gòn Giải Phóng cho đăng “Thông báo của Uỷ ban Nhân dân Quận 10”, đưa kết luận cuộc họp ngày 7-7-1989 theo hướng bào chữa cho bảo vệ Kỳ Hoà. Ví dụ, sự kiện thả chó, được nói: “Theo thông lệ, sau khi đóng cổng nhân viên trật tự đã thả chó ra trong vòng rào công viên. Không may có thanh niên trong số đông còn tụ tập sát cổng khu vực Kỳ Hoà II đã bị một con chó cào xước nhẹ”. Cũng theo Thông báo: “Nhiều tốp sinh viên ở ký túc xá Ngô Gia Tự, do nghe tin thổi phồng về tình hình xô xát đã kéo thêm đến công viên Kỳ Hoà. Một số ít thanh niên trong các tốp đó đã xông vào đập phá gây thiệt hại về tài sản cho cả các cơ sở trong hai khu vực Kỳ Hoà I & II”. Thông báo nói rằng: “Cuộc họp đã kiến nghị điều tra, xử lý nhanh chóng và nghiêm minh những người gây ra xô xát và đập phá tài sản công cộng”. Số tiền mà Kỳ Hoà dự kiến đòi sinh viên bồi thường lên tới sáu mươi triệu đồng. Ngay sáng chủ nhật, 9-7-1989, hàng trăm sinh viên đã kéo tới Toà soạn báo Sài Gòn Giải Phóng yêu cầu đính chính. Sài Gòn Giải Phóng không chịu, từ đường Nguyễn Thị Minh Khai, sinh viên kéo ra đường Lê Thánh Tôn, đến trước trụ sở Uỷ ban Nhân dân Thành phố. Không chỉ có ký túc xá Ngô Gia Tự, sinh viên từ các ký túc xá Trần Hưng Đạo, Nguyễn Chí Thanh và từ Thủ Đức cũng lần lượt kéo lên. Cảnh sát phải chặn sinh viên từ Thủ Đức lên ở bên kia cầu Sài Gòn. Ngay trong ngày 9-7-1989, chính quyền đã dùng biện pháp mạnh, bắt bốn người trong Ban Tự quản Sinh viên: Phạm Văn Chiến, Nguyễn Văn Tấn, Nguyễn Phong Thanh và Nguyễn Sơn Thuỷ Hùng. Đồng thời, để xoa dịu tình hình, hai bảo vệ của Công viên Kỳ Hoà cũng bị bắt. Ngày 12-7-1989, báo Sài Gòn Giải Phóng “gặp Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nguyễn Văn Bông”. Phát biểu của ông Bông cho dù vẫn với thái độ “xử lý nghiêm minh” nhưng lời lẽ rõ ràng là “nói lại cho rõ” những gì đăng trên tờ báo này hôm chủ nhật. Thay vì nói “mũi của một sinh viên bị xây xát nhẹ”, ông Bông nói rõ: “Bảo vệ Dương Quang Hiệp của Công viên Kỳ Hoà đã đánh học sinh Phạm Hữu Nghị gây thương tích ở sống mũi”. Về vụ chó bẹc-giê cắn sinh viên, ông Bông nói: “Đội phó bảo vệ Nguyễn Văn Lâm đã thả chó ra, chó cắn hai học sinh bị thương. Theo quy định của Hồ Kỳ Hoà, chỉ khi không còn khách mới được thả chó ra để bảo vệ”. Nguyễn Sơn Thuỷ Hùng nhớ lại: “Khoảng bốn giờ chiều ngày 9-7-1989, chúng tôi được mời lên công an thành phố. Với sự chứng kiến của thầy hiệu phó và thầy Lý Chánh Trung họ đọc lệnh bắt, đưa lên xe u-oát chở về 3C Tôn Đức Thắng”. Lệnh bắt nói là “tạm giam bốn tháng” nhưng, người bị giữ lâu nhất là mười ngày, còn ba người còn lại chỉ bị giữ một tuần rồi cho về. Giám đốc Sở Công an, Đại tá Nguyễn Hữu Khương đã gặp bốn sinh viên ngay sau khi họ được thả ra. Ông Khương huấn dụ: “Luật không cấm các em biểu tình, nhưng biểu tình thế là nguy hiểm, là không kiểm soát được tình hình. Các em chớ dại”. Theo báo cáo của Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp tại Hội nghị Đồ Sơn mùa hè năm 1989, tính tới tháng 8-1989, trên cả nước có mười ba vụ “phản ứng tập thể của sinh viên” xảy ra tại Hà Nội, Vinh, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Cần Thơ và Sài Gòn. Theo báo cáo này: “Phần lớn những đòi hỏi vừa qua của sinh viên là chính đáng. Tuy nhiên, Bộ thấy rằng ở một số nơi, sinh viên có khuynh hướng giải quyết yêu cầu bằng áp lực của số đông, dẫn đến tình hình phức tạp”. Biểu tình càng bị coi là “phức tạp” hơn khi chính nó đang làm sụp đổ nhiều quốc gia cộng sản. Đông Âu Cuộc cách mạng diễn ra trong cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa cuối thập niên 1980 đã làm thay đổi bản đồ chính trị thế giới. Tuy nhiên, những gì mà người dân Đông Âu và Liên xô coi là cơ hội đã được Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh xác định như một nguy cơ. Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được Chế độ khẳng định là do Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập sau khi “đánh thắng ba đế quốc to” (Nhật-Pháp-Mỹ). Trong khi, Chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu chủ yếu được thiết lập sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II(99) dựa trên sự áp đặt của Liên Xô. Trong đó, có những quốc gia được Liên Xô giải phóng từ tay Hitler nhưng cũng có những quốc gia vốn là nạn nhân của họ(100). Ngay từ những năm đầu, người dân và một số nhà lãnh đạo Đông Âu đã không ngừng đấu tranh để chống lại sự áp đặt đó. Sau cái chết của Joseph Stalin vào ngày 5-3-1953, hơn một triệu người dân Đông Đức đã xuống đường biểu tình. Nhưng người dân Đông Đức đã bị đàn áp bởi xe tăng Liên Xô. Ngày 23-10-1956, người dân Hungary cũng nổi dậy, thành lập Hội đồng Lâm thời, giải tán cảnh sát an ninh nhà nước, tuyên bố rút khỏi Khối Warszawa, cam kết tái lập bầu cử tự do. Nhưng ngày 4-11-1956, Liên Xô đưa quân đội sang, người dân Hungary đã chiến đấu cho tới ngày 10-11: hơn 2.500 người Hungary và 700 binh lính Liên Xô bị chết, hai mươi vạn người Hungary phải đi tị nạn chính trị. Cựu Thủ tướng Nagy Imre bị bắt đưa sang Liên xô. Ngày 17-6-1958, ông cùng những người nổi dậy bị Toà án Tối cao Hungary tuyên bố hành quyết. Cho dù Liên Xô đã dựng lên bức tường Berlin(101), họ chưa bao giờ khuất phục được khát vọng tự do của người Đông Âu. Từ năm 1965, ở Tiệp Khắc, mô hình Stalin được dần thay bằng mô hình “xã hội chủ nghĩa thị trường”(102) với ước mơ xây dựng một chế độ thực sự có “khuôn mặt con người”(103). Tháng 4-1968, Bí thư Dubček còn đề cập tới khả năng về một quá trình mười năm để Tiệp Khắc chuyển sang chế độ bầu cử dân chủ. Nhưng, đêm 20-8-1968, Brezhnev đưa 200.000 lính, 2.000 xe tăng của “Khối Warszawa” tiến vào thủ đô Praha. Cuộc xâm lăng này đã khiến 300.000 người dân Tiệp Khắc phải bỏ nước ra đi, trong đó có 70.000 bỏ đi ngay lập tức. Ngày 19- 1-1969, một sinh viên tên là Jan Palach đã tự thiêu tại Quảng trường Wenceslas ở Praha để phản đối sự trấn áp quyền tự do ngôn luận(104). Xe tăng Liên Xô đã làm tỉnh ngộ các đảng viên cộng sản và hun đúc ý thức đấu tranh của người dân. Hơn 450.000 đảng viên rời khỏi đảng cộng sản, hoa tươi luôn được đặt nơi Jan Palach tự thiêu. Từ cuộc vận động trả tự do cho nhóm nhạc “Plastic People”, ngày 10-12-1977, Nhà viết kịch Vaclav Havel và các cộng sự quyết định thành lập nhóm “đối lập xây dựng” và cho ra đời Hiến Chương 77 đòi chính quyền tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và các quyền con người căn bản khác. Ngày 6-1-1977, Hiến Chương 77 được công bố với 242 người Tiệp Khắc ở trong nước đồng ký tên. Trong ngày, các thông tín viên thường trực tại Praha đã loan tin Hiến Chương 77 đi toàn thế giới. Cho dù chế độ gia tăng đàn áp, cứ phát ngôn viên này bị bắt thì người khác trong nhóm lại đứng lên. Nhưng Đông Âu có thể đã phải mất nhiều thời gian để thay đổi hơn, nếu như vào ngày 16-10-1978, Karol Wojtyla, một người Ba Lan không trở thành Giáo hoàng John Paul II và đã trở về thăm quê trong hào quang vào ngày 2-6-1979. Cho dù phải gần hai năm sau, Ronald Reagan mới trở thành tổng thống, lúc ấy, từ một trang trại của nước Mỹ ông đã cùng Richard Allen(105) theo dõi sát sao chuyến đi của Giáo hoàng. Từ đầu thập niên 1980, chính sách ưu tiên của Reagan là “đánh bật Ba Lan ra khỏi quỹ đạo Liên Xô”. Còn John Paul II thì gọi Lech Walesa, lãnh tụ của phong trào Công đoàn Đoàn kết, là người “được phái xuống bởi Chúa và ý Trời”. Nhưng, cả CIA lẫn Giáo hoàng cũng sẽ không làm được gì nếu tự do, độc lập không phải là khát vọng bên trong của những người dân Ba Lan, kể cả những người đang nắm quyền trong Đảng. Trong kỷ nguyên cộng sản, người dân Ba Lan đã từng đứng dậy ba lần vào các năm 1956, 1970 và 1976; cả ba lần chính quyền đều đàn áp một cách tàn bạo. Nhưng, không phải tất cả các nhà lãnh đạo người Ba Lan đều tán thành sử dụng vũ lực để chống lại nhân dân mình. Năm 1980, khi các cuộc bãi công lại mau chóng lan rộng ra khắp đất nước Ba Lan(106). Bí thư thứ nhất Gierek và bộ trưởng Quốc phòng của ông, tướng Wojciech Jaruzelski, không muốn sử dụng lực lượng quân sự để cưỡng bức những người bãi công trở lại làm việc cho dù họ bị Moscow đe doạ. Ngày 31-8-1980, Chính phủ Ba Lan đã phải ký với Lech Walesa “Thoả ước Gdánsk” chấp nhận những đòi hỏi của công nhân và đặc biệt hợp pháp hoá việc thành lập các tổ chức công đoàn độc lập. Chưa đầy một tuần sau đó, ngày 5-9, dưới sức ép của Liên Xô, Gierek mất chức. Ngày 27-3-1981, Walesa tổ chức một cuộc tổng bãi công làm cả nước tê liệt, cả Kania và Jaruzelski, lúc này đã là chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ba Lan, lại bị triệu tập đến Moscow. Một trăm năm mươi nghìn quân Nga và quân của Khối Warsawa được Liên Xô triển khai dọc biên giới Ba Lan. Cả Jaruzelski và Kania cùng bị người đứng đầu KGB, Andropov, và Bộ trưởng Quốc phòng Ustinov, đe doạ sẽ can thiệp quân sự nếu Ba Lan không chịu đàn áp biểu tình. Năm 1981, chỉ trong vòng chưa đầy ba tháng, hai nhân vật quyền lực nhất thế giới và ủng hộ Công đoàn Đoàn kết mạnh mẽ nhất bị ám sát: Tổng thống Reagan bị bắn vào ngày 23-2-1981, Đức Giáo hoàng bị bắn vào ngày 13-5-1981. Nhưng, cả hai đều sống sót nhờ viên đạn chỉ “đi chệch động mạch chủ vài milimet”. Ngày 18-10-1981, theo đề nghị “của Moscow và của tất cả các đảng cộng sản anh em”, Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan đã cách chức Kania, chỉ định Jaruzelski làm bí thư thứ nhất. Tối 4-11-1981, Jaruzelski, Walesa và Tổng Giám mục Ba Lan Glemp gặp nhau. Jaruzelski đề nghị lập “mặt trận hoà giải quốc gia” để chấm dứt những cuộc hỗn loạn ở trong nước. Đề nghị của Jaruzelski tuy chưa được Walesa tán thành nhưng vẫn làm cho Brezhnev tức giận. Ngày 21-11-1981, ông ta đã gửi cho Jaruzelski một bức thư năm trang, đòi có “một trận đánh quyết định chống lại kẻ thù giai cấp”. Trong tháng 11-1981, có 105 vụ đình công và 115 vụ đình công khác đang được dự định tiến hành. Ngày 10-12-1981, Bộ Chính trị Liên Xô họp khẩn cấp. Nửa đêm, ngày 12-12-1981, trong vòng hai giờ, hầu hết những người thuộc Uỷ ban Quốc gia vừa họp ở Gdánsk, “đòi bầu cử tự do và trưng cầu dân ý về sự tồn tại của cộng sản”, đã bị bắt; quân đội với xe tăng và bộ binh được điều vào các đường phố. Lệnh thiết quân luật vào ban đêm có hiệu lực vô thời hạn. Ngoại trừ số máy dành cho quân đội và lực lượng an ninh, tất cả điện thoại ở Ba Lan đều bị cắt. Jaruzelski lên truyền hình, tuyên bố: “Không một nơi nào được phép tụ tập đông người trừ nhà thờ”. Danh sách những người bị bắt giữ lên tới mười nghìn, tính tới tháng 3-1982. Walesa được đề nghị gặp Jaruzelski để thương lượng nhưng ông yêu cầu tất cả những người bị bắt phải được thả ra trước khi ông xem xét đàm phán với chính quyền. Cuộc tấn công diễn ra khi cả bộ trưởng Ngoại giao và bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đều không có mặt ở Washington. Ở Hà Nội, báo Nhân Dân bình luận: “Reagan và bọn tay chân của đế quốc Mỹ trên đất Ba Lan đã bị bất ngờ… Phần lớn bọn cầm đầu ở trung ương và địa phương bị các lực lượng quân đội và an ninh theo dõi chặt chẽ, khoá tay và tống vào trại giam”(107). Nhân Dân viết tiếp: “Bọn CIA và những tên trùm phản động cầm đầu Công đoàn Đoàn kết không ngờ rằng lực lượng cách mạng được huy động để trừng trị bọn chúng lại là quân đội nhân dân và các lực lượng an ninh nhân dân Ba Lan… Chúng nghĩ như đinh đóng cột rằng, lực lượng trừng trị chúng chỉ có thể đến từ một hướng duy nhất: Quân đội Liên Xô”(108). Ngày 7-6-1982, Reagan đến Vatican, nói chuyện không qua phiên dịch suốt năm mươi phút trong phòng Giáo hoàng. Tình hình Ba Lan không làm cho họ bi quan mà hai con người quyền lực nhất thế giới này còn tính đến khả năng Liên Xô sụp đổ. Lúc đó, Reagan bắt đầu chương trình chạy đua vũ trang, đặc biệt là “Star War”. Ông nói với John Paul II việc chạy theo chính sách hạt nhân của Mỹ sẽ làm cho Liên Xô kiệt quệ(109). Đức Giáo hoàng trở về quê hương lần thứ hai vào ngày 16-6-1983. Trước hai triệu người Ba Lan, Giáo hoàng đã ban phước cho hai linh mục đấu tranh chống lại người Nga trong cuộc nổi dậy thất bại của nhân dân Ba Lan vào năm 1863. Ngày hôm sau, John Paul II gặp Walesa. Ngay sau đó, lệnh thiết quân luật được bãi bỏ. Tháng 10-1983, Walesa được trao giải Nobel Hoà bình… Nhưng, sự thay đổi của Đông Âu còn chịu tác động rất nhiều bởi sự ra đi của “kỷ nguyên Brezhnev”. Leonid Brezhnep chết vào ngày 10-11-1982. Người kế nhiệm ông là Yuri Andropov. Khi Walesa nhận giải Nobel Hoà bình, Andropov đã tức giận viết thư trách cứ Jaruzelski. Nhưng, ông trùm KGB này cũng chết vào tháng 2-1984. Người thay thế là Konstantin Chernenko do ốm yếu nên chỉ nắm quyền được mười ba tháng. Tháng 3-1985, Chernenko chết, Mikhail Gorbachev trở thành Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 4-1985, khi tới Ba Lan tham dự một cuộc họp của Uỷ ban Tư vấn Chính trị Hiệp ước Warsawa, Gorbachev đã nán lại để nói chuyện với Jaruzelski. Trước cuộc gặp, Gorbachev nói ông chỉ có một giờ, nhưng cuộc nói chuyện đã kéo dài năm giờ. Hai nhà lãnh đạo đã thảo luận rất lâu về Giáo hoàng và Vatican. Jaruzelski nhận ra Gorbachev không phải là một người cộng sản Liên Xô như ông thường thấy. Cả hai phân tích “nguồn gốc của hệ thống và sự cần thiết thay đổi”. Từ một người nghi ngại Jaruzelski đi theo khuynh hướng đa nguyên, Gorbachev đã ngồi bàn với Jaruzelski về việc áp dụng chủ nghĩa đa nguyên cho cả Ba Lan và Liên Xô. Ngày 11-9-1986, Chính phủ Ba Lan tuyên bố ân xá và phóng thích 225 tù nhân từng được coi là những “phần tử nguy hiểm nhất cho quốc gia”. Trong số được phóng thích có Zbigniew Bujak, người có gần năm năm vừa trốn lệnh truy nã vừa lãnh đạo công đoàn bí mật. Lần đầu tiên kể từ tháng 12-1981, các lãnh tụ Công đoàn Đoàn kết có thể tự do gặp gỡ. Ngày 13-1-87, tại Vatican, tướng Jaruzelski đã trao tận tay Giáo hoàng bản báo cáo về cuộc nói chuyện mang “tư duy mới” giữa ông và Gorbachev. Jaruzelski có vẻ vững tâm hơn khi bàn với Giáo hoàng về tương lai của Ba Lan trên tinh thần hoà giải, một tương lai mà cả giáo hội và phe đối lập đều có vai trò. Tháng 4-1987, tại Praha, Gorbachev tuyên bố: “Mối quan hệ chính trị giữa các nước xã hội chủ nghĩa phải dựa trên một sự độc lập tuyệt đối. Mọi quốc gia được chọn lựa con đường phát triển riêng, được quyết định số phận và bảo vệ lãnh thổ cũng như các nguồn nhân công và tài nguyên thiên nhiên của nó”. Cho tới lúc đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam, kể cả Nguyễn Văn Linh, chưa có đủ sự nhạy cảm để nhận ra tuyên bố đó của Gorbachev có giá trị như pháo hiệu “giải phóng” Đông Âu(110). Cứu chủ nghĩa xã hội Ngày 15-8-1989, tại Sài Gòn, khi phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương Bảy, Nguyễn Văn Linh đã tự tin tuyên bố: “Chúng đang hý hửng về điều mà Tổng thống Mỹ Bu-sơ (G.W.H. Bush) ngày đêm trông đợi: ‘Chúng ta đang sống ở thời kỳ kết thúc một ý tưởng, sống ở chương cuối của thể nghiệm cộng sản’(111). Đó là giấc mơ giữa ban ngày của bọn đại biểu cho chủ nghĩa chống cộng khét tiếng, không đội trời chung với chúng ta”. Ngày 24-8-1989, khi ở Sài Gòn Hội nghị Trung ương Bảy về chống đa nguyên bế mạc, ở Ba Lan, Công đoàn Đoàn kết chính thức lên cầm quyền(112). Ông Linh không còn lòng dạ nào mà “hí hửng” và sau đó ông đã ứng xử rất “vội vàng”. Ngày 25-8-1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh triệu tập Bộ Chính trị họp khẩn cấp tại Cơ quan phía nam của Văn phòng Trung ương (T78 - đường Lý Chính Thắng, Sài Gòn), thành phần mở rộng có cả Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Trần Trọng Tân. Theo ông Tân, Bộ Chính trị nhận định, sự kiện Ba Lan là “đảo chính phản cách mạng”. Khi ấy Tổng Biên tập báo Nhân Dân Hà Đăng đi vắng nên ông Linh nói với ông Tân: “Cậu phải viết ngay một bài xã luận”. Ông Trần Trọng Tân ngồi ngay trong phòng họp Bộ Chính trị viết bài báo có tựa đề: “Sự kiện chính trị ở Ba Lan và thái độ của chúng ta”. Theo ông Tân, bản thảo bài báo được tất cả các uỷ viên Bộ Chính trị dự họp thông qua rất kỹ. Bài xã luận đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 26-8-1989 nhấn mạnh: “Những người cộng sản, giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân Việt Nam từ lâu đã có tình cảm gắn bó với những người cách mạng chân chính ở Ba Lan vô cùng căm phẫn và cực lực lên án hành động của những lực lượng phản động chống phá chủ nghĩa xã hội ở Ba Lan”(113). Cùng ngày, bài báo còn xuất hiện trên một số tờ báo Đảng địa phương. Theo ông Trần Trọng Tân, sau khi báo ra, ở Hà Nội, Bộ Chính trị - Ban Bí thư còn cho các đoàn thể cử người đến Đại sứ quán Ba Lan “thăm hỏi” với tinh thần là “tiếp sức cho họ”. Ông Tân nói: “Tưởng tay đại sứ thuộc phe cộng sản, ai lường hắn thuộc phe lật đổ. Tay đại sứ đã cự lại, và nói với đoàn của ta sự kiện ở Ba Lan không phải là lật đổ mà chính là sự lựa chọn của nhân dân Ba Lan”(114). Tình hình Liên Xô và Đông Âu trong năm 1989 thay đổi từng ngày, từng giờ. Ngày 9-6-1989, Đại hội Đại biểu Nhân dân Liên Xô bế mạc. Đây là cơ quan nghị viện nhân dân đầu tiên ở Liên xô được bầu cử công khai với năm ứng cử viên cho một ghế dân biểu. Ba mươi lăm bí thư vùng của Đảng đã không đắc cử trong cuộc bầu cử này. Khi Liên Xô khai mạc đại hội vào ngày 25-5-1989, nhiều đại biểu đã kêu gọi thành lập “nhóm đối lập” trong đại hội. Boris Yeltsin cũng bắt đầu xuất hiện ở đây như một chính trị gia khi ông đòi thúc đẩy nhanh quá trình cải tổ: xây dựng hiến pháp mới, ra luật về đảng,… Yeltsin bị 964 phiếu chống khi tranh cử vào Xô viết Tối cao Liên Xô, nhưng một giáo sư đại học đã nhường lại ghế của mình cho Yeltsin và điều này đã được đại hội chấp thuận. Tổng bí thư Gorbachev cũng đã phải “tranh cử” từ một cuộc bỏ phiếu có hai ứng cử viên để trở thành chủ tịch Xô viết Tối cao. Ông phát biểu trong phiên bế mạc: “Lần đầu tiên trong lịch sử Liên Xô, tại đại hội này đã có thảo luận công khai. Đại hội đã đưa Liên Xô lên một giai đoạn mới”. Một uỷ ban cũng đã được thành lập để sửa đổi hiến pháp theo hướng “xây dựng một nhà nước ngăn chặn sự xuất hiện trở lại ở Liên Xô tệ sùng bái cá nhân, chế độ độc đoán và quản lý xã hội bằng mệnh lệnh hành chính”. Ở Đức, từ cuối năm 1988 bắt đầu xuất hiện những cuộc biểu tình đòi cải cách kinh tế. Mùa hè năm 1989, áp lực đòi cải cách chính trị, đòi tự do ngôn luận, sửa đổi hiến pháp và đòi chính phủ từ chức qua các cuộc biểu tình càng dâng cao. Ngay sau khi Hungary từ bỏ thể chế cộng sản, mở cửa biên giới sang Áo, lập tức có mười nghìn người dân Đông Đức tràn vào đất nước này và biến nó thành nơi để trốn qua các nước phương Tây. Làn sóng trốn chạy khỏi các quốc gia cộng sản Đông Âu đã lên tới “một con số khổng lồ” vào mùa hè năm 1989. Erich Honecker, Tổng bí thư của Cộng hoà Dân chủ Đức phản đối việc mở cửa biên giới sang Hungary, nhưng tiếng nói của ông vào lúc ấy không còn được ai nghe nữa. Tháng 10-1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự lễ kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành lập Nước Cộng hoà Dân chủ Đức. Theo ông Lê Đăng Doanh: “Quyết địng đi dự 40 năm Quốc Khánh CHDC Đức là quyết định trực tiếp của cá nhân anh Linh. Anh Linh đã bàn với Bộ Chính trị về việc phải triệu tập một Hội nghị các Đảng Cộng Sản và Công nhân quốc tế để cứu phong trào cộng sản, chống chủ nghĩa cơ hội. Anh sang Berlin là để gặp các đồng chí để bàn về việc ấy và gặp Gorbachev. Trong một cuộc họp, anh Linh nhận xét: Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh này”. Ngày 4-10-1989, từ Hà Nội, hãng Interflug của Cộng hoà Dân chủ Đức dành cho ông Linh một ghế hạng thương gia, các thành viên cao cấp khác - Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, Trợ lý Tổng bí thư Lê Xuân Tùng, Phó Ban Đối ngoại Trịnh Ngọc Thái, Đại sứ Tạ Hữu Canh và thư ký Lê Đăng Doanh - chỉ ngồi khoang hành khách thường. Một lễ đón đơn giản được tổ chức tại sân bay Berlin-Schronefeld rồi sau đó đoàn về khách sạn. Năm giờ chiều ngày 6- 9-1989, cuộc mit-tin lớn bắt đầu, trên lễ đài: Honecker ngồi giữa, một bên là Gorbachev, một bên là một phó thủ tướng, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc - Honecker muốn thể hiện chính sách đề cao Trung Quốc làm đối trọng với Gorbachev; Ông Nguyễn Văn Linh được ngồi hàng đầu nhưng ghế thứ hai từ ngoài vào, bên cạnh ghế hàng đầu cuối cùng của Phó Thủ tướng Lào. Trong suốt chuyến thăm chính thức ấy, phía CHDC Đức không thu xếp cho ông Linh một buổi gặp chính thức nào với Honecker hay một nhà lãnh đạo khác. Thế nhưng, điều đó đã không làm ông Nguyễn Văn Linh từ bỏ ý đồ đóng vai trò trung tâm cứu nguy chủ nghĩa xã hội. Trong ngày 6-10-1989, giữa Berlin rét mướt, ông Nguyễn Văn Linh đã tìm gặp các nhà lãnh đạo cộng sản đến dự lễ quốc khánh để thảo luận về một sáng kiến mà ông đưa ra: triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Ông Linh nói: “Phe ta đang diễn biến phức tạp. Hơn bao giờ hết, đòi hỏi quốc tế vô sản phải siết chặt hàng ngũ. Đảng Cộng sản Việt Nam thấy nên có một hội nghị để thống nhất tư tưởng và hành động, tăng cường tình đoàn kết”. Đa số các đảng cộng sản làm ngơ đề nghị của ông Linh, chỉ có Batmunkho Tổng bí thư Mông Cổ, Phó Thủ tướng Hernandez của Cuba, Tổng bí thư Ceaucescu của Rumania, Tổng bí thư Đảng vừa thất cử của Ba Lan Jaruzelski, Chủ tịch Đảng Cộng Sản Tây Đức (DKP) Herbert Mies là chấp nhận gặp. Chỉ có Helbert Mies, lãnh tụ của một đảng không cầm quyền và Phó thủ tướng Cuba Hernandez là tự tới nơi ông Linh ở. Theo ông Lê Đăng Doanh, những người khác chỉ tiếp ông Nguyễn Văn Linh tại phòng riêng của họ. Đến nơi ở của các nhà lãnh đạo khác mới thấy cách đối xử của Erich Honecker với ông Nguyễn Văn Linh. Theo ông Lê Đăng Doanh: Trong khi ông Linh chỉ được xếp một phòng đôi lớn hơn phòng các thành viên khác trong đoàn một chút thì chỗ ở của Ceausesscu là một khu vực gồm nhiều phòng. Ông Linh và tuỳ tùng phải đi qua một sảnh lớn nơi có một đội cận vệ 12 người bồng tiểu liên AK báng gập đứng chào. Ceaucesscu đã để ông Linh phải ngồi chờ rất lâu. Ông Linh nói: “Mày liên hệ thế nào mà giờ không thấy nó”. Tôi bảo: “Tính thằng này nó hình thức thế”. Một lúc sau thì Ceausesscu ra, chính ông ta lại là người tỏ ra hăng hái ủng hộ sáng kiến của ông Nguyễn Văn Linh nhất. Ceausesscu thậm chí còn đòi để Rumani đăng cai. Tuy nhiên, cả Ceausesscu và các nhà lãnh đạo cộng sản khác đều nói với ông Linh: “Vấn đề là ông kia, nếu ông ấy không đồng ý thì rất khó”. “Ông kia” đề cập ở đây là Gorbachev. Trước khi ông Nguyễn Văn Linh rời Hà Nội, Ban Đối Ngoại đã liên lạc với phái viên Liên Xô và được Gorbachev đồng ý sẽ có cuộc gặp vào ngày 8-10-1989, hai bên đều mang theo phiên dịch Nga-Việt và Việt-Nga cho cuộc gặp. Hôm đó, ông Linh đang đau rất nặng. Từ 19 đến 21 giờ tối 6-10-1989, sau phần đọc diễn văn, cuộc mit-tin được chuyển từ trong một lâu đài ra một lễ đài ngoài trời duyệt quần chúng, thanh niên rước đuốc. Ông Lê Đăng Doanh kể: Đám thanh niên tuần hành sôi lên sùng sục kêu tên Gorbachev, “Gorby! Gorby!”. Anh Linh chỉ mặc bộ complet, tối nhiệt độ xuống khoảng 8 C, cận vệ quên mang áo lạnh, ông Nguyễn Văn Linh đứng run bần bật, kêu tôi: “Tao lạnh quá”. Tôi phải nói với một viên tướng Đức đứng cạnh đấy: “Tổng bí thư của tôi quên mang áo ấm”. Viên tướng cho mượn tạm tấm áo choàng của ông ta. Sáng hôm sau, 7-10-1989, theo lịch trình, mười giờ sẽ có duyệt binh, nhưng tám giờ, ông Nguyễn Văn Linh triệu tập họp Chi bộ Đảng thông báo tình hình sức khỏe: “Mình thấy có gì đó không bình thường, không nhắm được mắt, miệng cứng, không ăn được”. Về sau bác sỹ xác định đó là triệu chứng liệt dây thần kinh số 7. Mọi người đề nghị ông Linh không ra lễ đài, ông Nguyễn Khánh thay ông Linh dự duyệt binh rồi báo với “bạn”. Phía CHDC Đức mời ông Linh ở lại khám chữa bệnh và khuyên ông không nên về trong lúc này. Tuy bệnh tình càng ngày càng nặng, nước mắt chảy ra nhiều, miệng có biểu hiện bị méo và nói bắt đầu khó khăn, ông Nguyễn Văn Linh vẫn hy vọng rất nhiều vào cuộc gặp với Gorbachev. Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến mười một giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. Theo ông Lê Đăng Doanh: Trong khi đó, sáng ngủ dậy, bệnh ông Linh càng nặng thêm. Khi ăn cơm, ông kêu tôi ra ngoài vì không muốn tôi chứng kiến cảnh ông ăn rất chật vật. Hàm bên trái của ông Linh cứng lại. Ông phải nhai ở phía bên phải sau đó dùng hai ngón tay đẩy thức ăn vào họng, chiêu một ngụm nước mới nuốt được. Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một toà lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp Tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: “Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh”. Dù đang bệnh, ông Nguyễn Văn Linh vẫn trình bày rất nhiệt tình, nhưng theo ông Lê Đăng Doanh: Sáng kiến nào của ông Linh cũng được Gorbachev khen là “rất tốt” nhưng chỉ là những lời khen xã giao. Ông Linh nói: “Tôi đã gặp một số đảng cộng sản anh em. Trong tình hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn đồng chí đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế”. Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: “Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!”. Ông Linh trân trọng mời Gorbachev đến thăm Việt Nam. Gorbachev lại kêu lên: “Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước”. Cuối cùng, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đề cập đến truyền thống viện trợ của Liên xô và khi ông đề nghị Liên Xô tiếp tục giúp đỡ cho Kế hoạch 5 năm 1990-1995 của Việt Nam thì Gorbachev xua tay. Không còn xã giao, lịch sự như phần trên nữa, Gorbachev nói: “Khó khăn lắm, khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi”. Theo ông Lê Đăng Doanh: Thế nhưng, ngày hôm sau, báo Nhân Dân và Pravda đều đưa tin về cuộc gặp diễn ra trong “tình hữu nghị thắm thiết”. Tối 8-10-1989, từ lâu đài của Gorbachev trở về, ông Nguyễn Văn Linh không dự chiêu đãi của Honecker mà đi thẳng vào bệnh viện Chính phủ ở Berlin-Buch. Ông được điều trị tại “Station 7” - nơi dành riêng cho Bộ Chính trị của CHDC Đức - mỗi khu cho một bệnh nhân có nhiều phòng cạnh nhau cho tuỳ tùng đi theo cùng ở. Trong “Station 7” được trang bị truyền hình có thể bắt được các kênh phát đi từ Tây Đức. Thời gian đó, hàng trăm nghìn người dân Đông Đức đã đổ xuống đường phố Leipzig và Đông Berlin đòi phế truất Honecker. Sau lễ mừng Quốc khánh, Honecker cũng phải vào “Station 7”, nơi ông ta có một biệt thự riêng ở đó. Honecker cầu cứu Gorbachev nhưng cũng như với Nguyễn Văn Linh, Gorbachev lại lịch sự từ chối. Ông Lê Đăng Doanh kể: “Tôi dịch cho ông Linh những thông tin trên truyền hình: Cảnh sát và người biểu tình đụng độ nhau ở khắp nơi. Cộng hoà Dân chủ Đức nói đã có 160 cảnh sát bị thương”. Nhưng cảnh sát không thể ngăn chặn những cuộc biểu tình của người dân Đức. Ngày 18-10-1989, Eric Honecker từ chức, Egon Krenz, một uỷ viên Bộ Chính trị trẻ tuổi, thay ông giữ chức bí thư thứ nhất. Ông Lê Đăng Doanh kể: “Tình hình cũng không vì thế mà có cải thiện. Chúng tôi lo lắng, nhỡ có chuyện gì xảy ra khi đang còn ở đây thì nguy, trong túi thầy trò không hề có một đồng đô-la lận lưng nào cả. Tôi bảo bác sỹ có thuốc gì tốt thì cấp cho xếp tao để ông đủ sức khỏe bay về”. Vào lúc mười một giờ ngày 23-10-1989, trước khi rời Berlin, ông Nguyễn Văn Linh đã đến chúc mừng Egon Krenz vừa lên nhận cương vị mới. Cuộc gặp vừa để chúc mừng Egon Krenz, vừa để đưa tin công khai về sự vắng mặt dài ngày của ông Linh. Ông Linh là vị nguyên thủ duy nhất kịp bắt tay Krenz. Ngày 24-10-1989, toàn thể Bộ Chính trị và Đại sứ CHDC Đức ra tận cầu thang sân bay Gia Lâm đón Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Lễ đón rất trọng thị, mọi người thăm hỏi sức khỏe và khuyên ông Linh nghỉ một thời gian để chữa bệnh tiếp. Không chỉ có Erich Honecker và người kế nhiệm, ông Egon Krenz, theo Gorbachev thì chính phương Tây cũng có nhiều nỗ lực để ngăn chặn quá trình thống nhất nước Đức. Từ Thatcher (Anh), Mitterrand (Pháp) cho đến Andreotti (Ý) đều “muốn ngăn chặn người Đức thống nhất thành một quốc gia hùng mạnh trở lại và họ chờ đợi Liên Xô đưa xe tăng vào Đức cùng với quân lính của Gorbachev”. Nhưng, theo Gorbachev: “Sự sụp đổ của bức tường Berlin chỉ là hồi chót của một quá trình đã diễn ra từ rất lâu. Khi Liên Xô bắt đầu tiến hành một loạt thay đổi mang tính bước ngoặt, như tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên… Khi tiến trình giải trừ quân bị bắt đầu giữa Nga và Mỹ để chấm dứt Chiến tranh Lạnh”(115). Ngày 9-11-1989, biên giới giữa Đông và Tây Đức được mở ra. Ngày 10-11-1989, người dân bắt đầu phá bỏ bức tường Berlin. Vài tháng sau, chế độ cộng sản ở Đông Đức sụp đổ. Cũng trong ngày 10-11-1989, Todor Zhivkov cũng bị phế truất sau ba mươi năm trị vì ở Bulgaria. Tại Praha, người dân đổ ra đường yêu cầu Husak từ chức. Alexander Dubcek, người bị Liên Xô bắt giữ hồi “Mùa xuân 1968” bắt đầu xuất hiện cùng với đoàn người biểu tình. Một tháng sau đó Husak từ chức. Ngày 29-12-1989, Vaclav Havel, được bầu làm tổng thống đầu tiên của Tiệp khắc. Ở Rumani, chế độ của nhà độc tài Ceausescu đã phải sụp đổ trong một cuộc biểu tình đẫm máu. Lực lượng an ninh Rumani tấn công những người biểu tình trong khi quân đội ủng hộ dân chúng. Hàng trăm người dân bị giết chết. Chỉ hơn một tháng rưỡi sau khi tán đồng với Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tổ chức một hội nghị quốc tế cứu vãn phe xã hội chủ nghĩa, ngày 25-12-1989, Tổng bí thư Nicole Ceausescu và vợ ông đã bị những người biểu tình đem ra xử bắn. “Đa nguyên, đa đảng” Giữa năm 1987, Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ ra đời. Sáng lập Câu lạc bộ là những người cộng sản lão thành như Nguyễn Hộ, Đỗ Trung Hiếu, Trần Văn Giàu, Trần Nam Trung, Trần Bạch Đằng… Nhưng, ngay từ đầu Câu lạc bộ Kháng chiến cũ đã gây lo ngại cho chính quyền bởi những hoạt động như: “Hội thảo, mít tinh, kiến nghị, viết báo, ra báo nhằm các mục tiêu cụ thể chống tiêu cực, quan liêu, cửa quyền, ức hiếp trù dập quần chúng, tham nhũng, bè phái, bao che lẫn nhau vì đặc quyền, đặc lợi trong hàng ngũ cán bộ đảng và nhà nước”. Tháng 9-1988, Câu lạc bộ xuất bản tờ Truyền Thống Kháng Chiến nhưng sau khi ra được hai số thì bị đóng cửa. Những người chủ trương quyết định phát hành báo trong bí mật. Khi công an “tấn công và thu hồi các bản in ở Sài Gòn”, Nguyễn Hộ, Tạ Bá Tòng đưa tờ báo chạy xuống Mỹ Tho, vừa làm chế bản xong thì Ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ ra lệnh không cho nhà in in báo. Những người Kháng chiến cũ lại phải chạy xuống Cần Thơ. Nhưng hai mươi ngàn tờ báo vừa mới in ra thì có lệnh tịch thu. Ngay sau đó chính quyền đóng cửa vĩnh viễn Truyền Thống Kháng Chiến. Những người có vai vế như Trần Văn Trà, Trần Bạch Đằng rút lui khỏi Câu lạc bộ. Ông Nguyễn Văn Linh lo sợ tất cả các hoạt động dưới hình thức tổ chức cho dù tổ chức đó do ai lập ra. Tháng 10-1988, hai đảng Dân chủ và Xã hội bị ông Nguyễn Văn Linh giải tán bằng cách yêu cầu hai đảng này tự tuyên bố “kết thúc hoạt động”. Cho dù, ông Linh biết rõ: “Tuy mang danh hiệu là Đảng Xã hội (và Dân chủ) Việt Nam, nhưng đa số các đảng viên (của hai đảng này) đều có mục đích và tôn chỉ hoạt động giống như những người cộng sản”(116). Trên thực tế cả hai đảng đều được lập ra theo chỉ thị của Hồ Chí Minh nhưng “máu mủ” không phải là điều mà ông Nguyễn Văn Linh tin là có thể đem ra đảm bảo(117). Lễ tuyên bố kết thúc hoạt động của các đảng Dân chủ và Xã hội được “tổ chức trọng thể” vào ngày 15-10-1988 tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Diễn văn “Tổng kết 42 năm hoạt động” của đảng Dân chủ được Tổng thư ký Nguyễn Xiển đọc thừa nhận: “Đến thời kỳ này, hầu hết đảng viên Đảng Xã hội Việt Nam đã tuổi cao, sức yếu”. Cho dù ông Nguyễn Xiển khẳng định “một lòng trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa”, khi đọc diễn văn đáp lại, ông Nguyễn Văn Linh vẫn cho rằng: “Các đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình”. Sau tuyên bố này của Tổng bí thư, tên tuổi hai đảng không bao giờ còn được nhắc tới nữa(118). Giải quyết xong tình trạng “đa đảng”, ông Nguyễn Văn Linh bắt tay xử lý vấn đề “đa nguyên”. Các cuộc đụng độ trên mặt trận này bao gồm cả con người chứ không chỉ đơn thuần lý luận. Cho tới lúc đó, “đa nguyên” chưa xuất hiện trên báo chí như là một vấn đề mang tính chính trị. Tháng 10-1988, nhân có cuộc hội thảo diễn ra tại Hà Nội của các nhà khoa học xã hội đến từ các nước xã hội chủ nghĩa, ông Trần Xuân Bách, với tư cách là uỷ viên Bộ Chính trị phụ trách Khoa-Giáo, đã tới dự và phát biểu khai mạc. Bài phát biểu của ông Trần Xuân Bách bắt đầu chạm tới những vấn đề cốt lõi của lý luận và rồi sẽ bị coi như là những “lệch lạc” bước đầu. Ông Trần Xuân Bách cho rằng chủ nghĩa xã hội mà Karl Marx dự báo “có những điểm không hoàn toàn khớp với hiện thực bảy mươi năm qua”(118), trong khi: “Chủ nghĩa tư bản chứa đựng những mầm mống và tiền đề vật chất-kỹ thuật cho xã hội mới”(120). Ông Bách cho rằng: “Mô hình chủ nghĩa xã hội sẽ giảm tính thuyết phục, sức hấp dẫn, nếu năng suất lao động thấp hơn chủ nghĩa tư bản, nếu mọi công dân không thực sự có quyền tự do dân chủ. Những biểu hiện dân chủ hình thức chỉ làm nảy sinh sự thờ ơ, bàng quan, làm giảm lòng tin”(121). Ông Bách kêu gọi: “Các nhà khoa học xã hội Việt Nam cũng cần sử dụng đúng đắn quyền dân chủ và tự do sáng tạo của mình để nghiên cứu sâu sắc hơn, đề xuất với Đảng những ý kiến mới và cụ thể hơn liên quan đến thời kỳ quá độ… Khoa học xã hội có nhiệm vụ làm cho mọi người ý thức đầy đủ quyền tự do dân chủ của họ, giúp họ thực hiện quyền đó”(122). Theo ông Trần Trọng Tân, trong ngày báo Nhân Dân công bố phát biểu trên đây, khi gặp nhau ở Văn phòng Trung ương Đảng, ông Tân đã nói với ông Trần Xuân Bách: “Anh nói thế là sai”. Ông Bách chưa kịp trả lời thì Đào Duy Tùng, uỷ viên Thường trực Bộ Chính trị tới. Trần Xuân Bách nhắc lại lời của ông Tân rồi nói: “Tôi phát biểu thế mà Hai Tân bảo sai?”. Đào Duy Tùng trả lời: “Anh nói đại sai”. Tháng 3-1989, tại Hội nghị Trung ương 6, vấn đề “đa nguyên” bắt đầu được đưa ra. Tuy Nghị quyết chỉ nêu ngắn gọn: “Không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên”. Nhưng, trong bài phát biểu bế mạc, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh: “Hội nghị Trung ương lần này đã tỏ rõ sự nhất trí rất cao không chấp nhận tự do hoá tư sản, ‘chủ nghĩa đa nguyên’, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm phủ nhận chủ nghĩa Marx-Lenin, chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng. Không thể không thấy đó là âm mưu chính trị phản động của kẻ thù giai cấp và dân tộc. Chúng ta quyết không mắc mưu xảo quyệt của bọn đế quốc và các loại phản động”(123). Không lâu sau đó, Trần Trọng Tân viết bài nói rõ hơn quan điểm của Trung ương “Về chủ nghĩa đa nguyên”. Sau khi dẫn gốc tiếng Anh (pluralism), tiếng Pháp (pluralisma) và ý nghĩa triết học của từ “đa nguyên”, Trần Trọng Tân viết: “Nếu hiểu đa nguyên theo nghĩa triết học thì từ lâu đã bị phê phán là sai lầm. Chúng ta không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên về triết học và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 vừa qua không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên không phải trong bối cảnh tranh luận về triết học… Chủ nghĩa đa nguyên mà chúng ta không chấp nhận là chủ nghĩa đa nguyên mà cốt lõi của nó là đòi sự tồn tại của đảng chống đối, của những tổ chức chính trị chống đối, bắt đầu từ việc đả kích tiến đến làm vô hiệu hoá sự lãnh đạo của đảng, lái phong trào đi chệch mục tiêu xã hội chủ nghĩa, đề xướng một kiểu dân chủ không cần tập trung, dẫn tình hình xã hội đến chỗ hỗn loạn vô chính phủ”(124). Mùa hè năm 1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trả lời phỏng vấn báo Trud (Lao Động) của Liên Xô. Khi phóng viên thường trú của báo này tại Đông Nam Á, Kalashnikov hỏi: “Đồng chí có cho rằng việc phản ánh trên báo chí toàn bộ sự đa nguyên của các ý kiến là điều có thể có không?”. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trả lời: “Dân chủ cần phải tồn tại trong khuôn khổ tập trung và phải bảo đảm vai trò lãnh đạo của đảng Marxist-Leninist, cần phải kiên quyết tránh để xuất hiện trên báo chí các phát biểu vô chính phủ, xa lạ với chủ nghĩa xã hội”(125). Không giới hạn những tuyên bố của mình trong phạm vi Việt Nam, ông Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh: “Chúng tôi không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên như là sự đa dạng của các trào lưu chính trị khác nhau, kể cả trào lưu tư sản. Chúng tôi phản đối chế độ đa đảng, phản đối sự tồn tại của các đảng phản động, chống chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi bác bỏ những lời kêu gọi đòi hỏi sự tồn tại tự do của các trào lưu chính trị khác nhau đã xuất hiện ở một số nước. Sự đa dạng đó trên thực tế sẽ đưa đất nước chúng tôi khỏi con đường xã hội chủ nghĩa và rời bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin… Chúng tôi chăm chú theo dõi để những hiện tượng như vậy không xuất hiện ở Việt Nam. Chúng tôi cần phải đề cao cảnh giác trước những âm mưu đen tối của một số nước đế quốc đang tìm mọi cách để gây tình hình bất ổn trong sinh hoạt nội bộ của các nước xã hội chủ nghĩa”(126). Theo ông Hữu Thọ, khi ấy là phó tổng biên tập báo Nhân Dân: “Ông Linh yêu cầu người phỏng vấn phải đăng nguyên văn chứ không được cắt. Báo Trud đã phải cân nhắc khá lâu trước khi đăng”. Ông Hữu Thọ kể: “Sau khi báo Lao Động đăng lại bài phỏng vấn này, ông Trần Xuân Bách phê bình ông Linh là vi phạm nguyên tắc Đảng và nguyên tắc đối ngoại khi công khai đưa ra quan điểm trái với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Cho tới lúc ấy, Trung ương vẫn chưa chính thức có nghị quyết chống đa nguyên, đa đảng”. Ngày 14-8-1989, trên báo Sài Gòn Giải Phóng Trần Bạch Đằng sử dụng nguyên một trang khổ lớn để bàn về đa nguyên “dưới góc độ triết học, kinh tế học và xã hội học”. Ông Đằng nhập đề khá mở: “Về chính trị, xã hội, kinh tế, đa nguyên luôn chủ trương tính đa dạng, sự khác nhau trong quan điểm, trong xu hướng. Với một nghĩa hẹp hơn, thuyết đa nguyên của một số học giả cộng sản chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội không theo một mô hình định sẵn”. Nhưng rồi ông kết luận: “Là những người theo chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Marx-Lenin, các đảng viên cộng sản Việt Nam xác định quan điểm triết học của mình và kiên trì bảo vệ nó. Coi nó là thế giới quan, nhân sinh quan khoa học đứng vững qua thử thách 1,5 thế kỷ. Nói một cách khác về triết học, chúng ta không chấp nhận thuyết đa nguyên”. Về “đa đảng”, ông Trần Bạch Đằng viết: “Đừng coi đa đảng như một thứ thời trang khi không có nhu cầu khách quan đó. Cái then chốt của chúng ta là dân chủ. Xã hội và quần chúng đã có trong tay rất nhiều công cụ để thực hiện dân chủ như quốc hội, hội đồng nhân dân, đoàn thể rồi”. Ông Trần Bạch Đằng đặt câu hỏi: “Phải chăng đổi mới là phải xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và Đảng Cộng sản Việt Nam, phải có các sự kiện như Công đoàn Đoàn kết, như khôi phục Imre Nagy, như va chạm sắc tộc ở Grudia, như đổ máu ở Thiên An Môn?”. Rồi ông trả lời: “Không! Vẫn có con đường đổi mới đích thực mà không ồn ào như vậy”. Như để trả lời từng luận điểm của ông Trần Bạch Đằng, ngày 15-8-1989, Tổng Biên tập Tô Hoà cho đăng trên Sài Gòn Giải Phóng bài viết về “Dân Chủ” của Giáo sư Phan Đình Diệu. Giáo sư Diệu định nghĩa: “Dân chủ là quyền tham gia vào việc tổ chức và quản lý xã hội, thể hiện ở quyền tự do ứng cử và bầu cử, quyền tự do ngôn luận và các quyền tự do khác”. Giáo sư Phan Đình Diệu cho rằng: “Thực tiễn cuộc sống ở đất nước ta cũng như thế giới đang đặt ra những vấn đề to lớn mà không thể tìm ra lời giải đáp hoàn toàn ở bất kỳ một học thuyết nào… Những gì xảy ra trong thế kỷ hai mươi là điều không thể hình dung đối với những bộ óc, dù là vĩ đại, của giữa thế kỷ mười chín”. Tuy không sử dụng khái niệm đa nguyên, nhưng Giáo sư Phan Đình Diệu vẫn nêu đầy đủ “nội hàm” của nó: “Ta đang đi tìm đường đi cho đất nước trong thế giới hiện đại. Nhiều nguồn tri thức phải được tiếp thu, nhiều cách lý giải phải được đề xuất và thảo luận. Cái gì đã rõ thì ta cũng theo, cái gì chưa rõ thì ta cần cùng nhau tìm cách làm rõ bằng việc vận dụng trí tuệ của thời đại”. Sau khi đọc bài của Giáo sư Phan Đình Diệu, từ Hà Nội, Bí thư Trần Xuân Bách gửi cho Tô Hoà một tấm danh thiếp của ông, mặt sau danh thiếp ghi: “Chuyển giùm anh Phan Đình Diệu, tôi ca ngợi bài này”. Đây là bài báo cuối cùng mà Tô Hoà cho đăng với tư cách tổng biên tập Sài Gòn Giải Phóng. Ngày 12-8-1989, ông được Bí thư Thành uỷ Võ Trần Chí mời lên hỏi: “Trước anh có viết thư xin nghỉ, giờ anh có giữ ý kiến không?”. Tô Hoà trả lời: “Tôi vẫn giữ”. Võ Trần Chí: “Vậy khi nào anh nghỉ được?”. Tô Hoà: “Ngay hôm nay”. Theo ông Tô Hoà, sở dĩ ông đồng ý nghỉ ngay là vì, nguồn tin của ông từ Hà Nội cho hay, ông Nguyễn Văn Linh “muốn Tô Hoà rời Sài Gòn Giải Phóng trước khi Hội nghị Trung ương 7, bàn về chống đa nguyên, khai mạc tại Sài Gòn vào ngày 15-8-1989”. Trở về toà soạn, Tô Hoà lặng lẽ viết một lá thư chia tay đăng trên số báo ra ngày 13-8, tự quyết định là sẽ bàn giao chức tổng biên tập vào ngày 15-8-1989 để có thời gian công bố hai bài viết của Trần Bạch Đằng và Phan Đình Diệu mà ông đã có trong tay trước đó. Từ ngày 15 đến ngày 24-8-1989, Trung ương Đảng khoá VI kỳ họp thứ 7 ở Sài Gòn bàn “một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng”. Phát biểu trong phiên bế mạc, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cho rằng, hội nghị đã được nhóm họp với “sự nhạy cảm sâu sắc về chính trị”. Tình hình trong nước và trên thế giới lúc ấy được Trung ương đánh giá là “diễn biến phức tạp” và “trong một số ít cán bộ đảng viên đã xuất hiện một số tư tưởng lệch lạc, sai lầm, nếu không sớm ngăn chặn và khắc phục có thể dẫn tới những tác hại không nhỏ”. Ông Nguyễn Văn Linh cho biết: “Hội nghị Trung ương lần này đã tỏ rõ sự nhất trí rất cao không chấp nhận tự do hoá tư sản, chủ nghĩa đa nguyên, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm phủ nhận chủ nghĩa Marx-Lenin, chủ nghĩa xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng. Không thể không thấy đó là âm mưu chính trị phản động của kẻ thù giai cấp và dân tộc. Chúng ta quyết không mắc mưu xảo quyệt của bọn đế quốc và các loại phản động”. Bài phát biểu của ông Nguyễn Văn Linh được đăng công khai, ít ai hiểu, những lập luận sắt đá đó còn là để đáp trả một phát biểu của uỷ viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách chủ trương: “Kinh tế thị trường và đa nguyên chính trị”. Cách chức Trần Xuân Bách Ông Bách sinh năm 1926, cùng quê với ông Lê Đức Thọ. Cuối năm 1977, khi Lê Đức Thọ được Lê Duẩn giao phụ trách “công tác đặc biệt” - tên gọi của một kế hoạch bí mật chuẩn bị cho cuộc tiến đánh Pol Pot trên đất Campuchia - Trần Xuân Bách được tham gia với vai trò phụ tá. Cuối năm 1978, ông Bách được cử làm phó chính uỷ của chiến dịch. Ông Trần Xuân Bách ở lại Phnom Penh cho tới năm 1982 với chức danh chính thức là “Trưởng Đoàn B68”, chuyên gia giúp Đảng và Nhà nước Campuchia. Năm 1982, ông Trần Xuân Bách được bầu vào Ban Bí thư kiêm giữ chức chánh Văn phòng Trung ương Đảng. Tại Đại hội Đảng lần thứ VI, ông được bầu vào Bộ Chính trị. Vợ ông, bà Trần Thị Đức Thịnh cho biết: “Trước Đại hội VI (1986), lấy phiếu thăm dò Tổng bí thư, anh Bách hơn phiếu Phạm Hùng và chỉ kém Nguyễn Văn Linh hai phiếu”. Theo ông Nguyễn Đình Hương, phó Ban Tổ chức Trung ương khoá VI: “Khi ông Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ chọn Nguyễn Văn Linh làm Tổng bí thư, ông Trần Xuân Bách phản đối. Ông Bách cho rằng Nguyễn Văn Linh chẳng có trình độ gì, khi ông Linh làm Tổng bí thư rồi, ông Bách vẫn coi thường ra mặt”(127). Cố vấn kinh tế của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh nói: “Trần Xuân Bách được Lê Đức Thọ rỉ tai: Nguyễn Văn Linh là nhân vật quá độ. Ông Linh chỉ làm nửa khoá rồi đưa ông Bách lên”. Trong Trung ương lúc bấy giờ bắt đầu có tin Bí thư Trần Xuân Bách ngầm xung đột với Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh(128). Khi đề cập đến vấn đề “đa nguyên” trong Hội nghị Trung ương 6, tháng 3-1986, và sau đó đưa ra Hội nghị Trung ương 7, tháng 8-1989, như một nội dung chính của kỳ họp, không những ông Nguyễn Văn Linh có thể làm suy yếu Trần Xuân Bách mà còn có thể tập hợp được sự ủng hộ của một nhà lý luận miền Bắc: Uỷ viên Thường trực Bộ Chính trị Đào Duy Tùng. Tất nhiên, “chống đa nguyên” còn phản ánh quan điểm của ông Nguyễn Văn Linh trước những gì diễn ra trong phe xã hội chủ nghĩa ở thời điểm ấy. Những diễn tiến quốc tế ấy giải thích thêm vì sao sau Hội nghị Trung ương 7 (8-1989) một nhà chính trị kinh nghiệm như ông Trần Xuân Bách vẫn tiếp tục trình bày công khai quan điểm của ông về đa nguyên. Theo ông Lê Đăng Doanh: “Những lời rỉ tai của Lê Đức Thọ và sức khỏe của ông Nguyễn Văn Linh có lẽ là một nguyên nhân khiến ông Trần Xuân Bách nghĩ rằng thời cơ đã đến để Việt Nam có thể đi theo xu thế chung của thời đại”. Trong năm 1989, ông Nguyễn Văn Linh đã từng phải đi Liên Xô làm phẫu thuật cắt một đoạn ruột. Ngày 23-10-1989, khi từ Berlin trở về, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh được đón tiếp rất trọng thể. Toàn bộ các uỷ viên trong Bộ Chính trị đã ra sân bay đón ông. Nhưng, ngay sau khi xuống sân bay, ông Linh đã phải vào bệnh viện. Theo ông Lê Đăng Doanh: “Ông Trần Xuân Bách càng đẩy nhanh các hoạt động của mình”. Ông Lê Đăng Doanh cho rằng, Văn phòng Trung ương cho tới sau này vẫn in dấu ấn của Trần Xuân Bách, người thiết lập một mô hình và cung cách làm việc khá là khoa học kể từ khi nhậm chức chánh văn phòng. Sau Đại hội V, theo ông Lê Đăng Doanh: “Thường Lê Đức Thọ không dự họp Bộ Chính trị. Họp xong, ông Bách đi báo cáo cho ông Thọ và ông Thọ thường cho những ý kiến khác khiến ông Bách phải tìm cách lèo lái”. Năm 1989, với tư cách là người phụ trách công tác lý luận của Đảng, ông Trần Xuân Bách chính thức hình thành một nhóm nghiên cứu gồm năm người: Lê Hồng Tâm, nhà kinh tế, Vũ Cao Đàm, viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Bùi Thế Vĩnh, viện trưởng Viện Hành chính học, Học viện Hành chính Quốc gia, Nguyễn Mạnh Tôn, chuyên viên Ngân hàng Ngoại thương và Nguyễn Thanh Sơn, chuyên viên Ban Công nghiệp Trung ương. Theo ông Vũ Cao Đàm: “Anh Bách giao cho mỗi người chúng tôi phụ trách một chuyên đề: Lê Hồng Tâm nghiên cứu về chính sách kinh tế để phục hưng đất nước. Bùi Thế Vĩnh nghiên cứu biện pháp giải phóng lực lượng sản xuất. Vũ Cao Đàm nghiên cứu hệ thống chính trị trong tiến trình cải cách kinh tế. Nguyễn Thanh Sơn nghiên cứu chính sách phát triển nhân lực. Nguyễn Mạnh Tôn nghiên cứu biện pháp chống lạm phát”(129). Ông Vũ Cao Đàm nói: “Trước khi khai mạc Hội nghị Trung ương 7, anh Trần Xuân Bách chuẩn bị bài phát biểu, trong đó đề cập hai nội dung về kinh tế thị trường và đa nguyên chính trị. Anh đưa bài phát biểu cho nhóm chúng tôi thảo luận để đóng góp ý kiến. Khi đó, tôi có nêu câu hỏi: ‘Anh cân nhắc thêm, xem phát biểu bây giờ liệu có quá sớm không?’. Anh Bách đã trả lời ý là không quá sớm và cũng không quá muộn”. Bà Trần Thị Đức Thịnh kể, ông tỏ ra rất quyết tâm. Khi bà Thịnh khuyên: “Anh ơi, chưa đúng lúc, anh đưa ra bây giờ không ai ủng hộ đâu”. Ông suy nghĩ một lúc rồi nhỏ nhẹ nói với vợ: “Hay để anh lo nhà cửa cho ba mẹ con em rồi chúng ta li dị để ba mẹ con em không phải liên luỵ nhé!”. Họ đã không li dị cho dù sau đó ông Trần Xuân Bách vẫn phát biểu về “đa nguyên” trước Trung ương. Theo ông Vũ Cao Đàm, ông Trần Xuân Bách có hai lần đưa quan điểm của mình thảo luận trong khuôn khổ những diễn đàn rộng hơn: một lần với các nhà khoa học tại phòng họp của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ở số 53 Nguyễn Du, Hà Nội; một lần cũng với các nhà khoa học tại phòng họp của Ban Khoa giáo Trung ương Đảng ở số 10 Nguyễn Cảnh Chân. Còn một cuộc nói chuyện công khai nữa của ông Bách ở Ký túc xá Ngô Gia Tự, Sài Gòn, thì ngay cả những người giúp việc cũng không biết đến. Theo ông Kiều Xuân Long, vụ phó Vụ Công tác phía Nam của Ban Khoa giáo Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh, người đưa ông Trần Xuân Bách xuống Ký túc xá Ngô Gia Tự: “Chuyến đi của ông Trần Xuân Bách làm cho Thành uỷ và nhiều người không thích. Về sau ông Bách bị quy kết là đã thực hiện mục đích lôi kéo sinh viên”. Trong số các sinh viên dự nghe ông Trần Xuân Bách có Nguyễn Sơn Thuỷ Hùng, người bị bắt trong vụ Công viên Kỳ Hoà mùa hè năm 1989. Sau khi được tạm tha, Hùng cùng ba sinh viên khác bị “cấm đi khỏi nơi cư trú”, bởi vậy, suốt mùa hè năm 1989, anh phải ở lại ký túc xá Ngô Gia Tự tuy đã hoàn thành năm học cuối cùng. Nguyễn Sơn Thuỷ Hùng kể: Vào một ngày mưa lâm râm giữa tháng 9-1989, cô Mai Vinh, trưởng Ban Quản lý Ký túc xá mời các sinh viên đến hội trường “nghe lãnh đạo nói chuyện”. Từ khi được báo cho đến khi ông đến chỉ trong vòng 15 phút, khoảng 200 sinh viên trong ký túc xá ngồi nghe ông Bách nói chuyện suốt gần ba giờ. Theo ông Kiều Xuân Long, ông Trần Xuân Bách rất ấn tượng khi thấy không có sinh viên nào nói đến cơm áo gạo tiền cho dù lúc đó các em rất thiếu thốn. Sinh viên đặt những câu hỏi, nêu những vấn đề ở tầm quốc tế, quốc gia, cho thấy các em rất quan tâm tới chính trị và tình hình đất nước. Bằng một phong thái nhẹ nhàng, ông Trần Xuân Bách phân tích tình hình Liên Xô và Đông Âu với sinh viên. Ông nói: “Xu hướng thời đại giờ đây là phải chống độc đoán. Xã hội muốn phát triển thì phải có đấu tranh giữa các mặt đối lập. Muốn có đấu tranh, phải phát huy dân chủ, muốn dân chủ thì phải tôn trọng nhân quyền. Mô hình các nước xã hội chủ nghĩa thực chất là đã không tuân thủ các nguyên tắc này. Hôm nay, chú chỉ nói với các cháu xu hướng của thời đại, của thế giới. Các cháu lớn rồi, tự các cháu suy nghĩ và quyết định”. Cũng như khi nói chuyện ở Ký túc xá Ngô Gia Tự, trong cuộc nói chuyện ở 53 Nguyễn Du, ông Trần Xuân Bách không hề sử dụng trực tiếp từ “đa nguyên”. Dù rằng ông đã khéo léo để trình bày khá đầy đủ quan điểm của ông: “cải cách kinh tế phải đi đối với cải cách chính trị”(130). Ông Trần Xuân Bách nhắc lại điều mà ông nói trước cuộc hội thảo của các nhà xã hội học tháng 10-1988 rằng, “chủ nghĩa tư bản hiện đại, có nhiều cái khác với thời Mác”. Ông nói, phải có tư duy khoa học chứ “tụng từng câu Kinh Thánh trong sách Mác không bảo vệ được chủ nghĩa Mác đâu”(131). Cuộc nói chuyện ở 53 Nguyễn Du vào ngày 13-12-1989 được coi như “giọt nước tràn ly”. Phát biểu của ông Trần Xuân Bách được Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ lược ghi, quay ronéo và phổ biến. Bài viết định đăng trên tờ báo Khoa Học & Tổ Quốc của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật, số ra ngay sau đó nhưng không thành. Tới số 3-1990, Khoa Học & Tổ Quốc mới cho đăng một tin ngắn về sự kiện Trần Xuân Bách nói chuyện tại 53 Nguyễn Du, đồng thời trên hai số liên tiếp, 3 và 4-1990, Khoa Học & Tổ Quốc cho đăng hai bài viết, một của ông Đỗ Đức Dục, cựu tổng thư ký Đảng Dân chủ và ông Đặng Kim Giang, ký tên là Lương Dân, nói về “đa nguyên, đa đảng”. Tổng thư ký toà soạn tờ Khoa Học & Tổ Quốc lúc đó, ông Phạm Quế Dương, kể: “Đoạn cuối trong bài của ông Đỗ Đức Dục kêu gọi ‘đa nguyên, đa đảng’, tôi định cắt nhưng ông Trần Văn Giàu khi đó là chủ tịch danh dự của Liên hiệp hội đọc và không cho tôi cắt. Báo vừa ra thì bị tịch thu và công an khởi tố vụ án”. Đầu năm 1990, sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Đông Âu, các tổ chức “người Việt chống Cộng” ở nước ngoài, kể cả các tổ chức trước đó chủ trương vũ trang lật đổ, cũng bắt đầu ra nhiều tuyên ngôn, tuyên cáo, kêu gọi “chuyển lửa về quê hương”. Đặc biệt là bức tâm thư của nhóm các “trí thức thiên tả” ở nước ngoài, những người một thời đã đứng về phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Theo ông Nguyễn Ngọc Giao, một trí thức Việt kiều tại Pháp đã từng phiên dịch cho Lê Đức Thọ thời kỳ Hội đàm Paris: “Ngay trong nội bộ phong trào Việt kiều ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cũng đã có ít nhất bốn bản tâm thư kêu gọi dân chủ hoá đời sống chính trị Việt Nam, song bản tâm thư mà chúng tôi công bố có tiếng vang hơn cả, có lẽ vì nó tập hợp rộng rãi những thành viên tiêu biểu ở các nước, nội dung thể hiện một lập trường chân thành và trách nhiệm, kiên quyết mà ôn hoà”(132). Ngày 22-1-1990, nhóm Nguyễn Ngọc Giao gửi về Việt Nam bản Tâm thư kêu gọi cải cách với mức khởi đầu có ba mươi người ký, gồm: Vĩnh Anh (Canada), Lê Văn Cát (Tây Đức), Huỳnh Trí Chánh (Nhật), Nguyễn Văn Chuyển (Nhật), Lê Văn Cường (Pháp), Nguyễn Ngọc Giao (Pháp), Lê Thành Khôi (Pháp), Lâm Thành Mỹ (Pháp), Bùi Văn Nam Sơn (Tây Đức), Phạm Ngọc Thuần (Pháp), Trương Phước Trường (Úc)…(133). Đầu năm 1990, bệnh tình của Lê Đức Thọ bắt đầu chuyển nặng trong khi sức khỏe của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã được cải thiện nhiều. Theo ông Lê Đăng Doanh: “Ông Nguyễn Văn Linh bắt đầu ra tay. Ông Đỗ Mười ủng hộ. Để có thể bàn việc kỷ luật Trần Xuân Bách mà không có Trần Xuân Bách, thay vì Bộ Chính trị họp chính thức, ông Linh có sáng kiến để cho Phạm Văn Đồng, lúc này là cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, mời các uỷ viên Bộ Chính trị tới nhà ông họp. Cuộc họp đầu tiên của Bộ Chính trị để phê phán Trần Xuân Bách bắt đầu vào ngày 2-2-1990 tại nhà riêng Phạm Văn Đồng”. Tại Hội nghị Trung ương 8, khoá VI, họp trong Nhà Rùa, nằm cạnh khu Biệt thự Tây Hồ, kéo dài từ ngày 12 đến 27-3-1990, Trần Xuân Bách bị phê phán nặng nề suốt gần một tuần và theo ông Lê Đăng Doanh, người có mặt tại Nhà Rùa trong suốt mười lăm ngày hội nghị: “Trong hai lần phát biểu ý kiến vào ngày 17 và 27-3-1990, ông Bách đã đơn thương, độc mã phê bình Nguyễn Văn Linh gay gắt”. Phía những người muốn loại trừ ông Bách cũng có những cân nhắc, theo ông Trần Trọng Tân: “Tôi có nói với Võ Chí Công là kỷ luật Trần Xuân Bách phải nên tính toán thế nào để tránh bị bên ngoài lợi dụng. Võ Chí Công nói Bộ Chính trị đã có tính toán. Lúc đầu Uỷ ban Kiểm tra cũng dự kiến chỉ khiển trách trong Trung ương. Nhưng, Trần Xuân Bách cương quá lại còn nói như dạy cho các uỷ viên khác về đa nguyên nên nhiều người tức”. Ngày Chủ nhật 25-3-1990, Bộ Chính trị lại họp tại nhà Phạm Văn Đồng. Cố vấn Phạm Văn Đồng được Bộ Chính trị nhờ làm trung gian thương lượng với Trần Xuân Bách. Ngày 27-3-1990, vào lúc 6 giờ 30 sáng, Phạm Văn Đồng gọi Trần Xuân Bách sang gặp, nói: “Nếu hôm nay anh nhận lỗi thì sẽ giữ anh lại trong Trung ương. Nếu không nhận lỗi thì anh chỉ còn là đảng viên thường thôi”. Trần Xuân Bách đứng lên: “Tôi có lỗi gì đâu”. Phạm Văn Đồng khuyên: “Có lúc cũng phải mềm dẻo để tồn tại, khi gặp thời thế lại đứng lên”. Nhưng, Trần Xuân Bách nói: “Tôi có lỗi thì mới nhận được, không có lỗi mà nhận sẽ tạo ra một tiền lệ xấu cho những đồng chí khác”. Rồi Trần Xuân Bách đi về nhà, chọn bộ đồ sang trọng nhất: sơ mi trắng, vét đen mặc vào, đàng hoàng đi ra Nhà Rùa. Hôm ấy Trung ương biểu quyết, kỷ luật cách hết mọi chức vụ của ông. Vợ ông, bà Trần Thị Đức Thịnh được tin chồng mình bị kỷ luật vào tối 28-3-1990, qua Đài Tiếng nói Việt Nam khi đang công tác ở Quảng Ninh. Phần cuối “Thông báo của Ban Chấp hành Trung ương” được đọc trên Đài và đăng trên các báo vào sáng hôm sau viết: “Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương (Khoá VI) đã quyết định cách chức uỷ viên Bộ Chính trị, bí thư Trung ương, uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đối với đồng chí Trần Xuân Bách, vì đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và kỷ luật của Đảng, gây ra nhiều hậu quả xấu”. Bà Thịnh kể: Tối hôm đó về tới nhà, anh kêu tôi ngồi xuống: “Em bình tĩnh, để anh nói em nghe”. Tôi bảo: “Trên ô tô em đã nghe Đài nói rồi. Anh đã không đội ghế lên đầu, từ bỏ những điều mà mình tin là đúng. Anh yên tâm, anh của em sẽ có sự nghiệp”. Anh ôm lấy tôi, nước mắt hai hàng: “Thịnh ơi anh đã không nhầm khi chọn em”(134). Đêm ấy, khi dọn đồ, bà Thịnh nhìn thấy một gói nhỏ trong có hai bộ quần áo màu cứt ngựa, hai áo may ô, hai quần đùi, vài thứ thông dụng và một mảnh giấy: “Nếu người ta đưa anh đi luôn thì em gửi mấy thứ này vào cho anh”. Bà sững sờ, thì ra, trong buổi sáng 27-3-1990, sau khi gặp Phạm Văn Đồng, Trần Xuân Bách đã chuẩn bị cho mình khả năng bị bắt. Ngay lúc đó, bà Thịnh tự nhủ: “Mình phải không để cho ai biết là mình buồn, mình khổ, nhất là những người ghét chồng mình nhất”. Bà nói với ông Bách: “Kể cả em phải ra đường bưng mẹt thuốc lá để bán em cũng ráng nuôi con ăn học, anh yên tâm”. Trong thời gian Trung ương đang kiểm điểm Trần Xuân Bách, bà Thịnh cho biết: “Ông Nguyễn Văn Linh mấy lần nhắn tôi sang nói chuyện để về thuyết phục anh Bách. Nhưng tôi không sang”(135). Tuy vẫn được ở lại toà biệt thự cũ thêm một thời gian, nhưng năm ngày sau Hội nghị Trung ương 8, tiêu chuẩn sữa tươi cho uỷ viên Bộ Chính trị, 2 lít/ngày, mà Ban Tài chính Quản trị Trung ương vẫn cung cấp cho ông, bị cắt. Khi ông Bách còn tại chức, ngày nào cửa hàng Tôn Đản cũng mang tới tận nhà ông nào thịt, nào cá tươi, gạo ngon, sau khi ông ra khỏi Trung ương, mọi thứ không còn nữa. Từ năm 1984-1989, bà Thịnh vừa làm việc ở Ban Tài chính Quản trị Trung ương vừa đi học Đại học Thương mại tại chức. Khi ông Trần Xuân Bách còn đương chức, đích thân một thứ trưởng Bộ Thuỷ sản đến tận nhà “xin” bà Trần Thị Đức Thịnh về công tác tại Seaprodex. Quyết định điều động bà Thịnh về Seaprodex được ký vào ngày 15-2-1990. Chưa kịp bố trí chức vụ cho bà thì ông Trần Xuân Bách mất chức. Bà Thịnh nhớ lại: “Họ cử tôi ra đứng vỉa hè giữ xe gắn máy cho khách đến liên hệ với cơ quan”. Bà nói: “Tôi không để anh ấy biết, tôi không muốn anh ấy bị hẫng. Tôi tự đi mua sữa tươi, vẫn ngày hai lít. Anh tưởng tôi vẫn lấy sữa của Trung ương, kiên quyết bảo tôi phải từ chối. Suốt ba năm người ta không trả lương cho anh, còn tôi thì cả năm không được giao việc”. Để nuôi chồng và hai con ăn học, bà Thịnh kể: “Tối tối, tôi xin đi rửa chén ở các nhà hàng. Tôi phải đi xa, trùm khăn kín mặt cả mùa đông lẫn mùa hè để không có ai nhận ra. Có thời gian, cứ nửa đêm, tôi nhận đi áp tải các xe chở sắt cho các công trường xây dựng. Chở sắt sang Gia Lâm, tôi được trả ba đồng một đêm. Anh thấy tôi đi sớm, về khuya, tưởng tôi vẫn được trọng dụng”. Bà Thịnh kể tiếp: “Mấy năm sau, có người bạn cũ gặp lại mời tôi đi ăn bún chả. Tôi ăn một mạch hết hai bát, không còn nhớ đến có ai ở xung quanh. Ăn xong, tôi thú thật với bạn tôi, suốt hai năm trời tôi không hề được ăn một miếng thịt vì có miếng nào lại để dành cho chồng, cho con. Thỉnh thoảng, đợi anh đi ngủ tôi mới lấy miếng cơm cháy, rưới ít mỡ vào, đốt lên bếp may xo, ngồi ăn cho đỡ thèm chất mỡ. Nhưng, điều khó khăn nhất của tôi là chứng kiến sự ghẻ lạnh. Kể từ sau khi anh mất chức, những ai đã từng cười với tôi mấy lần ở đâu, tôi vẫn còn nhớ rõ và vô cùng biết ơn họ”. Hơn một tháng sau ngày Trung ương kỷ luật Trần Xuân Bách, tại miền Nam, Tạ Bá Tòng, Hồ Hiếu, Đỗ Trung Hiếu bị bắt. Một người ủng hộ Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ, ông Lê Đình Mạnh, sau đó cũng bị bắt theo. Trước đó, vào ngày 21-3-1990, ông Nguyễn Hộ bỏ Sài Gòn về Phú Giáo, một vùng đất cách Sài Gòn sáu mươi cây số. Ngày 7-9-1990, khi ông Nguyễn Hộ đang bơi xuồng trên sông Sài Gòn thì bị bắt. Ông bị giam tại Xuân Lộc bốn tháng, sau đó được đưa về quản thúc tại nhà riêng trên đường Võ Văn Tần. Dù vậy, các nhà trí thức trong nước vẫn lên tiếng mạnh mẽ: Hà Sĩ Phu viết bài Dắt Tay Nhau Đi Dưới Những Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ. Hoàng Minh Chính viết Góp Ý kiến Về Dự Thảo Cương lĩnh. Lương Dân “Bàn Về Sự Lãnh đạo Của Đảng”. Phan Đình Diệu “Kiến Nghị Về Một Chương trình Cấp Bách Nhằm Khắc Phục Khủng Hoảng Và Tạo Điều kiện Lành Mạnh Cho Sự Phát triển Đất Nước”. Trần Quốc Vượng viết Nỗi Ám Ảnh Của Quá Khứ. Nữ nhà văn Dương Thu Hương dự đoán “nếu Đảng không cải cách sẽ có một cuộc lưu huyết”(136). Cuối năm 1990, Đại tá Bùi Tín, phó tổng biên tập báo Nhân Dân, quyết định ở lại Paris sau chuyến đi Pháp dự lễ kỷ niệm ngày thành lập báo Humanité. Từ Paris, vào lúc 21 giờ 30 ngày 26-11-1990, Đại tá Bùi Tín gửi về nước “Bản Kiến nghị của một công dân” và sau đó liên tục trả lời phỏng vấn Trưởng ban Việt ngữ BBC Đỗ Văn, kêu gọi “xây dựng một chế độ dân chủ thực sự có tính chất nhân dân” và đề nghị “đổi tên nước thành Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đổi tên Đảng thành Đảng Lao động Việt Nam, thực hiện hoà giải dân tộc, thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị không liên kết và hợp tác với tất cả các dân tộc”. Trong khi dân chúng, đặc biệt là cán bộ đảng viên, lặng lẽ đón nghe từng buổi phát thanh của đài BBC, nhân bản các phát biểu của nhà báo Bùi Tín, truyền đọc và bình luận thì Ban Bí thư có hai thông báo cho rằng “Bùi Tín đã có những hoạt động sai trái ở Pháp”. Sau khi nhắc lại “một số quan hệ nam nữ bất chính” của Bùi Tín và tố cáo ông “có con trai chạy sang Hồng Kông giữa năm 1989 nhưng không báo cáo với cơ quan và chi bộ Đảng”, Ban Bí thư cho rằng: “Các thế lực phản động đã lợi dụng và lôi kéo Bùi Tin để phục vụ âm mưu của chúng hòng chống phá cách mạng nước ta, thực hiện diễn biến hoà bình, bôi xấu Đảng và Nhà nước ta, chia rẽ nhân dân và Đảng”(137). Sự kiện Bùi Tín càng củng cố những lo lắng của ông Nguyễn Văn Linh đối với giới văn nghệ sỹ. Cũng trong thời gian đó, một số tổ chức Việt kiều và các nhà văn nước ngoài bắt đầu liên lạc gặp gỡ, mời các nhà văn trong nước đi ra nước ngoài. Trong một số lần gặp gỡ những chức sắc văn nghệ, ông Nguyễn Văn Linh cho rằng những người này đã được các “thế lực phản động nước ngoài nuôi dưỡng”. Các văn kiện chính thức cũng xếp những phát biểu này vào danh mục những “bài nói, bài viết chống đối chế độ và sự lãnh đạo của Đảng”(138). Trước Đại hội lần thứ VII, tháng 6-1991, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ra lệnh bắt giam nhà văn Dương Thu Hương(139). Kết thúc “trăng mật” với báo giới Năm đầu tiên trên cương vị Tổng bí thư, ông Nguyễn Văn Linh được gọi là “người đổi mới”. Không chỉ vì truyền thông nhà nước có truyền thống chỉ nói những điều tốt đẹp về các nhà lãnh đạo, cá nhân Nguyễn Văn Linh cũng tạo được nhiều thiện cảm với báo chí. Ông xuất hiện ở Hà Nội như một chính khách thay vì với cung cách “lãnh tụ” như những người tiền nhiệm. Thời bao cấp, du lịch là một khái niệm không tồn tại đối với thường dân. Những cán bộ có thành tích lâu lâu mới được công đoàn cho đi “nghỉ mát”. Những khu du lịch nổi tiếng thường chỉ đón các nhà lãnh đạo đến làm việc và nghỉ ngơi. Những biệt thự tốt nhất ở Đồ Sơn, Tam Đảo, Sapa và sau năm 1975, ở Vũng Tàu, Đà Lạt thường được dành riêng để “xuân thu nhị kỳ” lãnh đạo và gia đình đến ở. Dưới thời Nguyễn Văn Linh, quỹ biệt thự này được giao cho Ban Tài chính Quản trị làm “kinh tế Đảng” thay vì giữ cho lãnh đạo sử dụng riêng. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cũng không dùng chuyên cơ khi đi lại giữa Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ông và tuỳ tùng chỉ mua một khoang riêng; máy bay chở Tổng bí thư vẫn được quyền bán vé phần ghế dư ra cho khách. Trước và sau thời ông Nguyễn Văn Linh, những người giữ các chức danh Tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội thường sử dụng một máy bay riêng khi đi lại. Những chuyến bay này gọi là chuyên cơ. Chi phí một chuyến chuyên cơ từ Hà Nội vào Sài Gòn theo thời giá thập niên 1980 lên đến 160 triệu đồng, trong khi chi phí mua khoang của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh chỉ mất mười sáu triệu. Năm 1989, khi Trung ương họp tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Linh đã yêu cầu các uỷ viên Trung ương phải đi tàu hoả. Tuy nhiên, quy định này của ông Linh chỉ áp dụng được một lần do có nhiều uỷ viên Trung ương phản ứng và do đi tàu vừa mất thời gian vừa tốn kém vì ngành đường sắt không thể bán vé cho thường dân vào buồng bốn ghế nằm đã có một hai “ông Trung ương” ở đó. Khi nhậm chức, Nguyễn Văn Linh vẫn sử dụng một chiếc xe hơi hiệu Lada của Liên Xô đã cũ thay vì tiêu chuẩn của Tổng bí thư phải là “Volga đen” hoặc Toyota. Theo ông Bùi Văn Giao, trợ lý của Nguyễn Văn Linh: “Ông không biết rằng, để Lada có thể chở Tổng bí thư, Văn phòng phải gắn thêm máy lạnh. Vì tải thêm máy lạnh mà tuổi thọ của những chiếc Lada này bị giảm đi rất nhanh, cứ sau một hai năm là phá luôn giàn máy. Một lần ông Linh đi công tác về tỉnh, chiếc máy lạnh tự chế phát nổ. May mà khi đó, ông Linh đang ngồi trong phòng họp còn chiếc xe thì đậu ngoài sân”. Ông Linh dùng Lada thì các vị lãnh đạo khác cũng phải Lada. Không ai dám nói với Tổng bí thư, tuy tiền mua Lada rẻ hơn các loại “xe tư bản” nhưng tuổi thọ xe ngắn và lượng xăng sử dụng tốn hơn rất nhiều so với “xe tư bản”(140). Trong chế độ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mọi hoạt động của Tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch quốc hội đều được báo Nhân Dân, Thông tấn xã Việt Nam và Đài Truyền hình đưa tin. Tần suất xuất hiện của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trên truyền thông nhiều hơn vì phong cách năng động và mối giao hảo cá nhân giữa ông và báo giới. Tuy nhiên, dưới thời Nguyễn Văn Linh, trí thức, văn nghệ sỹ bắt đầu tư duy độc lập, kể cả độc lập trong cách nhìn và đánh giá vị Tổng bí thư đã hô hào “cởi trói”. Đầu tháng 6-1988, trong chuyến đi tìm hiểu về “cải tiến cơ chế khoán trong công nghiệp” ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đưa ra khái niệm “xử lý hộp đen”(141). Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cho rằng: “Xử lý hộp đen là cải tiến quản lý và cải tiến kỹ thuật là khâu quan trọng lúc này cũng như về lâu dài”(142). Trước đó, ngày 10-6-1988, báo Nhân Dân tổ chức cuộc trao đổi ý kiến với nhiều giám đốc về vấn đề: “Làm thế nào để xử lý hộp đen có hiệu quả theo tinh thần các nghị quyết của Đảng và nhà nước mới ban hành”. Cuộc trao đổi do tổng biên tập báo Nhân Dân chủ trì với sự tham gia của hơn hai mươi tổng giám đốc và giám đốc các doanh nghiệp lớn. Từ đó cho tới đầu tháng 7-1988, báo Nhân Dân lần lượt đăng phát biểu của nhiều giám đốc, ai cũng trăn trở: “Làm thế nào để xử lý hộp đen”. Mặc dù, ý kiến của họ cho thấy không ai thực sự hiểu như thế nào là “hộp đen” cả. Không thể ngồi nhìn “hộp đen” cứ “quay”, Giáo sư Hoàng Tuỵ và Giáo sư Phan Đình Diệu đành phải viết thư gửi báo Nhân Dân. Hai nhà khoa học nói thẳng rằng, các thuật ngữ, xuất hiện thường xuyên trên báo Nhân Dân và các báo lớn, như “hộp đen”, “xử lý hộp đen” và “quay hộp đen” đã “bị hiểu sai lạc và sử dụng tuỳ tiện”. Sau khi dẫn các giải thích của các nhà lãnh đạo cũng như một số “nhà khoa học” đăng trên các báo, Giáo sư Hoàng Tuỵ và Phan Đình Diệu kết luận: “Không có một nhà điều khiển học đứng đắn nào, không có một nhà kinh tế học nghiêm chỉnh nào lại có thể hiểu về hộp đen như thế”(143). Thoạt tiên, Giáo sư Hoàng Tuỵ và Phan Đình Diệu gửi ý kiến của mình đến báo Nhân Dân. Nhưng báo Nhân Dân lờ đi. Họ gửi tới Văn phòng Trung ương, nhưng không ai đủ dũng cảm để nói với Tổng bí thư. Trong các cuộc họp, Tổng bí thư vẫn tiếp tục “xử lý hộp đen”. Hoàng Tuỵ và Phan Đình Diệu đành phải đưa bài tới cho nhà văn Nguyên Ngọc. Nguyên Ngọc kể, ông đã gọi điện cho Tổng Biên tập báo Nhân Dân Hà Đăng, nhưng Hà Đăng nói: “Tôi không dám đăng”. Nguyên Ngọc nghĩ: “Một bài báo mấy trăm chữ mà hai bậc đại trí thức của Việt Nam phải đồng ký tên. Cái sai không chỉ là của một cá nhân Tổng bí thư nữa mà có nguy cơ trở thành ‘kiến thức’ phổ thông. Nếu mình cũng sợ không đăng thì người ta sẽ nghĩ là cả nước Việt Nam không biết”. Ngày 30-7-1988, Nguyên Ngọc cho đăng bài Hộp Đen Và Quay Hộp Đen trên báo Văn Nghệ. Từ hôm đó, trên báo Nhân Dân, khái niệm “hộp đen” biến mất. Không chỉ vì vụ “hộp đen”, cuối năm 1988, mối quan hệ giữa Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và tướng Trần Độ, người ủng hộ báo Văn Nghệ và khuynh hướng tự do sáng tạo của văn nghệ sỹ, cũng bắt đầu rạn nứt. Theo Trần Độ: “Trước Nghị quyết 05 mối quan hệ này ấm cúng bao nhiêu thì sau Nghị quyết 05, giá lạnh bấy nhiêu. Đối với tôi đây là một điều đau xót, không chỉ trong việc chung mà cả tình cảm riêng tư”. Cùng lúc với sự ra đời của nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật được dư luận xôn xao đón nhận, trong chính trường bắt đầu xuất hiện những chỉ trích các tác phẩm này, coi đó là những “lệch lạc” trong văn nghệ. Nghị quyết 05 bị ngầm quy kết là đã góp phần tạo ra những “lệch lạc” ấy. Sự quy kết không chỉ nhắm đến tướng Trần Độ mà còn trở thành công cụ chính trị hướng tới Nguyễn Văn Linh. Trong khi đó, trong vụ cấm vở kịch Em Đẹp Dần Lên Trong Mắt Anh, Trần Độ lại giữ thái độ không khoan nhượng ngay cả khi ông Nguyễn Văn Linh đã có ý kiến(144). Theo ông Trần Trọng Tân, trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương khoá VI: “Ông Linh đã định kiến ai thì gỡ ra rất khó. Nhưng việc Nguyên Ngọc bị mất chức tổng biên tập báo Văn Nghệ vào tháng 12-1988 và vai trò của Trần Độ bị giảm đi không chỉ vì mối quan hệ cá nhân giữa ông Nguyễn Văn Linh và họ”. Bên cạnh những phóng sự “trực diện với đời sống” của Phùng Gia Lộc, Trần Huy Quang, Hồ Trung Tú,… phần sáng tác công bố trên tuần báo Văn Nghệ “thời Nguyên Ngọc” cũng gây nhiều tranh cãi. Không chỉ có những truyện ngắn lạ và mượt mà của Nguyễn Huy Thiệp như Những Ngọn Gió Hua Tát, Sang Sông…, Văn Nghệ còn cho đăng những truyện ngắn mới của ông như Vàng Lửa và Phẩm Tiết, đưa ra một góc nhìn về các nhân vật lịch sử như Quang Trung, Gia Long khác với đánh giá của nền giáo dục và chính trị đương thời. Cùng lúc, Văn Nghệ cũng cho công bố truyện ngắn Năm Ngày của Phạm Thị Hoài, một tác phẩm làm rộ lên những lời phê bình trái ngược nhau gay gắt. Đặc biệt, mảng “lý luận phê bình” bắt đầu chạm vào những lằn ranh chính trị. Từ Moscow, Lê Ngọc Trà gửi về bài viết đầu tiên, Văn Nghệ Và Chính Trị, nhắc nhở vai trò gần như độc lập của các văn nghệ sỹ. Để rồi sau đó, Nguyên Ngọc triển khai mở rộng phần lý luận nói về mối quan hệ giữa văn nghệ và hiện thực. Ngày 5-12-1987, Văn Nghệ cho công bố bài viết, gây chấn động ngay từ đầu đề, của nhà văn Nguyễn Minh Châu: Hãy Đọc Lời Ai Điếu Cho Một Giai Đoạn Văn Nghệ Minh Hoạ, giai đoạn mà theo Nguyễn Minh Châu, các “nhà văn hiền lành, vô sự, chỉ biết ca ngợi”. Ngày 21-11-1988, khi trả lời phỏng vấn báo Văn Nghệ, Nguyễn Minh Châu cho rằng “chúng ta đã tự trói mình”. Ông nói: “Cái lỗi lớn nhất của mỗi người chúng ta là đã khiếp hãi trước cái xấu và cái ác. Và, lâu dần dường như không làm gì được thì chúng ta coi như không có nó - cuộc đời không có cái xấu và cái ác đang hoành hành, đang chi phối số phận con người, coi như cuộc đời không có oan khiên, oan khuất”. Cũng trong thời gian đó, Liên Xô xét lại nhiều vụ án văn nghệ được dựng lên dưới thời Stalin. Ngày 23-1-1988, Văn Nghệ cho trích dịch bài viết trên tờ Tin Moscow số ra ngày 20-12-1987 đề cập đến nhiều cuốn sách của các nhà văn Nga “bị vùi dập qua nhiều thập kỷ”. Tác giả bài báo bình luận: “Kẻ nào giấu kín quá khứ sẽ không yên lành được với tương lai”. Ngày 16-4-1988, trên tờ Văn Nghệ, Trần Độ dẫn một tuyên bố từ tạp chí Người Cộng Sản của Liên Xô: “Ngăn đường một tác phẩm có tài nhưng không phù hợp với cái nhất thời là vô nghĩa”. Một giáo viên ở Nghĩa Bình viết: Sau khi đọc những phóng sự như Cái Đêm Hôm Ấy… Đêm Gì? của Phùng Gia Lộc, Suy Nghĩ Trên Đường Làng của Hồ Trung Tú…, làm sao chúng tôi có thể làm cho học sinh tin vào những điển hình xã hội chủ nghĩa như “Biền” trong Tầm Nhìn Xa, như Anh Chủ Nhiệm(145)… Ngày 16 và 23-7-1988, trên hai số báo liền, Nguyên Ngọc cho đăng lại bài tường thuật hội thảo bàn tròn do báo Văn Học Liên Xô tổ chức: “Liệu chúng ta có từ bỏ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Bài viết dẫn lời các nhà văn Nga cho rằng: “Chủ nghĩa hiện thực đã bị Stalin áp đặt một cách tàn bạo và giáo điều hoá”. Bài viết trích lời của một nhà văn Nga: “Thời đại bị lợi dụng cho lời cầu phúc và thời đại đã nói dối, giết người rồi biện minh cho tính chất vô sản của chủ nghĩa anh hùng chúng ta”. Không khí cải tổ trong Hội Nhà văn Liên Xô tác động một cách trực tiếp lên công tác chuẩn bị Đại hội lần thứ V Hội Nhà văn Việt Nam. Liên tục trên nhiều số, Văn Nghệ cho đăng bài kêu gọi đổi mới từ nội dung cho tới phương thức tổ chức đại hội của Hội Nhà văn. Ngày 4-6-1988, Văn Nghệ đăng tuyên bố của nữ nhà văn Dương Thu Hương: “Đại hội này là dịp cuối cùng để thế hệ 40 giành lấy quyền nói tiếng nói quyết định trong các vấn đề văn học và nhất là trong công việc của Hội, trước khi nó trở nên già cả và bảo thủ”. Trí thức, văn nghệ sỹ có vẻ như đang bộc lộ nhu cầu mở cái “nút thắt cuối cùng: dân chủ - tự do”, thay vì chỉ có vấn đề sáng tác. Theo Nguyên Ngọc, Ban Thư ký Hội Nhà văn bắt đầu đòi can thiệp vào bài vở của tuần báo Văn Nghệ. Nhưng Nguyên Ngọc không chấp nhận, ông tuyên bố: “Tôi là tổng biên tập, tôi chịu trách nhiệm”. Mối lo ngại không còn chỉ đến từ Ban Thư ký, từ ngày 5 đến ngày 9-9-1988, Ban Chấp hành Hội Nhà văn họp có Uỷ viên Bộ Chính trị Đào Duy Tùng đến dự. Theo “Bản tin chi tiết” của Hội Nhà văn đăng trên báo Văn Nghệ ngày 1-10-1988, tại cuộc họp, Ban Chấp hành Hội Nhà văn kết luận: “Văn Nghệ đã có một số đóng góp tích cực trong công cuộc đổi mới. Song bên cạnh đó, tuần báo đã có những khuyết điểm và lệch lạc nghiêm trọng”. Trước đó, tờ báo bị phê phán là: “Đã đăng những ý kiến phủ nhận cả giai đoạn văn học trước đây, nói Hội Nhà văn có cũng như không, nói chưa bao giờ văn nghệ sỹ bị khinh rẻ như bây giờ. Nhiều ý kiến nêu rõ đổi mới nhưng không thể tách rời khỏi tình hình xã hội hiện nay. Đổi mới nhưng không được làm đổ vỡ lòng tin vào sức sống của chủ nghĩa xã hội”(146). Bên trong, theo Nguyên Ngọc, ông bị Trưởng Ban Tuyên huấn Trần Trọng Tân phê bình: “Làm báo là làm chính trị, làm chính trị thì phải nhạy cảm chính trị, trước hết nhạy cảm với kẻ thù”. Nguyên Ngọc cãi lại: “Nhạy cảm chính trị trước hết là nhạy cảm với nỗi đau của nhân dân. Chính những kẻ làm đau khổ nhân dân mới là kẻ thù”. Đào Duy Tùng dàn hoà: “Tôi thấy anh Tân và anh Ngọc không khác nhau, chỉ khác nhau ở cách diễn đạt”. Nguyên Ngọc không khoan nhượng: “Không anh, chúng tôi khác nhau về cơ bản”. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng cảnh báo trước Ban Chấp hành Hội: “Đối xử với Tổng Biên tập Văn Nghệ cũng là đối xử với đổi mới… Đối với nhà văn, nơi tranh giành là trang giấy. Cái ghế không có giá trị văn học”. Nhưng, Tổng Thư ký Nguyễn Đình Thi vẫn kết luận: “Ban Chấp hành giao cho Ban Thư ký uốn nắn, chấn chỉnh tờ báo cả về nội dung và tổ chức”. Những tuần sau đó, Nguyên Ngọc vào Sài Gòn họp cộng tác viên, giới văn nghệ miền Nam đã “đổ thêm dầu vào lửa” khi ca ngợi tờ Văn Nghệ là “đã nói tiếng nói lương tri của người cầm bút” và khen tờ báo đã “không còn hướng thượng” nữa. Ngày 12-11-1988, tướng Trần Độ xuất hiện trên Văn Nghệ bằng một bài báo đăng trọn trang, nhìn nhận một số “thiếu sót không thể tránh khỏi” của tờ báo, đồng thời trích dẫn ý kiến của dư luận và một nhận định cũ của Ban Bí thư “Văn Nghệ lành mạnh và có triển vọng”. Rồi Trần Độ kết luận: “Văn Nghệ cần tiếp tục đổi mới”. Nhưng, tiếng nói của tướng Trần Độ vào lúc này chỉ có tác dụng chứng minh cho những chỉ trích mà “Bản tin chi tiết của Hội Nhà văn” đã từng đề cập: “Một số hội viên đảng viên thuộc cơ quan Hội Nhà văn cho rằng báo Văn Nghệ dựa vào ô dù ở trên để vô hiệu hoá Ban Thư ký”. Trong số báo ra ngày 3-12-1988 (trên thực tế đã phát hành từ ngày 1-12) Nguyên Ngọc cho đăng lại quyết định ngày 20-10-1988 của Bộ Chính trị Liên Xô “thừa nhận sai lầm của Nghị quyết ngày 14-8-1946”, xoá án cho Zoshchenko và Akhmatova, lãnh đạo hai tờ tạp chí Ngôi Sao và Leningrad. Zoshchenko và Akhmatova từng cho đăng những bài viết bị quy kết là “bôi đen chế độ Xô viết”. Đặc biệt, Nghị quyết 14-8-1946 cũng đã từng sử dụng cụm từ “lệch lạc nghiêm trọng” mà ngày 1-10-1988 Nguyễn Đình Thi dùng để phê bình Văn Nghệ. Đây là số báo cuối cùng của Nguyên Ngọc. Ngay trong ngày 2-12-1988, Nguyễn Đình Thi và Chính Hữu thay mặt Ban Thư ký Hội Nhà văn trực tiếp xuống trụ sở báo Văn Nghệ. Nguyên Ngọc nhớ lại: “Các vị ấy đã chuẩn bị nhiều phương án. Đầu tiên, Chính Hữu rút ra tờ quyết định thuyên chuyển tôi về làm phó Ban Trù bị Đại hội. Tôi nói, việc đó thuộc thẩm quyền của Ban Chấp hành. Chính Hữu liền rút ra quyết định bổ nhiệm tôi làm trưởng Ban Trù bị. Tôi cười bảo, các anh cứ làm quyết định cách chức đi”. Nhưng không hiểu sao Ban Thư ký Hội Nhà văn đã không dám dùng từ “cách chức”. Trong số báo tiếp theo, ra ngày 10-12-1988, báo Văn Nghệ để trống mục “Tổng Biên tập” và cho đăng bài của Nguyễn Đình Thi giải thích sự “lệch” sinh ra “lạc” của tờ Văn Nghệ thời Nguyên Ngọc. Báo chí Sài Gòn và miền Trung ngay sau đó đã có nhiều tin bài phản đối Hội Nhà văn. Ngày 20-12-1988, báo Tuổi Trẻ đăng hàng loạt ý kiến của giới văn nghệ phía Nam “phản đối việc thuyên chuyển tổng biên tập báo Văn Nghệ”. Trong đó, nhà thơ Thanh Thảo viết: “Tôi kịch liệt phản đối quyết định cách chức tổng biên tập báo Văn Nghệ. Chỉ có Đại hội Hội Nhà văn mới có thẩm quyền quyết định vấn đề này”. Cũng trong tuần lễ đầu của tháng 12-1988, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh chủ trì họp Bộ Chính trị bàn “một số vấn đề trước mắt trong công tác tư tưởng”. Tuy không chỉ ra “những sai phạm” của báo chí, nhưng trong “bài phát biểu tại Hội nghị Bộ Chính trị” Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh yêu cầu: “Cần thông tin đầy đủ và đúng đắn về tình hình đất nước… Cần làm rõ, dân chủ phải có lãnh đạo, mở rộng dân chủ phải nhằm nâng cao ý thức giữ vững kỷ luật và tuân thủ pháp luật”(147). Tại hội nghị này, Bộ Chính trị cũng đã quyết định thành lập một “Uỷ Ban công tác tư tưởng của Đảng” nhằm giúp Ban Bí thư “đánh giá tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên và tâm trạng chính trị của quần chúng để báo cáo định kỳ”. Tổng bí thư kêu gọi: “Luôn luôn tỉnh táo, hết sức coi trọng công tác tư tưởng”. Không chỉ đề cập đến tình hình Việt Nam, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh còn nói đến chính sách cải tổ của Liên Xô. Có thể nói, ông là nhà lãnh đạo cộng sản đầu tiên nhận ra tiến trình cải tổ là vô cùng “phức tạp”(148). Ba tháng sau, Hội nghị Trung ương 6, tháng 3-1989, đã nhấn mạnh những lo ngại chính trị trong “quá trình phát huy dân chủ”, kêu gọi “phải tỉnh táo đấu tranh chống lại những lực lượng lợi dụng việc mở rộng dân chủ để chống chế độ ta”. Hội nghị Trung ương 6 cho rằng, “tự do tư tưởng, thảo luận và tranh luận thẳng thắn” phải đi đối với việc “ngăn ngừa và uốn nắn những biểu hiện lợi dụng dân chủ, công khai để xuyên tạc sự thật, kích động, phá hoại công cuộc đổi mới”. Sau khi “phê phán những khuynh hướng phủ nhận hoặc hạ thấp” vai trò của Đảng, Hội nghị Trung ương 6 tuyên bố: “Không cho phép ra báo tư nhân và lập các nhà xuất bản tư nhân”. Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị tháng 12-1988 và Hội nghị Trung ương 6 thể hiện rõ quan điểm Nguyễn Văn Linh: mở ra có mức độ về kinh tế, nhưng kiên định về lập trường chính trị. Những người như Nguyên Ngọc hay Tổng Biên tập Sài Gòn Giải Phóng Tô Hoà có thâm niên cộng sản(149). Họ tham gia cách mạng vì lý tưởng chủ nghĩa xã hội và đổi mới cũng vì nhận ra những sai lầm do áp dụng những nguyên lý không tưởng đó. Thế hệ Tô Hoà, Nguyên Ngọc tự nhận lấy phần trách nhiệm của mình trong những chính sách sai lầm của Đảng thay vì chỉ đổi mới trong chừng mực mà Đảng cho phép mở ra. Sau khi Nguyên Ngọc bị mất chức tổng biên tập Văn Nghệ, những nhà lý luận văn học cấp tiến như Trần Hữu Tá, Lê Ngọc Trà có được chỗ dựa ở Tô Hoà. Tờ báo Đảng dưới thời Tô Hoà tiếp tục tự cởi trói cho mình trong khi “vòng dây” bên ngoài vẫn âm thầm siết lại. Sau khi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố tại Hội nghị Trung ương 6: “Dân chủ phải có lãnh đạo”, trên trang nhất Sài Gòn Giải Phóng, ông Tô Hoà cho đăng ý kiến của “một bạn đọc” có tên là Trần Nghiên nói rằng “không ít người lo lắng là điều đó sẽ làm cho dân chủ bị chựng lại”(150). Trần Nghiên nêu ví dụ, tại đại hội ở một quận, nhân danh “dân chủ có lãnh đạo”, chủ tịch đoàn đã “gò ép, hạn chế đến thô bạo quyền dân chủ tối thiểu của đại biểu là được trình bày ý kiến”. Ngày 2-7-1989, ông Tô Hoà cho đăng bài của Tiến sỹ Lê Ngọc Trà, bày tỏ khá rõ ràng lựa chọn của tờ Sài Gòn Giải Phóng: “Đấu tranh cho một xã hội tốt hơn, cho chủ nghĩa xã hội đích thực, cho dân chủ và công khai, cho đổi mới cũng là một cuộc cách mạng nhân danh con người, vì con người. Bởi vậy, đứng ở đâu trong cuộc đấu tranh này là cả một thử thách đau đớn, là thước đo cách hiểu về văn chương, quan niệm về con người và chính ngay nhân cách của bản thân những ai cầm bút”. Cũng như khi Nguyên Ngọc bị cách chức, sự ra đi của Tô Hoà cũng được những người đổi mới coi như là một tổn thất. Nhiều người đọc thư Tô Hoà đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày 13-8-1989 đã rất bất ngờ, kể cả ông Võ Văn Kiệt, người bổ nhiệm Tô Hoà giữ chức vụ này từ năm 1981. Một bạn đọc gửi tới ông bài thơ: Được thư anh viết chia tay Tôi băn khoăn mãi thế này là sao Lý do anh tuổi đã cao Hay còn nguyên cớ khác nào nữa đây Báo đang đổi mới hàng ngày Sao người cầm chịch chia tay bất ngờ… Đứng bên cạnh tờ Sài Gòn Giải Phóng, những tờ báo như Thanh Niên, Tuổi Trẻ lúc ấy cũng đã như những “cánh tay nối dài” của tờ Văn Nghệ thời Nguyên Ngọc. Tuổi Trẻ Chủ Nhật thường đăng lại những tác phẩm gây xôn xao dư luận trên báo Văn Nghệ như truyện ngắn Tướng Về Hưu, phóng sự Cái Đêm Hôm Ấy Đêm Gì?… và tự mình thực hiện nhiều điều tra, phóng sự. Nếu như những bài báo đăng trên tờ Văn Nghệ biểu lộ sự thức tỉnh của những người làm báo xã hội chủ nghĩa, những trang viết của họ là những bản tự kiểm, đụng chạm không chỉ niềm tin cá nhân mà còn cả thần tượng và ý thức hệ thì những người làm báo ở Tuổi Trẻ, cuối thập niên 1980, vẫn mang sự nhiệt thành của những thanh niên ở trong độ tuổi hồn nhiên. Đội ngũ lãnh đạo Tuổi Trẻ lúc bấy giờ gồm những người đã từng hoạt động trong phong trào sinh viên học sinh trước 30-4-1975 tại miền Nam. Cho dù vẫn giữ sự đồng hành với Đảng, niềm say mê nghề nghiệp, khát khao đổi mới đã khiến họ đấu tranh không mệt mỏi bảo vệ “dân sinh” và hào hứng với các trào lưu dân chủ. Nếu như trước đó, Tuổi Trẻ, Sài Gòn Giải Phóng thường chỉ khai thác thời sự quốc tế qua báo chí Liên Xô hoặc qua Thông tấn xã Việt Nam, thì lúc bấy giờ bắt đầu khai thác cả “báo chí tư bản” để tường thuật các diễn biến trên thế giới. Báo chí không chỉ giúp người dân, đặc biệt là sinh viên, thanh niên, hiểu được những gì đang xảy ra xung quanh mà còn khai thác những thông tin ấy theo hướng tác động trực tiếp vào những sự kiện đang xảy ra trong nước. Giữa năm 1987, bằng cách đưa tin của mình, báo Tuổi Trẻ đóng vai trò quan trọng làm thay đổi kết quả bầu cử ở đại hội Đoàn Thanh niên Cộng sản Thành phố Hồ Chí Minh. Các đại biểu đã bầu Lê Văn Nuôi làm bí thư thay vì bầu Phạm Phương Thảo như phê chuẩn ban đầu của Thành uỷ(151). Ngay sau khi đắc cử, Lê Văn Nuôi chủ trương “bầu trực tiếp bí thư Đoàn trường học sinh” và tuyên bố: “Tổ chức của giới nào phải có thủ lĩnh của giới đó”. Trước đó, Lê Xuân Khuê, trưởng Ban Trường học Thành Đoàn, phát biểu trên báo Tuổi Trẻ ngày 2-7-1987 rằng: sinh viên không còn muốn tiếp tục bị coi là những đứa trẻ bị thầy cô cầm tay chỉ việc, thậm chí làm thay cả công tác Đoàn nữa. Khuê nói: “Chúng tôi không muốn bị coi là bé, là trẻ người non dạ mãi”. Cho dù tất cả những sự kiện đó đều như những giọt nước tích tụ vào ly nhưng chỉ bị đánh giá là thiếu bản lĩnh chính trị chứ chưa bị coi là lệch lạc. Theo ông Nguyễn Sơn, phó Ban Tuyên huấn Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh trong thập niên 1980-1990: “Kim Hạnh, tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, cũng như Thế Thanh, tổng biên tập báo Phụ Nữ Thành Phố, cùng bị coi là chịu ảnh hưởng của những nhân vật đổi mới cực đoan như Trần Độ, Dương Thu Hương, Nguyên Ngọc… nhưng lúc đầu, Thành uỷ thấy có thể quản lý được. Tuy nhiên, loạt bài về Bình Nhưỡng và ‘thư Nguyễn Ái Quốc gửi vợ’ đăng trên Tuổi Trẻ đã chạm đến hai vấn đề thiêng liêng: niềm tin vào lãnh tụ và chủ nghĩa xã hội”. Năm 1989, sau khi dự “Liên hoan Thanh niên, Sinh viên” tại Bình Nhưỡng trở về, nhà báo Vũ Kim Hạnh đã có loạt bài mô tả Bắc Triều Tiên như một thành phố không còn gương mặt con người: dân chúng không được tiếp xúc với người nước ngoài; radio, tivi chỉ bắt được đài nhà nước…(152). Chủ nghĩa xã hội được mô tả như một thứ trại tập trung có quy mô toàn quốc. Lỗi này sẽ được “ghim” lại cho đến ngày 18-5-1991(153). Ngày 18-5-1991, Tổng Biên tập Vũ Kim Hạnh cho đăng trên trang nhất Tuổi Trẻ một bài báo về bức thư của Nguyễn Ái Quốc “gửi vợ” Tăng Tuyết Minh. Bài báo cùng lúc được gửi đăng trên tờ Nhân Dân Chủ Nhật (số ra ngày 19-5-1991, nhưng thực chất là xuất bản cùng ngày 18-5). Tuy cùng nội dung, nhưng trong khi tựa đề in trên tờ Nhân Dân số ra ngày 19-5-1991 là: “Một số tư liệu nói về đời riêng của Nguyễn Ái Quốc”; thì tựa trên tờ Tuổi Trẻ của Vũ Kim Hạnh lại là: “Thư của Nguyễn Ái Quốc gửi vợ năm 1928”(154). Thông báo số 245 ngày 22-5-1991 do Phó Bí thư Thành uỷ Nguyễn Võ Danh ký cho biết: “Đảng viên và quần chúng rất phẫn nộ. Liên tiếp trong các ngày 19, 20, 21, 22-5, nhiều quận huyện, nhiều người gửi văn bản, gửi thư hoặc đến trực tiếp Văn phòng Thành uỷ bày tỏ thái độ bất bình và phẫn nộ… Nhiều đồng chí cán bộ hưu trí, lực lượng công an thành phố đề nghị khởi tố vụ án”. Một tháng trước khi ông Nguyễn Văn Linh kết thúc nhiệm kỳ, nhà báo Vũ Kim Hạnh bị cách chức tổng biên tập với “hình phạt bổ sung” không công khai: vĩnh viễn không cho làm báo. Gần như các nhân tố mới xuất hiện kể từ sau khi ông Linh hô hào cởi trói đều bị truy bức. Có người bị trói lại bằng “còng”. Cho dù không thể đưa một xã hội đã bắt đầu thức tỉnh quay trở lại lồng, ông Nguyễn Văn Linh đã bỏ lỡ cơ hội để được lịch sử đánh giá như một Tổng bí thư đổi mới(155). Chú thích (89) Mùa hè năm 1987, Nguyễn Mạnh Huy quyết định thi đại học lần thứ tư. Kết quả, Huy được 22 điểm trong khi chỉ cần 20 là đỗ vào đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, cả lần này, Nguyễn Mạnh Huy vẫn “không được đi học vì cha chết trận”. Nguyễn Mạnh Huy viết thư gửi báo Thanh Niên: “Đây là lần thi cuối cùng của tôi. Tôi tuyệt vọng!” Bức thư đến tay người phụ trách toà soạn lúc bấy giờ là nhà báo Nguyễn Công Thắng, ông Thắng đã trực tiếp xử lý và được người có quyền quyết định về nội dung lúc ấy là Phó Tổng Biên Tập Nguyễn Công Khế đồng ý đưa lên mục Diễn Đàn. Hơn 1000 thư đã gửi về báo Thanh Niên bày tỏ thái độ ủng hộ Nguyễn Mạnh Huy và báo Thanh Niên. Các báo Tiền Phong, Tuổi Trẻ cũng cùng lên tiếng. Nhưng, trong khi lương tâm của nhiều người cắn rứt vì sự nghiệt ngã của một số phận thì “lập trường giai cấp” trong lòng nhiều quan chức vẫn như một thành trì. Ban Giáo dục Chuyên nghiệp tỉnh Nghĩa Bình đã gửi cho báo Thanh Niên một bức điện lạnh lùng: “Về việc tuyển sinh vào các trường đại học, trong tổng kết năm 1986, Giáo sư, Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp Mai Hữu Khuê đã nói: Công tác tuyển sinh khẳng định là phải mang tính chất giai cấp. Ở bất cứ chế độ xã hội nào đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân kỹ thuật, đội ngũ đó phải trung thành với chế độ và phục vụ một cách có hiệu quả cho chế độ đó”. Cuối tháng 11-1987, khi vụ Nguyễn Mạnh Huy được đưa ra thảo luận tại các trung tâm hội thảo của Đại hội Đoàn toàn quốc, báo Thanh Niên đã nhận được nhiều ý kiến ủng hộ. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trực tiếp viết thư cho Tỉnh uỷ Nghĩa Bình và theo ông Nguyễn Công Khế: “Khi các đại biểu Đại hội Đoàn tới thăm, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã cho công bố thư của Bí thư Nghĩa Bình trả lời ông Linh, đồng ý cho Nguyễn Mạnh Huy đi học”. Thành công của báo chí, đặc biệt là báo Thanh Niên trong vụ Nguyễn Mạnh Huy, đã buộc chính quyền phải sửa đổi chính sách phân loại “13 hạng thanh niên” trong tuyển sinh. (90) Tuổi Trẻ 18-7-1987. (91) Hơn hai tuần sau khi giành được Sài Gòn, ngày 17-6-1975, Tố Hữu ký Chỉ thị 222 (của Ban bí thư) quy định: “Trong năm học 1975-1976, ngoài việc giảng dạy các môn văn hoá và chuyên môn theo chương trình và nội dung mới, phải ghi vào chương trình các môn học chính trị và hoạt động xã hội cho suốt cả năm học và cho tất cả các đối tượng học sinh từ năm đầu đến năm cuối. Nội dung xoay quanh ba chủ đề lớn sau đây: thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; đường lối và chính sách cách mạng Việt Nam - đường lối giáo dục cách mạng; nghĩa vụ và quyền lợi của người công dân mới, của người cán bộ cách mạng. Thông qua ba nội dung lớn trên mà phân tích và xác định cho mọi người nhận rõ ta, bạn, thù, giáo dục tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội”. Di chúc của Hồ Chủ Tịch; bài phát biểu của Lê Duẩn tại Lễ mừng chiến thắng ở Hà Nội; bài phát biểu của Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ tại Lễ mừng chiến thắng ở Sài Gòn được Ban bí thư coi là “ba nội dung lớn” được biên soạn thành sách làm bài giảng cho học sinh, sinh viên. Đội ngũ giảng dạy chính trị trong các trường đại học, gọi là giảng viên triết học Marx-Lenin, thường được tuyển từ những quân nhân được gửi vào các trường đại học sau ngày 30-4-1975. Thời gian đầu, Ban Bí thư còn “huy động lực lượng cán bộ tuyên huấn có năng lực ở các địa phương tham gia giảng dạy”. (Văn Kiện Đảng Toàn tập, tập 36, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2004, trang 248-249). (92) Thông qua ngay 11-1-1979 cũng do Tố Hữu chủ trì soạn thảo. (93) Sài Gòn Giải Phóng số 1326, ngay 27-8-1979. (94) Tháng 4-1989, nhân lễ tang cựu Tổng bí thư Hồ Diệu Bang - một nhà cải cách bị Đặng Tiểu Bình phế truất hai năm trước đó - dân chúng Trung Quốc đã tổ chức nhiều vụ xuống đường biểu tình. Ngày 18-4-1989, hơn 10.000 sinh viên tổ chức biểu tình ngồi tại Quảng trường Thiên An Môn, vài ngàn sinh viên khác cùng lúc tụ tập trước Trung Nam Hải. Biểu tình càng mạnh lên khi sinh viên tin rằng truyền thông nhà nước đã bóp méo tính chất hành động của họ. Đêm 21-4-1989, trước lễ tang Hồ Diệu Bang, khoảng 100.000 sinh viên đã tuần hành trên Quảng trường Thiên An Môn. Sau khi yêu cầu gặp mặt Thủ tướng Lý Bằng không được sinh viên Bắc Kinh kêu gọi bãi khoá. Chính quyền gần như đã “đổ dầu vào lửa” khi, ngày 26-4-1989, Nhân Dân Nhật báo đăng xã luận “Dương cao ngọn cờ phản đối bất kỳ sự xáo động nào”, buộc tội “một số kẻ cơ hội lạc lõng” đang “âm mưu gây bất ổn dân sự”. Bài báo được cho là đã thể hiện tinh thần của Đặng Tiểu Bình được ông nói ra trước đó trong một bài diễn văn nội bộ. Bài xã luận đã làm sinh viên nổi giận. Ngày 27-4-1989, khoảng 50.000 sinh viên tụ tập trên các đường phố Bắc Kinh bất chấp lời cảnh báo đàn áp của chính quyền. Ngày 4-5-1989, khoảng 100.000 sinh viên và công nhân tuần hành ở Bắc Kinh yêu cầu một cuộc đối thoại chính thức giữa chính quyền và các đại biểu do sinh viên bầu ra. (95) Trong nhiều thập niên trước đó, các nhà lãnh đạo Moscow và Bắc Kinh không hề viếng thăm nhau. (96) Quân đội được điều về Bắc Kinh thiết lập các trạm kiểm soát, lùng bắt những người phản kháng và phong toả các khu vực trường đại học. Cuộc tấn công bắt đầu lúc 10:30 tối ngày 3-6-1989: Xe bọc thép và quân đội vũ trang với lưỡi lê tiến vào từ nhiều hướng đi theo sau là máy ủi và xe phun nước. Quân đội đã bắn thẳng về phía trước và xung quanh. Các sinh viên chạy trốn trong các xe buýt bị các nhóm binh sĩ lôi ra và đánh đập bằng những cây gậy lớn. Những sinh viên đang tìm cách rời khỏi quảng trường cũng bị binh sĩ bao vây và đánh đập. Rất nhiều người biểu tình đã bị xe tăng cán chết, không biết chắc có bao nhiêu người bị tàn sát ngay tại Quảng trường Thiên An Môn. Chính phủ Trung Quốc không bao giờ đưa ra con số chính xác về lượng người bị giết. Các nhà báo nước ngoài, những người chứng kiến vụ việc, tuyên bố có ít nhất 3.000 người chết. Các nhà phân tích tình báo của NATO cho rằng con số thương vong lên tới 5.000 đến 7.000 người (6.000 thường dân 1.000 binh sĩ). 5:40 phút sáng ngày 4-6-1989, Quảng trường được rửa sạch cả xác người và máu. (97) Phóng viên của hãng thông tấn AP, Jeff Widener, chụp ngày 5-6-1989. (98) Cuộc thăm dò trong thanh niên được đăng trên báo Tuổi Trẻ số ra ngày 14-1-89 cho thấy: 57,3% không hài lòng cuộc sống hiện thời; 41,15% không hài lòng vì tương lai không được đảm bảo; 82,69% quan tâm đến việc làm, nghề nghiệp; 82,38% quan tâm đến kinh tế đất nước; Chỉ có 10/260 ý kiến lạc quan cho rằng đất nước sẽ khá lên; 24,2% phân vân; 5,3% không tin tưởng; 49% tin đất nước sẽ khá nhưng còn lâu dài. (99) Từ ngày 4 đến 11-2-1945, trước khi Hitler bị các gọng kìm siết lại, Stalin, Roosevelt và Churchill lại nhóm họp họp tại Cung điện Livadia gần thành phố Yalta, miền nam Ukraina, nhằm giải quyết những bất đồng để giành chiến thắng, buộc Đức đầu hàng vô điều kiện và tổ chức lại thế giới sau chiến tranh. Hội nghị Yalta quyết định: Chia nước Đức sau khi bị chiếm ra 4 vùng; Buộc Đức phải phi quân sự hoá, dân chủ hoá và bồi thường chiến tranh. Một “trật tự hai cực” bắt đầu hình thành tại Yalta, sau khi “tam đại gia” đi đến thoả thuận, theo đó: Liên Xô nắm Đông Âu, Đông Đức, Đông Berlin, quần đảo Cu-ryl, Bắc Triều Tiên, Đông Bắc Trung Quốc và Mông Cổ; Hoa Kỳ nắm ảnh hưởng ở Tây Âu và phần còn lại của Nhật Bản. Bán đảo Triều Tiên được chia đôi ở vĩ tuyến 38: quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc; quân đội Mỹ chiếm đóng miền Nam. Nước Đức chia hai, hình thành hai nhà nước với hai chế độ chính trị khác nhau: Cộng hoà Liên bang Đức ở phía Tây và Cộng hoà Dân chủ Đức phía Đông. (100) Ngày 1-9-1939, Đức xâm lược Ba Lan. Ngày 17-9-1939, trong khi Ba Lan đang dồn tổng lực lên phía Tây chống Đức, Liên Xô tiến đánh đất nước nhỏ bé này từ phía Đông. Quân đội Ba Lan phải chạy sang tổ chức lại trên đất Pháp. Ngày 6-10-1939, Ba Lan bị chia làm hai: phần do Hitler chiếm bị kiểm soát dưới một thiết chế gọi là “Toàn quyền Đức”; phần do Stalin chiếm bị nhập vào “lãnh thổ Liên Xô”. Hơn 100 nghìn người Ba Lan đã bị quân đội Stalin sát hại, một triệu người khác bị đày tới Siberi. Đặc biệt, 22.000 người Ba Lan, trong đó có 15.000 tù binh, đã bị Bộ Chính trị do Stalin đứng đầu phê chuẩn lệnh, đưa ra rừng Katyl sát hại. (101) Sau chiến tranh thế giới thứ II, Berlin cũng như nước Đức, bị “xẻ làm tư” theo thoả ước Potsdam. Các nước Anh, Pháp, Mỹ sau đó đã trả lại quyền tự chủ cho người Đức trên phần lãnh thổ mà mình tiếp quản. Năm 1948, Stalin ra lệnh phong toả, không cho vận chuyển lương thực thực phẩm từ Đông sang Tây nhưng vẫn không có người Tây Đức nào đi sang phía Đông Cộng sản. Trong khi, có hơn 3,5 triệu người Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức. Ngày 1-8-1961, Tổng bí thư Liên Xô, Krushchev, điện đàm với Ulbricht, Bí thư thứ nhất Đông Đức, đưa ra “sáng kiến” để ngày 12-8-1961, Ulbricht ký lệnh đóng cửa biên giới và một bức tường bê tông đã được người Đức cùng với “Hồng Quân Liên xô” nửa đêm “lén lút dựng lên”. (102) Theo mô hình Kinh tế Mới nhằm giải phóng nền kinh tế của Nhà kinh tế học Ota Šik. (103) Tăng quyền tự do cho báo chí, và cho tự do đi lại, “quan hệ tốt với các nước phương Tây”. (104) Liên Xô mặc dù đã bắt giữ Dubček vào đêm 20-8-1968 đưa về Moscow nhưng trước áp lực của dân chúng đã phải đưa ông trở lại. Tháng 4-1969, Dubček mới bị trục xuất khỏi Đảng Cộng sản Tiệp Khắc và được trao cho một công việc tại sở kiểm lâm. (105) Cố vấn An ninh Quốc gia dưới thời Reagan. (106) Từ tháng 6-1980, biểu tình, đình công đã lan rộng trong hơn 150 nhà máy, xí nghiệp. Tại xưởng đóng tàu Gdánsk, nơi mà tháng 12-1970, cảnh sát đã giết hại bốn mươi lăm công nhân tham gia biểu tình, Lech Walesa đưa ra “bản yêu cầu 16 điểm” cho chính quyền. Ngày 16-8-1980, sau khi nhận được lời hứa tăng lương và đảm bảo rằng, một bia tưởng niệm sẽ được xây dựng ngay trong xưởng để tưởng nhớ những công nhân bị giết hồi năm 1970, nhiều công dân đã định ra về. Nhưng, Walesa đã thuyết phục họ ở lại để ông nâng bản yêu cầu của mình lên “18 điểm”. (107) Thành Tín, Sự kiện Ba Lan, Nhân Dân ngày 1-1-1982. (108) Thành Tín, Sự kiện Ba Lan, Nhân Dân ngày 1-1-1982. [Ông Jaruzelski sau đó viết hồi ký nói rằng Thiết quân luật là điều “tồi tệ nhưng cần thiết” để ngăn không cho Liên Xô đưa quân vào dẹp các cuộc biểu tình của Công đoàn Đoàn kết. Nhưng, các bằng chứng mới được Viện Ký ức Quốc gia (Instytut Pamieci Narodowej - IPN) đưa ra sau thời cộng sản lại nói chính ông Jaruzelski đã gặp phía Liên Xô để xin có can thiệp quân sự. Giáo sư Antoni Dudek, Đại học Tổng hợp Warsaw, làm việc cho IPN trong bài đăng trên trang báo Tygodnik Powszechny hôm 1/12/2011, nhân kỷ niệm 30 năm Thiết quân luật ( đã viết rằng vài ngày trước khi ra quyết định, tướng Jaruzelski đã xin Nguyên soái Liên Xô Viktor Kulikov, Tổng tư lệnh khối Hiệp ước Warsaw cho can thiệp quân sự từ bên ngoài. Các sử gia phe hữu Ba Lan cũng bác bỏ quan điểm ‘cứu quốc’ của ông Jaruzelski, và cho rằng ông làm như vậy chỉ là để cứu chức vụ của chính mình và duy trì quyền lực. Vào thời điểm xảy ra Thiết quân luật, tai Ba Lan có ít nhất hàng chục nghìn quân Liên Xô, đóng từ sau Thế chiến II. Theo Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Tương trợ 14-5-1955, và Hiệp ước về quân đội Liên Xô đồn trú tại Ba Lan 17-12-1956, Liên Xô đóng tại vùng từ 400-500 nghìn quân trong nhiều năm ở 60 căn cứ và doanh trại từ các vùng phía Tây lên tới cảng Kolobrzeg và vịnh Szczecin (giáp Đức). Con số này đến cuối thập niên 1980 giảm xuống nhưng cũng còn ít nhất 70 nghìn trước khi rút về nước sau khi Liên Xô sụp đổ]. (109) Reagan quan sát rất tinh tế khi đưa ra nhận xét: “Làm sao bạn có thể nghĩ rằng đó là một nền kinh tế vững chắc trong khi nó thực sự chẳng khác một gia đình trong đó bảy người cùng sở hữu một chiếc xe ô tô, và nếu bạn bắt đầu mua một cái bạn phải đợi mười năm mới đến lượt” (Theo John Paul II và Lịch sử bị che đậy trong thời đại chúng ta). (110) Tuyên bố đó của Gorbachev đã bị phản đối bởi những lãnh tụ cộng sản như Gustav Husak, Tổng bí thư Tiệp Khắc, Erich Honecker, Tổng bí thư Đông Đức và Nicolae Ceausescu, Tổng bí thư Rumani. (111) Tuyên bố ngày 24-5-1989 của Tổng thống G. W. H. Bush. [Hơn hai mươi ngày trước đó, ngày 26-7-1989, khi phát biểu nhân kỷ niệm ba mươi sáu năm vụ tấn công vào pháo đài Moncada, chủ tịch Cuba, Phidel Castro, cũng đã nói câu “đế quốc chớ có hí hửng vội vàng”. Khi đó, Liên Xô đang căng thẳng do xung đột sắc tộc và do hàng trăm nghìn thợ mỏ đình công ở Siberi và Donhetsk. Không phải ngẫu nhiên mà từ hai đầu bán cầu, hai nhà lãnh đạo cùng tương thanh. Ngày 24-4-1989, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã có chuyến thăm kéo dài năm ngày ở Cuba. Trở về Sài Gòn gặp tổng biên tập các tờ báo Thành Phố, ông Linh đã tỏ ra hết sức tâm đắc với Chủ tịch Phidel Castro nhất là trên phương diện chống đế quốc và bảo vệ thành trì cộng sản]. (112) Bước ngoặt lịch sử này có thể nói là bắt đầu được đánh dấu kể từ ngày 18-1-89, khi Jaruzelski công nhận vai trò hợp pháp của Công đoàn Đoàn kết. Ngày 6-2-89, đại diện chính phủ và các phe đối lập đã ngồi lại với nhau để bàn về tương lai của Ba Lan. Theo đó, một cuộc bầu cử tự do bầu Thượng viên và Hạ viện Ba Lan sẽ diễn ra vào ngày 4-6-1989. Công đoàn Đoàn kết đã giành thắng lợi gần như tuyệt đối tại Thượng viện và chiếm được gần phân nửa tại Hạ viện. Jaruzelski vẫn được Quốc hội của Walesa ủng hộ lên làm Tổng thống Ba Lan. Nhưng, ngày 22-8-1989, khi Jaruzelski định đưa người của Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan lên làm thủ tướng, Công đoàn Đoàn Kết đã không chấp nhận. Ngày 24-8-1989, Tadeusz Mazowwiecki, cố vấn của Walesa trong các cuộc biểu tình năm 1980 ở Gdansk, đã được đưa lên làm thủ tướng Ba Lan. Walesa tuyên bố: “Chúng tôi sẽ đưa Ba Lan trở lại tình trạng trước chiến tranh, phát triển như là một nước tư bản chủ nghĩa. Nếu Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan không cùng đi theo con đường của chúng tôi thì sẽ bị gạt ra khỏi chính phủ”. (113) Bài xã luận, đăng ngay trong số báo Nhân Dân số ra ngày 26-8-1989, viết: “Thực chất sự kiện chính trị đang diễn ra ở Ba Lan là Công đoàn Đoàn kết với sự tiếp tay của các thế lực đế quốc, chủ yếu là đế quốc Mỹ, đang làm cuộc đảo chính phản cách mạng ở Ba Lan. Cuộc đấu tranh của những người cách mạng Ba Lan dưới sự lãnh đạo của Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan là cuộc đấu tranh chính nghĩa, quyết định chủ quyền dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Ba Lan, quyết định việc bảo vệ thành quả cách mạng của nhiều thế hệ cách mạng và của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Ba Lan đã giành được, nay đang đứng trước nguy cơ lớn. Những người cộng sản, giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân Việt Nam từ lâu đã có tình cảm gắn bó với những người cách mạng chân chính ở Ba Lan vô cùng căm phẫn và cực lực lên án hành động của những lực lượng phản động chống phá chủ nghĩa xã hội ở Ba Lan”. (114) Trả lời phỏng vấn tác giả. (115) Vào ngày 6-10-1989, tại Đông Berlin, Gorbachev tuyên bố: “Kẻ nào đến quá chậm sẽ bị lịch sử trừng phạt”. Gorbachev nhớ lại: Khi nghe những nhóm thanh niên đứng dưới lễ đài gào lên bằng tiếng Đức, “Gorby, tự do”, Thủ tướng Ba Lan Tadeusz Mazowiecki đến gặp tôi và nói: “Mikhail Sergeevich, ngài có hiểu tiếng Đức không?”. Tôi trả lời: “Đọc hiệp định bằng tiếng Đức thì khó, chứ những gì mà họ gào lên với tôi, tôi hiểu cả”. Ông ấy trả lời: “Thế thì bây giờ ngài sẽ hiểu rằng đấy chính là sự kết thúc”. (116) Diễn văn của Nguyễn Văn Linh đọc vào ngày 15-10-1988 tại Nhà hát lớn Hà nội trong lễ tuyên bố kết thúc hoạt động của các đảng Dân chủ và Xã hội (117) Theo ông Hàm Châu, tổng biên tập báo Tổ Quốc, cơ quan của Đảng Xã Hội: “Năm 1944, Bác viết thư cho ông Dương Đức Hiền, giao cho ông Hiền thành lập Đảng Dân Chủ - sau này trở thành một tổ chức thành viên của Việt Minh. Năm 1946, Bác Hồ và ông Trường Chinh trực tiếp giao trách nhiệm cho ông Phan Tư Nghĩa, nguyên đảng viên Đảng Xã Hội Pháp và Hoàng Minh Giám, phó tổng thư ký đảng bộ Đảng Xã Hội Pháp tại Đông Dương, lập ra Đảng Xã Hội Việt Nam. Vai trò của hai đảng này là rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn Hồ Chí Minh ra tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau năm 1975, theo chủ trương của Đảng Lao Động Việt Nam, hai đảng Dân Chủ và Xã Hội không còn được kết nạp thêm đảng viên mới”. (118) Trong bức thư viết ngày 12-1-1994 gửi Tổng bí thư Đỗ Mười, ông Nguyễn Xiển viết: “Thưa Anh. Chắc Anh còn nhớ lại nội dung câu chuyện giữa chúng ta trong buổi trao tặng huân chương Sao vàng cho Đảng Xã hội Việt Nam trước khi kết thúc 40 năm hoạt động. Tôi có nói với Anh tại sao tôi không gia nhập Đảng cộng sản: ‘Hồ chủ tịch đã giao cho tôi làm phó Tổng thư ký rồi Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam. Bây giờ đã già rồi, tôi vào Đảng cộng sản làm gì’. Sau khi tuyên bố thôi hoạt động thì chúng tôi an phận thủ thường. Tuy không nhắc lại chuyện cũ, nhưng cũng thật khó hiểu vì sao khi đăng tin cáo phó hoặc mừng thọ một số đảng viên Xã hội hay Dân chủ, kể cả các nguyên uỷ viên Ban chấp hành Trung ương, thì báo chí ta không dám nói đến khía cạnh hoạt động này nọ. Trường hợp đưa tin mừng đại thọ 90 tuổi của anh Hoàng Minh Giám trên bao Nhân Dân (có đăng ảnh Anh đến thăm gia đình) là một ví dụ điển hình. Vì sao lại không dám nhắc đến việc làm phó Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam của Anh ấy trong mấy chục năm qua, nhưng lại nêu là đã từng làm Phó chủ tịch Quốc hội (một chức vụ Anh Giám chưa bao giờ làm) Tôi đã đích thân yêu cầu Báo Nhân Dân đính chính nhưng đã không được đáp đúng mức. Việc viết lịch sử cách mạng Việt Nam gần đây, trong đó có lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, thường quá chú trọng đến thành tích, quy công cho Đảng, nhưng lại chưa nêu đúng mức hoăc bỏ qua những sai lầm, khuyêt điểm (thậm chí có lúc nghiêm trọng) cũng như vai trò, đóng góp của quần chúng, những người ngoài Đảng. Bản sơ thảo lịch sử Quốc hội khoa I là một ví dụ. Những bài viết về tôi đăng trên một số báo gần đây không dám đề cập đến hoạt động 40 năm của tôi trong Đảng Xã hội Việt Nam. Tôi xin nêu thí dụ gần đây nhất: Nhà báo Hoàng Phong có viết một bài về sự nghiệp của tôi, đăng trên báo Đoàn Kết của Hội Việt kiều tại Pháp. Mặc dù rất thân, song cũng không dám đả động gì đến 40 năm làm Phó rồi Tổng thư ký Đảng Xã hội Việt Nam của tôi”. (119) Ông Trần Xuân Bách nói: “Như mọi người đều biết, thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên và sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã không diễn ra ở những nước tư bản phát triển. Vì vậy, chủ nghĩa xã hội được Karl Marx dự báo có những điểm không hoàn toàn khớp với hiện thực 70 năm qua. Khoa học xã hội chưa phân tích đầy đủ những hiện tượng ấy, ít vạch ra sự không ăn khớp đó mà chủ yếu là bảo vệ, biện luận những tư tưởng kinh điển, rốt cuộc là rơi vào giáo điều cả trong lý luận lẫn thực tiễn. Những mô hình chủ nghĩa xã hội, vì vậy, tỏ ra thiếu sức sống, ít thuyết phục và kém hấp dẫn” (Nhân Dân 27-10-1988). (120) Báo Nhân Dân số ra ngày 27-10-1988. (121) Báo Nhân Dân số ra ngày 27-10-1988. (122) Báo Nhân Dân số ra ngày 27-10-1988. (123) Tuổi Trẻ 1-4-1989. (124) Nhân Dân số ra ngày 6-6-1989. (125) Báo Lao Động số ra ngày 10-8-1989. (126) Báo Lao Động số ra ngày 10-8-1989. (127) Trả lời phỏng vấn tác giả ngày 20-11- 2011. (128) Khi đó, ở miền Nam, ông Linh “bật đèn xanh” cho các tập đoàn, hợp tác xã trả lại đất cho nông dân. Người được ông Linh trực tiếp giao nhiệm vụ này là ông Nguyễn Thành Thơ kể trong hồi ký chưa xuất bản của mình: “Một hôm, khoảng mười giờ sáng, anh Mười Dài (Nguyễn Văn Long, phó Ban Nông nghiệp Trung ương), nói: ‘Tối nay tôi tới gặp anh, đề nghị anh ở nhà, không đi đâu’. Tối, đúng sáu giờ, Mười Dài tới. Anh chủ động nói: ‘Tôi mới làm việc với anh Nguyễn Đức Tâm, trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng, anh Trần Xuân Bách, Bí thư Trung ương. Các anh nói với tôi: Anh Nguyễn Văn Linh đi theo con đường xét lại, lôi kéo mươi Thơ chạy theo, tôi đề nghị anh tách khỏi anh Linh, quên những gì anh Linh nói’. Tôi nghe như sét đánh trời quang. Thời gian đó, có dư luận nói, anh Sáu Lê Đức Thọ vào Sài Gòn bàn với các đồng chí lão thành cách mạng về việc thay đồng chí Nguyễn Văn Linh vì đồng chí Linh đi theo xét lại. Anh Linh đi họp Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ tại Dinh Độc Lập nói: Đưa tôi lên bằng lá phiếu, đề nghị đưa tối xuống cũng bằng lá phiếu, đừng đưa tôi xuống bằng súng đạn”. (129) Ông Vũ Cao Đàm nói: “Ông Trần Xuân Bách chưa một lần nói đến hai chữ ‘đa đảng’. Toàn bộ những nghiên cứu của chúng tôi đã được anh Bách xem xét rất thận trọng và cuối cùng anh đã tóm lược (rất kín kẽ) như sau: Thứ nhất, cần mạnh dạn thực hành chính sách kinh tế theo kiểu chính sách kinh tế mới của Lenin, và anh Bách đã nói theo cách đã sử dụng từ Đại hội lần thứ VI, là ‘kinh tế thị trường’, với sự tham gia của mọi thành phần xã hội. Thứ hai, theo kinh tế quyết định luận của Marx, đã đa thành phần kinh tế, mà anh gọi là ‘đa nguyên kinh tế’, thì tất yếu sẽ dẫn đến ‘đa thành phần’ trong xu hướng chính trị, mà anh cũng thẳng thắn gọi là ‘đa nguyên chính trị’. Thứ ba, anh đưa ra nhận định khái quát: thị trường và đa nguyên là những thành tựu nổi bật của nhân loại”. (130) Trong bài phát bài nói chuyện ở 53 Nguyễn Du vào ngày 13-12-1989, bản lược ghi được “Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ” quay ronéo và phổ biến, ông Trần Xuân Bách nói: “Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là thế nào? Có nước tự cho mình không cần đổi mới, đã bị bục vỡ. Có nước coi đổi mới kinh tế phải làm nhanh, còn đổi mới chính trị thì chầm chậm cũng bục chuyện. Có nước chỉ đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị, đã bục to. Có nước làm cả hai, nhưng không nhịp nhàng, gặp khó khăn. Hai lãnh vực này phải nhịp nhàng, không chân trước chân sau, không tấp tễnh đi một chân”. Về dân chủ ông Bách nói: “Dân chủ không phải là ban ơn, không phải là mở rộng dân chủ. Đó là quyền của dân, với tư cách là người làm nên lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Thực chất của dân chủ hoá là khơi động trí tuệ của toàn dân tộc để tháo gỡ khó khăn và đưa đất nước đi lên kịp thời đại”. Về kinh tế, ông Bách cho rằng: Hai vấn đề chủ yếu của cơ chế kinh tế là vấn đề sở hữu và vấn đề thị trường (luận đề: Kế hoạch nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên thị trường). Hai vấn đề chính của cơ chế chính trị là: quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh, vai trò lãnh đạo của Đảng và quyền lực của nhân dân (luận đề: Đảng nằm trong chứ không nằm ngoài và đứng trên xã hội). (131) Ông Trần Xuân Bách nói: “Sau vụ đàn áp Thiên An Môn, Trung Quốc không tuyên truyền về cải tổ ở Liên Xô nữa. Ở Liên Xô, Gorbachev coi cải tổ là cuộc cách mạng với các thành phần và các nhân tố khác nhau, đan xen nhau, thống nhất với nhau và độ dài của cải tổ có thể là hàng chục năm. Đồng chí Gorbachev nêu lên ba vấn đề chính của cải tổ dân chủ hoá, hạch toán kinh tế và cải tổ Đảng, cải tổ để có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn. Đặt vấn đề như vậy là đúng chứ không sai”. Ông Bách cho rằng: “Mác sống thời chủ nghĩa tư bản cổ điển, ngày nay là chủ nghĩa tư bản hiện đại, có nhiều cái khác với thời Mác. Ngay thời Lê-nin, khi đề ra chính sách kinh tế mới (NEP), cũng đã đổi khác với những dự báo của Mác rồi. Phải có tư duy khoa học. Tụng từng câu ‘Kinh Thánh’ trong sách Mác không bảo vệ được chủ nghĩa Mác đâu. Ngay cả về chủ nghĩa xã hội hiện nay đang có những cuộc tranh luận để hiểu nó thế nào cho đúng. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là đi tới một xã hội, trong đó sự phát triển toàn diện của mọi người là điều kiện cho sự phát triển toàn diện của xã hội như Mác và Ănghen nói trong ‘Tuyên ngôn Cộng sản’. Còn cụ thể như thế nào thì ta phải tìm. Trong Hội nghị Trung ương Bảy, có thảo luận một vấn đề thú vị: Ban Văn hoá Tư tưởng đề nghị nêu những thuộc tính của chủ nghĩa xã hội, nhưng bị bác bỏ” (Bài nói chuyện ở 53 Nguyễn Du vào ngày 13-12-1989 của ông Trần Xuân Bách bản lược ghi được “Câu lạc bộ Những người Kháng chiến cũ” quay ronéo và phổ biến). (132) Bức Tâm thư ngày 22-1-1990 của nhóm Nguyễn Ngọc Giao gửi về Việt Nam viết: “Do những đường lối, chính sách không phù hợp với tình hình thế giới cũng như với thực tế của Việt Nam, nước ta đã bị cô lập về mặt kinh tế cũng như ngoại giao và vẫn chưa thoát ra khỏi cảnh nghèo khó. Đau lòng hơn nữa, cuộc đổi mới khởi động năm 1986 đã bị trì hoãn, bỏ lỡ một cơ may lớn, làm tổn thương lòng tin của nhân dân mới phần nào được phục hồi. Những biến cố vừa xảy ra ở Đông Đức, Tiệp Khắc và nhất là Rumani cho thấy là trong một tình hình chính trị, kinh tế, xã hội bế tắc kéo dài quá lâu, sự thụ động bề ngoài của quần chúng mà sức kiên nhẫn chịu đựng dẫu sao cũng có giới hạn, nhiều khi chỉ là sự bình lặng trước cơn bão lớn. Để tránh cho đất nước khỏi rơi vào thảm kịch Thiên An Môn hay Rumani, trước tiên cần nhận thức rằng không thề dùng đàn áp hay bạo động để giải quyết những vấn đề trầm trọng hiện nay của đất nước mà phải tìm được những phương pháp chính trị thích nghi”. Bức Tâm thư kêu gọi: “Hãy vì quyền lợi tối cao của dân tộc, sớm cải tổ hệ thống chính trị hiện có bằng cách: Thực sự tách rời các định chế của Nhà nước ra khỏi bộ máy chính đảng để cho Nhà nước thu hồi trọn vẹn những quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của mình, để cho không một ai cũng như không một tổ chức nào có thể đứng trên và chi phối Nhà nước; Thiết lập một nền dân chủ đa nguyên, thực sự bảo đảm an toàn cá nhân và các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, lập đảng”. (133) Những người ký tâm thư, sau đó, hoặc không được cấp visa về nước, hoặc bị thẩm vấn, có người được nêu tên trong suốt 14 năm trời ở “Bảo tàng tội ác Mỹ - Nguỵ”; danh sách 34 người ký tên đầu tiên được niêm yết ở trụ sở các tỉnh đội và cơ quan công an, nhân viên sứ quán ở nhiều nước (kể cả đại sứ) được chỉ thị ngăn chặn đồng bào ký tên hay thúc ép rút tên nhưng bức Tâm thư vẫn có hơn 700 người ký. (134) Ông Trần Xuân Bách li dị từ năm 1956 và sống độc thân cho tới giữa thập niên 1970, khi ông đang làm trưởng Ban Tôn giáo của Đảng. Một lần đến sân bay Gia Lâm đón đoàn khách quốc tế, ông Bách nhìn thấy một cô gái chỉ mới ngoài hai mươi, tóc dài, gương mặt trái xoan, trắng mịn và xinh đẹp. Người con gái đó là Trần Thị Đức Thịnh, sinh năm 1954 ở làng Ngọc Thuỵ, Long Biên, Hà Nội. “Anh ấy yêu tôi từ phút đầu”, bà Thịnh kể. Bà Thịnh nói tiếp: “Tôi cũng yêu anh ấy nhưng khi anh đặt vấn đề thì tôi sợ. Anh Bách hơn tôi hai mươi tám tuổi. Tôi chỉ là một nữ tiếp tân phụ trách đội nữ nhà bàn ở nhà khách trung ương còn anh thì đang là một nhà lãnh đạo tên tuổi”. Mối tình của họ thoạt đầu bị dư luận phản đối. Năm 1975, bà Thịnh được điều vào Sài Gòn làm việc ở Nhà khách Trung ương T78 những sự xa cách lại làm cho họ thêm quyết tâm. Năm 1976, trước Đại hội Đảng lần thứ IV, Lê Đức Thọ gặp Trần Xuân Bách: “Chúng tớ muốn cơ cấu cậu vào Trung ương nhưng cái dở là cậu lại yêu cô Thịnh. Cậu chọn thế nào?”. Bà Thịnh kể: “Chồng tôi nói lại với ông Sáu Thọ: ‘Vào Trung ương thì cũng chỉ một hai khoá rồi thôi, còn lấy vợ để sống cả đời anh ạ’. Rất may là cả ông Trường Chinh và Lê Duẩn đều ủng hộ: ‘Lấy vợ là việc riêng, đừng can thiệp!”. Tháng 12-1976, họ cưới nhau, năm 1977 sinh con gái đầu lòng đặt tên là Trần Vũ Vân Anh, năm 1982 sinh tiếp cô con gái thứ hai đặt tên là Trần Vũ Xuân Hương. (135) Sau khi bị mất chức, ông Trần Xuân Bách vẫn được ở lại biệt thự 65 Phan Đình Phùng, nhưng các chế độ thực phẩm từ cửa hàng “Tôn Đản” thì ngay lập tức bị cắt. Về sau, ông được cấp một căn biệt thự khác có khuôn viên rộng 400m2 ở khu Trung Tự, từ tháng 9- 1995 ông chuyển về đây. (136) Trong “Kiến nghị về một chương trình cấp bách nhằm khắc phục khủng hoảng”, Giáo sư Phan Đình Diệu cho rằng: “Một chế độ chính trị dân chủ, đoan kết và hoà hợp dân tộc. Nên kinh tế thị trường với sự tôn trọng đầy đủ quyền tự do kinh doanh và trao đổi hàng hoá của mọi thành viên xã hội tất yếu phải được hỗ trợ bởi một chế độ chính trị tôn trọng các quyền tự do dân chủ của mọi người dân”. “Nỗi ám ảnh của quá khứ” của giáo sư Trần Quốc Vượng viết: “Có độc lập rồi chăng, nhưng hoạ lệ thuộc vẫn luôn luôn mai phục, cả về mô hình chính trị và sự phát triển kinh tế… Có thống nhất rồi chăng, nhưng mầm chia rẽ vẫn mọc rễ sâu xa, nào Băc/Nam, nào cộng sản/không cộng sản… Điều chắc chắn là nhân dân chưa có hạnh phúc, tự do thật sự”. Ngày 1-3-1990, khi nói chuyện với cán bộ Ban Tổ chức Trung ương, nhà văn Dương Thu Hương cảnh báo: “Nếu Đảng và nhà nước không có một chương trình cải cách thật sự và triệt để, không tìm được một mô hình xã hội tiến bộ thích hợp với các điều kiện lịch sử Việt Nam thì chắc chắn sẽ xảy ra một cuộc lưu huyết”. Theo nữ văn sỹ Dương Thu Hương, hai điều cốt lõi của cải cách xã hội, là: Bo ngay nguyên tắc chuyên chính vô sản và nguyên tắc tập trung dân chủ. Theo bà: “Thực chất hai nguyên tắc này đảm bảo cho mô hình một xã hội độc tài và cực quyền. Tôi nói gọn lại: Xã hội ta chỉ có thể được cải cách và phát triển khi nó thủ tiêu hai nguyên tắc đã quá lạc hậu và man rợ: chuyên chính và tập trung”. Năm 1989, Dương Thu Hương đã bị khai trừ Đảng tịch vì đã viết những cuốn sách ám chỉ chủ nghĩa xã hội là những “Thiên đường mù”, là những “Bờ ảo vọng”. (137) Thông báo số 232/TB-TW, ngày 6-12-1990 của Ban Bí thư viết: “Các thế lực phản động đa lợi dụng và lôi keo Thành Tín để phục vụ âm mưu của chúng hòng chống phá cách mạng nước ta, thực hiện diễn biến hoà bình, bôi xấu Đảng và Nhà nước ta, chia rẽ nhân dân và Đảng, làm cho nhân dân mất tin tưởng ở Đảng, ở chế độ xã hội chủ nghĩa, kích động và gây sức ép đòi Đảng ta thay đổi đường lối, từ bỏ sự lãnh đạo. Việc làm của Thành Tín ở Pháp cùng những bài nói của Thành Tín trên đài BBC (Anh) mang tính chất phản bội Đảng và nhân dân ta, gây tác hại nghiêm trộng về nhiều măt… Ban Bí thư giao cho Ban tư tưởng-văn hoá Trung ương vạch rõ những quan điểm sai trai trong những lời phát biểu của Thành Tín trên đài BBC (Anh) để toàn Đảng biết, giao cho Ban biên tập báo Nhân Dân bày tỏ trên báo Nhân Dân thái độ của mình đối với hành động của Thành Tín”. (138) Công văn ngày 27-8-1991 của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương đã xếp những phát biểu này vào danh mục những “bài nói, bài viết chống đối chế độ và sự lãnh đạo của Đảng”. Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương cho in roneo những bài viết này, gửi Trưởng ban tuyên huân các tỉnh, thanh, đặc khu, yêu cầu họ “nghiên cứu phân tích, phê phán những quan điểm sai trái và giáo dục cảnh giác, vạch trần những luận điệu, xuyên tạc, chống đối” của các tác giả. Theo công văn ngày 27-8-1991, các giáo sư Phan Đình Diệu, Trần Quốc Vượng,… được xếp chung với ông Bùi Tín. (139) Theo ông Võ Viết Thanh, khi ấy là Thứ trưởng Bộ Nội vụ phụ trách An ninh: “Không phải công an mà Văn hoá Tư tưởng có dùng một số biện pháp rất căng với chị Dương Thu Hương. Tôi cho anh em A25 tiếp cận khuyên chị: Bên ngoài có thể lợi dụng, chị nên cẩn thận, nếu sa đà quá thì trong bối cảnh này bất lợi cho một nước đang tập trung đổi mới kinh tế và đang cần ổn định. Tôi đề xuất và ông Mai Chí Thọ cũng đồng ý là không nên bắt. Khi đó, chị Hương xin xuất cảnh tôi vẫn cho chị đi dù Tuyên huấn khuyên không nên cho đi. Một hôm, tôi đang công tác ở miền Nam thì nhận được điện của Cục Tham mưu nói Ban Bí thư yêu cầu bắt Dương Thu Hương. Tôi biết đó là ý kiến của ông Nguyễn Văn Linh và ông Nguyễn Đức Bình nên trả lời: Đã Ban Bí thư chỉ đạo thì chúng ta phải chấp hành”. (140) Thư ký của Tổng bí thư Đỗ Mười, ông Nguyễn Văn Nam, kể: Khi ông Đỗ Mười lên thay, Văn phòng phải đổi xe cho ông bằng cách, một buổi sáng trước giờ vào Vinh công tác, Văn phòng báo là chiếc Lada bị hư, phải thay gấp bằng một chiếc Nissan mới. Ông Đỗ Mười đành phải lên chiếc Nissan rồi trong suốt chuyến đi ông nhận ra “xe tư bản” chạy êm hơn rất nhiều so với chiếc Lada xã hội chủ nghĩa. Tới Vinh, ông Đỗ Mười xuống xe, vươn vai khoan khoái. Cán bộ Văn phòng chớp thời cơ thưa với ông: “Sức khỏe của anh là tài sản quốc gia, từ nay, đề nghị anh sử dụng chiếc xe này”. Ông Đỗ Mười im lặng và chiếc Lada được đem “thanh lý”. (141) Theo báo Nhân Dân số ra ngày 14-6-1988: Xử lý hộp đen hay gọi theo cách thông dụng là “quay hộp đen” nhằm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp công nghiệp là một biện pháp quan trọng góp phần chống lạm phát, ổn định tình hình kinh tế, xã hội. Đến xí nghiệp, hợp tác xã nào đồng chí Tổng bí thư cũng nêu vấn đề đó, nghe báo cáo và thảo luận với giám đốc và công nhân, yêu cầu được nghe về biện pháp “xử lý hộp đen”… Đồng chí Tổng bí thư nhấn mạnh: “Đã từ lâu nay, thiết bị, vật tư chúng ta tính ra giá quá rẻ, tính không đủ ‘đầu vào’, nhà nước bù lỗ quá lớn. Tình trạng ‘lời giả’, ‘lỗ thật’ rất phổ biến. Tuy nhiên, theo Tổng bí thư: “Chúng ta phải có trách nhiệm với người sản xuất và người tiêu dùng. Không nên vin vào ‘thị trường chấp nhận’ rồi đưa giá lên, vì trong lúc này có những thứ giá cắt cổ mà người mua vẫn chấp nhận”. (142) Số ra ngày 14-6-1988. (143) Thư của Giáo sư Hoàng Tuỵ và Giáo sư Phan Đình Diệu gửi báo Nhân Dân viết: Hơn một tháng nay, trên các báo trung ương thường thấy xuất hiện, cả ở dòng tít lớn, một số thuật ngữ mới như “hộp đen”, “xử lý hộp đen” và “quay hộp đen”. Mới nghe, tưởng như các nhà quản lý kinh tế nước ta đang trên đà đổi mới, dám mạnh dạn vận dụng cả những khái niệm điều khiển học mà ngay cả các nước tiên tiến nhất cũng chỉ mới có một sốt ít nhà chuyên môn dùng đến. Nhưng, đọc kỹ thì hoá ra các thuật ngữ khoa học đó bị hiểu sai lạc và sử dụng tuỳ tiện, không ăn nhập gì với nội dung khoa học thật sự của chúng. Điều đáng tiếc nhất là các vấn đề được bàn tới bằng các thuật ngữ đó lại là những vấn đề cực kỳ hệ trọng và nghiêm chỉnh của đất nước ta hiện nay… Và, trong số những người hay dùng thuật ngữ đó lại có nhiều cán bộ lãnh đạo từ cấp cao tới cấp thấp. Theo Giáo sư Hoàng Tuỵ và Giáo sư Phan Đình Diệu: Trong điều khiển học, hộp đen (black box) chỉ dùng để chỉ một hệ thống mà người nghiên cứu không có khả năng hoặc điều kiện để biết (hoặc không cần biết) cấu trúc và cơ chế hoạt động bên trong của nó. Do đó, phải nghiên cứu hệ thống bằng cách quan sát và theo dõi mối quan hệ giữa các tác động từ bên ngoài vào với các phản ứng đáp lại của hệ thống… Như vậy, các thuật ngữ ‘xử lý hộp đen’, ‘quay hộp đen’ là hoàn toàn vô nghĩa…”. Sau khi dẫn các giải thích của các nhà lãnh đạo cũng như một số “nhà khoa học” đăng trên các báo, Giáo sư Hoàng Tuỵ và Phan Đình Diệu kết luận rằng: “Không có một nhà điều khiển học đứng đắn nào, không có một nhà kinh tế học nghiêm chỉnh nào lại có thể hiểu về hộp đen như thế. Khi viết những dòng nói trên, hai vị giáo sư khả kính đã phải rào đón: Chúng tôi rất phân vân: chẳng lẽ im lặng, cứ để việc không hay này kéo dài mà không có ý kiến. Nhưng, góp ý thì đụng đến báo chí (nhất là báo Đảng), đụng đến lãnh đạo. Thật ra ai cũng hiểu rằng, cán bộ lãnh đạo dùng các thuật ngữ khoa học không phải do tự mình nghĩ ra mà do gợi ý của các tham mưu khoa học. Cho nên đáng trách ở đây là các tham mưu khoa học nào đó đã không thận trọng, bản thân chưa nắm vững các khái niệm cơ bản của điều khiển học mà đã dám mượn uy tín lãnh đạo tung các khái niệm ấy ra quần chúng một cách vô trách nhiệm (Văn Nghệ 30-7-1988). (144) Theo Trần Độ: “Đây không phải là một vở kịch hay. Nhưng, Ban Tuyên huấn Hà Nội muốn ‘đánh chết’. Thay vì nói thẳng với đoàn kịch, họ tổ chức một buổi trình diễn có cả Bí thư Thành uỷ Nguyễn Thanh Bình và Trưởng ban Văn hoá Văn nghệ Trung ương dự, hy vọng ông Độ, ông Bình chê, rồi ‘cáo mượn oai hùm’, kết liễu đời một tác phẩm”. Nhưng xem xong vở kịch, Trần Độ đề nghị cứ cho đoàn kịch diễn. Tháng 6-1988, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 5, khoá VI, Nguyễn Văn Linh phê phán một số tác phẩm văn nghệ, trong đó có vở kịch “Em đẹp dần lên trong mắt anh”. Theo Trần Độ, cuối phần phát biểu ông Linh kết luận: “Dân chủ phải có lãnh đạo, tự do không phải là vô bờ bến”. Trần Độ nói lại: “Sáng nay, đồng chí Tổng bí thư trong khi nói về Văn hoá văn nghệ có nhận xét đánh giá một số tác phẩm. Tôi đề nghị nên coi đó là ý kiến của một công chúng bình thường thưởng thức nghệ thuật”. Nguyễn Văn Linh phát biểu buổi sáng, Trần Độ trả lời vào buổi chiều, nhưng chiều hôm đó ông Linh lại không có mặt. Bốn chữ “công chúng bình thường”, theo Trần Độ: “Đã được một số kẻ cơ hội nống lên để kích Tổng bí thư… Trong một cuộc họp Bộ Chính trị, Đào Duy Tùng, Bí thư Trung ương Đảng phụ trách công tác tư tưởng, nói: Sau Nghị quyết 05 có xảy ra một số sự kiện đáng lưu ý, trong đó có chuyện đồng chí Trần Độ nói Tổng bí thư là một công chúng bình thường…”. Trần Độ nhớ lại: “Thế là anh Linh giận tôi. Tôi biết rõ điều này qua thái độ của anh đối với tôi những ngày sau đó. Trong một dịp làm việc với Bộ Chính Trị, anh Linh đã nói một cách nghiêm trọng với tôi: Anh nói thế là xúc phạm tôi một cách nặng nề”. Trần Độ kể rằng, ông đã cố gắng xử lý mối bất hoà với Tổng bí thư bằng cách viết thư. Nhưng, ảnh hưởng của Trần Độ với phong trào đổi mới trong văn nghệ coi như kết thúc khi, cuối thư trả lời Trần Độ, ông Nguyễn Văn Linh “tái bút: Dạo này tôi bận lắm, vì vậy có chuyện gì về văn hoá văn nghệ anh nói với anh Đào Duy Tùng, chứ đừng nói chuyện với tôi nữa”. (145) Trần Hoài Anh, Văn Nghệ 30-4-1988. (146) Báo Văn Nghệ ngày 1-10-1988. (147) Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 15-12-1988. (148) Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nói: “Sự nghiệp đổi mới ở nước ta, công cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đang đặt ra nhiều vấn đề mới tác động đến nhận thức tư tưởng và tâm trạng chính trị, xã hội phức tạp. Kẻ thù và những phần tử xấu đang xuyên tạc tình hình, phá hoại lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa” (Tuổi Trẻ 15-12-1988). (149) Tô Hoà sinh năm 1926 tại Quảng Ngãi, năm 1945 ông tham gia cướp chính quyền tại Sài Gòn. Năm 1954 ông đi tập kết làm báo ở miền Bắc, năm 1970 về lại miền Nam làm trưởng Tiểu Ban Báo chí Khu uỷ Sài Gòn-Gia Định. (150) Báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 1-7-1989. (151) Tờ Tuổi Trẻ (ngày 9-7-1987) đưa tin: Tối 7-7-1987, Ban Chấp hành Thành Đoàn họp thông qua danh sách dự kiến, Phạm Phương Thảo làm bí thư; Lê Văn Nuôi làm phó bí thư thường trực. Việc ban chấp hành cũ giới thiệu người vào các chức danh cụ thể là một việc làm rất cũ của hệ thống chính trị nhưng thông tin đó đã làm cho các đại biểu về dự đại hội có cảm giác như họ bị đặt vào tay một “chuyện đã rồi”. Hôm sau, 11-7-1987, đúng ngày Đại hội Đoàn Thành phố bỏ phiếu, báo Tuổi Trẻ lại “nhắc nhở” các đại biểu khi cho dịch từ báo Liên Xô câu nói của đại biểu Huyện đoàn Kursk: “Chúng tôi cần thủ lĩnh Đoàn cho chính mình chứ không phải cho cấp trên”. Kết quả: Phạm Phương Thảo đã không trúng cử; Lê Văn Nuôi, nguyên chủ tịch Tổng hội học sinh Sài Gòn trước 1975, trở thành bí thư Thành Đoàn. Việc làm này của Tuổi Trẻ bị Thường vụ Thành đoàn (cũ) phê bình: “Đã làm cho đoàn viên thanh niên hiểu lầm là Ban Chấp hành cũ làm việc không dân chủ” (Tuổi Trẻ 14-7-1987). (152) Kim Hạnh, Những Gương Mặt Triều Tiên Tôi Đã Gặp, Tuổi Trẻ 27-7-1989 và Đến Thăm Trường Mẫu Giáo Bình Nhưỡng, Tuổi Trẻ 29-7-1989. (153) Thông báo Kỷ luật nhà báo Vũ Kim Hạnh được ông Nguyễn Võ Danh ký ngày 8-8-1991 cho biết: “Cá nhân đồng chí Tổng Biên tập Kim Hạnh đã bộc lộ những sai lầm về quan điểm chính trị, thiếu vững vàng về lập trường giai cấp công nhân… Những sai lầm đó được bộc lộ rõ nhất là từ năm 1989 tới nay”. (154) Hồ Chí Minh được “chính sử” ghi là không lấy vợ vì “cả cuộc đời vì nước vì non”. (155) Năm 1991, khi viết bài thơ: Kim-Mộc-Thuỷ-Hoả-Thổ, trong đó có hai câu: Ta nhờn nhợn cái há mồm vĩ nhân tôm cá/ Khạc đủ đồ nghề thằng nọ con kia…, theo nhà thơ Nguyễn Duy là để “tức cảnh” khi nghe ông Nguyễn Văn Linh gọi “Con Hương, thằng Sáng”.

Chương 14 rKiệt

Sau thành công của “cởi trói” và “những việc cần làm ngay, “khoảng cách” giữa
Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và các thành viên khác trong Bộ Chính trị không
còn chỉ “cách nhau sợi tóc” như ông ví von lúc đầu. Khác với Lê Duẩn và
Trường Chinh, quyết định nhân sự dưới thời Nguyễn Văn Linh không còn là công
việc của Ban Tổ chức. Sự quyết đoán của ông trong một số trường hợp, mở đầu
bằng việc lựa chọn Đỗ Mười thay vì Võ Văn Kiệt đứng đầu Chính phủ, đã ảnh
hưởng không nhỏ tới tiến trình cải cách của Việt Nam. Mối quan hệ giữa Võ
Văn Kiệt và Nguyễn Văn Linh tưởng như rất gần gũi, nhưng trên thực tế, trong
tính cách cá nhân và trong chính trị giữa hai người có rất nhiều khác biệt.
Tại sao Đỗ Mười

Ngày 10-3-1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng qua đời. Người kế
nhiệm, ông Đỗ Mười, kể: “Anh Hùng đi đột ngột. Anh ấy đang bình thường, khỏe
mạnh, ăn cơm xong nằm nghỉ trưa nghe vọng cổ rồi bị sặc cơm mà mất”. Thể
theo hiến pháp, ngày 11-3-1988, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công ký
quyết định cử ông Võ Văn Kiệt, phó Chủ tịch thường trực làm quyền chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng “cho đến khi Quốc hội bầu chủ tịch mới”. Ông Đỗ Mười nói
tiếp: “Tôi thấy bình thường. Tôi từ khi tham gia cách mạng tới giờ Đảng bảo
làm gì làm nấy, không đòi hỏi gì cả, không xin gì cả”.

Ông Đỗ Mười coi việc ông Võ Văn Kiệt tạm đứng đầu Chính phủ là bình thường
không chỉ là một phát biểu xã giao. Theo ông Nguyễn Đình Hương, phó Ban Tổ
chức Trung ương: “Từ Đại hội IV, năm 1976, khi đưa Tố Hữu, Võ Văn Kiệt, Đỗ
Mười đứng vào hàng uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đã
bàn với nhau và có sự ủng hộ của Phạm Văn Đồng, thống nhất đặt ba người vào
trong đội dự bị. Năm 1982 khi điều ông Võ Văn Kiệt từ Sài Gòn, ông Lê Đức
Thọ nói đưa Sáu Dân ra Hà Nội là để chuẩn bị làm thủ tướng. Khi ấy Tố Hữu
cũng được chuẩn bị cho chức vụ Tổng bí thư. Nhưng Tố Hữu khi làm phó chủ
tịch thường trực Hội đồng Bộ trưởng vướng vào sai lầm trong vụ
giá-lương-tiền nên uy tín sút giảm. Tại Đại hội VI tuy Tố Hữu vẫn được đề cử
vào Trung ương nhưng khi bầu thì không trúng”.

Tháng 6-1988, Quốc hội khoá VIII nhóm họp kỳ thứ Ba, nhiều đại biểu ngạc
nhiên khi người được đề cử chính thức thay thế ông Phạm Hùng là ông Đỗ Mười
thay vì ông Kiệt. Bà Ba Thi Nguyễn Thị Ráo, một phụ nữ thân thuộc với cả ông
Kiệt và Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nói trước Quốc hội: “Chúng tôi tha thiết
đề cử đồng chí Võ Văn Kiệt. Nhân dân miền Nam, nhất là Sài Gòn rất kính
trọng đồng chí Võ Văn Kiệt. Chúng tôi chỉ biết Võ Văn Kiệt, tôi tha thiết đề
nghị Quốc hội bầu đồng chí Võ Văn Kiệt”.

Đại biểu Lý Chánh Trung đề nghị đưa hai ứng cử viên để Quốc hội bầu, ông
nói: “Một trong những động lực giúp chúng tôi vận động bà con Sài Gòn xuống
đường là để chống bầu cử độc diễn ở Sài Gòn. Bây giờ chúng ta có độc lập mà
vẫn độc diễn thì chúng tôi khó ăn nói với bà con lắm”. Ý kiến của bà Ba Thi
đã bị một đại biểu ở miền Bắc, bà Nguyễn Thị Kim Đính, chủ tịch Liên hiệp Xã
Hải Hưng, phản đối: “Tôi đồng tình có hai ứng cử viên nhưng tôi không đồng ý
với chị Ba Thi, nếu chúng tôi cũng nói là miền Bắc chỉ biết đồng chí Đỗ Mười
thì sao”.

Thực ra không chỉ có các đại biểu đến từ miền Nam, Quốc hội biết khá rõ ông
Đỗ Mười. Bầu “tư lệnh” của cả hai chiến dịch “cải tạo tư sản” đứng đầu chính
phủ trong thời kỳ thực hiện chính sách “kinh tế nhiều thành phần” không khỏi
làm cho nhiều đại biểu băn khoăn, thắc mắc.

Theo ông Vũ Mão, có 33 trên tổng số 53 đoàn đại biểu quốc hội đề cử ông Võ
Văn Kiệt như một ứng cử viên thứ hai để Quốc hội bầu chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng; ngoài ra, còn có bốn đoàn giới thiệu Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một
đoàn giới thiệu ông Nguyễn Cơ Thạch. Tuy nhiên, ông Võ Văn Kiệt kiên quyết
từ chối, ông nói: “Tôi là đảng viên, tôi tuân thủ nguyên tắc Đảng. Ban Chấp
hành Trung ương đã giới thiệu đồng chí Đỗ Mười rồi thì nếu có gì khác, chúng
ta phải báo cáo Trung ương”. Ban Bí thư phải họp, và theo ông Vũ Mão, chủ
nhiệm Văn phòng Quốc hội: “Anh Nguyễn Văn Linh rất hay ở chỗ, dù không ưa
anh Kiệt, anh vẫn đồng ý để Quốc hội bầu chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng với hai
ứng cử viên”.

Khi từ chối không tham gia cuộc bầu cử này, ông Võ Văn Kiệt hiểu rất rõ “ý
thức chấp hành” của một quốc hội mà cho dù tỉ lệ đảng viên là bao nhiêu thì
tất cả đại biểu đều là người của Đảng. Nhưng, sau cuộc họp của Ban Bí thư,
giữa đêm khuya, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo tìm đến nhà ông Kiệt nói:
“Ban Bí thư bàn, thấy xưa nay chưa có tiền lệ đưa hai ứng cử viên ra Quốc
hội nhưng các đoàn đề nghị gay gắt quá. Đề nghị anh không rút tên”.

Đây là lần đầu tiên kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, Quốc hội bầu
một chức danh mà có hai ứng cử viên trên lá phiếu. Việc làm này không chỉ
mới mẻ với những đảng viên thường mà với cả những người trong cuộc. Theo ông
Vũ Mão: “Anh Đỗ Mười nói với tôi: cả tuần nay, mình mất ngủ, không hiểu tại
sao trong Đảng ta lại có hai ứng cử viên. Tôi nói: thưa anh, đấy là thành
quả của đổi mới”. Chiều 22-6-1988, Quốc hội bỏ phiếu, kết quả: ông Đỗ Mười
đắc cử với 296 phiếu; 168 đại biểu bỏ phiếu cho ông Võ Văn Kiệt; một đại
biểu bỏ phiếu trắng.

Ông Đỗ Mười nhận chức nhưng rất lo lắng vì ông, ứng cử viên của Đảng, chỉ có
được 63% số phiếu bầu thay vì 100% như tiền lệ. Điều ông lo lắng hơn là sự
ủng hộ của các địa phương miền Nam. Ông Kiệt kể: “Tôi nói với anh Mười, tôi
trực, tôi sẽ làm hết sức mình, còn đối với anh em miền Nam anh cứ mạnh dạn
vào làm việc, tôi tin là anh em sẽ ủng hộ anh”. Nhớ lại thời kỳ này, ông Đỗ
Mười nói: “Hai anh em cộng tác rất tốt, tôi với anh Kiệt cũng gắn bó lắm”.

Một năm sau, ông Kiệt nói: “Khi kiểm điểm trong Bộ Chính trị, có hai ba ý
kiến đánh giá một trong những ưu điểm của tôi là cộng tác tốt với anh Đỗ
Mười. Tôi nói với họ các anh nói ưu điểm thì tôi cũng vui nhưng tôi rất lạ
là tại sao các anh có thể nghĩ là tôi không thể cộng tác với anh Mười. Tôi
đâu có cạnh tranh, lẽ ra tôi dứt khoát rút tên nhưng Ban Bí thư đã quyết
định thì tôi phải theo. Đây là công việc đâu phải là vấn đề riêng tư để tôi
có thể không cộng tác với một người được Trung ương chọn”.

Đã từng là bí thư Trung ương Cục, ông Nguyễn Văn Linh cũng tiên liệu được sự
phản ứng của miền Nam khi quyết định chọn Đỗ Mười. Trợ lý của Nguyễn Văn
Linh, ông Bùi Văn Giao, kể: “Sau khi ông Phạm Hùng chết, anh Linh lên Hồ Tây
họp bàn trước với hai ông cố vấn: Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ. Họp xong, ông
Linh kêu tôi qua nói: ‘Giao à, bọn tôi bàn để Đỗ Mười thay Phạm Hùng’. Tôi
kêu lên: ‘Trời ơi, sao lại Đỗ Mười’. Ông Linh: ‘Tôi biết, nhưng từ khi làm
Tổng bí thư tôi nói Đỗ Mười nghe rồi’. Rồi ông Linh kêu tôi chuẩn bị, hôm
sau đi cùng ông. Ông Linh nói: ‘Trung ương giao tôi vào miền Nam, Võ Chí
Công vào miền Trung, Nguyễn Đức Tâm đi các tỉnh miền Bắc làm công tác tư
tưởng’. Ông Linh đi tới đâu cũng gặp phản ứng. Ông phải nói: ‘Đây là quyết
định của Bộ Chính trị”.

Một uỷ viên Trung ương thân cận của ông Nguyễn Văn Linh, Trưởng Ban Tuyên
huấn Trần Trọng Tân, kể: “Anh Linh giải thích: Hồi cải tạo, tôi với anh Đỗ
Mười khác nhau lắm, đụng nhau dữ lắm. Nhưng anh Đỗ Mười có cái hay, điều gì
Đảng đã quyết rồi thì anh ấy thi hành quyết liệt”. Một người từng làm trợ lý
cho ông Nguyễn Văn Linh, ông Dương Đình Thảo, bổ sung: “Ông Mười Cúc đã từng
cãi nhau rất găng với ông Đỗ Mười về đổi mới nhưng ông nghĩ, Đỗ Mười là
người trung thành, tổ chức thực hiện kiên quyết khi đã có nghị quyết”.

Nhưng vấn đề không phải là tán thành hay không tán thành ông Đỗ Mười. Tuy
Nguyễn Văn Linh sinh ra và lớn lên ở miền Bắc nhưng cuộc đời hoạt động của
ông gắn với miền Nam, gắn với Sài Gòn. Năm 1956, ông Võ Văn Kiệt gặp ông
Nguyễn Văn Linh lần đầu tiên và cho đến cuối đời ông Kiệt vẫn nhắc món bê
non thui chấm nước mắm gừng theo kiểu Bắc mà ông Linh đãi ông năm ấy. Tại
sao ông Linh đã không chọn ông Võ Văn Kiệt trở thành câu hỏi của rất nhiều
cán bộ miền Nam, những người đã gắn bó với cả ông Kiệt và ông Nguyễn Văn
Linh từ thời Trung ương Cục.

Ông Bùi Văn Giao kể: “Vừa nghe ông Linh nói chọn ông Mười, tôi thắc mắc ngay
‘Sao không chọn ông Kiệt?’. Ông Linh kể một loạt cái xấu của ông Kiệt rồi
nói: ‘Khi tôi mất Bộ Chính trị, về Sài Gòn, Sáu Dân không bao giờ gặp tôi’.
Anh Linh tốt nhưng thành kiến ai thì chết người đó”. Ông Chín Đào Phan Minh
Tánh, bí thư Trung ương Đảng cho biết: “Ông Kiệt nhiều lần tâm sự, ‘Chín Đào
coi mình với anh Linh có gì không đúng?’. Tôi nói với ảnh: Khi ra Hà Nội anh
có thơ gởi đồng bào từ giã, trong thơ có dặn dò về anh Linh. Anh Linh cho là
trịch thượng. Chị Bảy Huệ cũng đồng ý với chồng. Anh Kiệt cười: ‘Chín Đào
biết mình coi anh Linh là đàn anh về tuổi, là thầy về cách mạng. Sao ảnh nỡ
nói vậy. Nhưng thôi, kệ ảnh”.

Cuối năm 1981, ông Nguyễn Văn Linh được điều trở lại Sài Gòn như một động
thái cơ cấu lại cán bộ chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ V họp vào đầu năm 1982.
Thế chính trị của ông Linh lúc ấy rất khó khăn, ông bị đưa ra khỏi Bộ Chính
trị vài tháng sau đó. Phó Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đình Hương nói: “Nếu
ông Lê Duẩn còn sống tới Đại hội VI thì sẽ không có Tổng bí thư Nguyễn Văn
Linh vì từ Đại hội V, ông Lê Duẩn và ông Lê Đức Thọ đã thống nhất quy hoạch
Tố Hữu sẽ làm Tổng bí thư, Võ Văn Kiệt làm thủ tướng và đặt ông Linh ra
rìa”. Trợ lý của Lê Duẩn, ông Trần Phương nói: “Anh Ba đánh giá Mười Cúc rất
thấp”. Theo ông Võ Văn Kiệt, chính ông đã đề nghị ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ
điều ông Nguyễn Văn Linh trở lại Thành phố Hồ Chí Minh khi ông Linh không
được dự kiến cho một chức vụ gì cụ thể.

Trong tình huống đó, trước khi chính thức ra Hà Nội nhận chức phó chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng, ông Võ Văn Kiệt đã viết một bức thư ngỏ đăng trên báo
Sài Gòn Giải Phóng. Sau khi chúc Tết và cám ơn “nhân dân Thành phố”, ông Võ
Văn Kiệt đã giới thiệu về ông Nguyễn Văn Linh như là nói về một người tiếp
theo mình chứ không rõ ra là nói về một đàn anh của mình(156).

Theo ông Tô Hoà, tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng: “Ông Kiệt cũng cân
nhắc, viết rất trân trọng và thận trọng. Nhưng ông Linh phản ứng với tôi
ngay: Sáu Dân lấy tư cách gì để giới thiệu tôi”. Ông Linh về Thành phố làm
bí thư, ông Kiệt ra Trung ương làm phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách
kế hoạch, Thành phố cũng có nhiều việc phải trao đổi và gặp gỡ. Ông Tô Hoà
nói: “Trong quan hệ, ông Kiệt cũng rất dở. Có lần ông Kiệt về nhà ở An Phú,
Sài Gòn. Sáng ra khi ông đang chơi tennis với ông Ngô Công Đức thì ông Linh
lên gặp. Lẽ ra nên ra tiếp ngay thì ông Kiệt lại ham bóng, cố theo cho xong
trái bóng. Ông Linh rất bực”.

Cũng theo ông Phan Minh Tánh: “Trước Đại hội VI, ông Linh cũng nghi ông Kiệt
vận động Trường Chinh ở lại và không bỏ phiếu ủng hộ ông Linh làm Tổng bí
thư”. Tại Hội nghị Trung ương 12, khoá V, khi thảo luận nhân sự cho khoá VI,
theo ông Lê Văn Triết(157): “Tôi nói: ‘Anh Trường Chinh nên tiếp tục làm
Tổng bí thư thêm một thời gian nữa rồi bàn giao cho anh Nguyễn Văn Linh. Thủ
tướng thì nên để anh Võ Văn Kiệt. Chủ tịch nước, theo tôi bây giờ không ai
có uy tín qua anh Giáp’. Nghe tới đó, ông Linh - đang thảo luận cùng tổ -
đập bàn cái rầm, quát: ‘Thôi! Bộ Chính trị yêu cầu các đồng chí tập trung
thảo luận hai vấn đề mà Bộ Chính trị hướng dẫn: cơ cấu và tiêu chuẩn. Tôi đề
nghị đồng chí tổ trưởng điều hành đúng’. Uỷ viên Trung ương Lê Phước Thọ
thấy căng, đề nghị giải lao. Ra hành lang, Nguyễn Văn Linh nói: ‘Cậu biết gì
về Sáu Dân? Tôi đề nghị cậu không được nói tới vấn đề Sáu Dân nữa. Dốt mà
không chịu học. Làm Uỷ ban Kế hoạch còn không xong lấy đâu ra thủ tướng’”.
Không chỉ ông Triết, nhiều người bất ngờ với thái độ này của ông Nguyễn Văn
Linh nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đó. Cimexcol hay “Vụ án Dương Văn Ba”

Tháng 12-1987, Bộ Nội vụ khởi tố vụ án Cimexcol, Phó Giám đốc Dương Văn Ba
bị bắt. Dương Văn Ba, cựu thành viên báo Tin Sáng, là người mà năm 1971 khi
tái tranh cử dân biểu tại Sóc Trăng đã được ông Võ Văn Kiệt, khi ấy là bí
thư Khu uỷ, cử người liên lạc và ngầm ủng hộ.

Tiền thân của Cimexcol là một liên doanh giữa Minh Hải và Thành phố Hồ Chí
Minh, được lập ra để hợp tác khai thác gỗ với Công ty Phát triển miền rừng
núi Lào(158). Trước khi Cimexcol ra đời, với sự thu xếp của ông Trần Bạch
Đằng, ông Lê Văn Bình khi ấy là uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ Minh Hải đã gặp
báo cáo với Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Linh. Năm 1985,
Cimexcol ra đời, Minh Hải cử ông Nguyễn Quang Sang, uỷ viên thường vụ Tỉnh
uỷ, giám đốc Sở Tài chánh, giữ chức giám đốc, nhưng người điều hành công ty
trên thực tế là Dương Văn Ba.

Việc sử dụng ông Dương Văn Ba, theo ông Đoàn Thành Vị, lúc đó là bí thư Minh
Hải: “Anh Lê Quân, nguyên phó bí thư Tỉnh uỷ Sóc Trăng, nói, lúc kháng chiến
chống Mỹ, anh Kiệt có phân công anh liên hệ với Dương Văn Ba. Anh Võ Văn
Kiệt nói với chúng tôi, Dương Văn Ba thuộc thành phần thứ ba, việc làm ăn
bây giờ thì tôi không rành nhưng các anh sử dụng được. Bất cứ ai mà làm ăn
phi pháp thì phải ở tù. Anh Kiệt dặn làm ăn với Lào thì phải lợi ích sòng
phẳng, đừng đem kinh nghiệm phá rừng ở Việt Nam sang Lào phá tiếp”.

Bằng cách khai thông những con đường hiểm trở nhất, đưa gỗ từ Lào qua Vinh
xuất khẩu, cả Cimexcol và phía đối tác Lào cùng kiếm được hàng chục triệu
đôla và biến một vùng hẻo lánh cách biên giới Việt Nam 20km thành một thị
trấn nhộn nhịp về sau gọi là thị trấn Lạc Sao.

Vào lúc công việc kinh doanh đang làm hài lòng cả Chính phủ Lào và chính
quyền Minh Hải thì ngày 4-12-1987, Ngô Vĩnh Hải, tổ trưởng tổ kiều hối của
Cimexcol bị bắt. Ngô Vĩnh Hải từng là một phóng viên của báo Tin Sáng, anh
trai của ông là Giáo sư Ngô Vĩnh Long khi ấy đang là Việt kiều ở Mỹ. Ngày
25-12-1987, Dương Văn Ba bị bắt và sau đó, công an bắt tiếp các thành viên
khác trong ban giám đốc và các trưởng phòng ban của Công ty Cimexcol.

Cũng trong tháng 12-1987, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chính quyền đưa vụ án
“Hoàng Cơ Minh và đồng bọn” ra xét xử. Hoàng Cơ Minh là phó đề đốc, tư lệnh
Vùng II Duyên hải, Hải quân Việt Nam Cộng hoà, di tản sang Mỹ từ tháng
4-1975. Năm 1981, ông về Thái Lan, lập căn cứ tại Udon một tỉnh gần biên
giới Lào. Năm 1982, ông tổ chức đại hội thành lập Đảng Việt Tân và Mặt trận
Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam. Trong khoảng thời gian Cimexcol đưa
người sang Lào khai thác gỗ, lực lượng Hoàng Cơ Minh tổ chức nhiều cuộc thâm
nhập vào biên giới Việt Nam mang tên “Đông Tiến I”, “Đông Tiến II”… nhưng
tất cả đều thất bại. Hoàng Cơ Minh bị thương và tự sát vào đêm 27-8-1987.

Có thể đã không có vụ án Cimexcol nếu như tư lệnh cuộc hành quân “Đông Tiến
I” không có tên là Dương Văn Tư. Một số bị can trong vụ Cimexcol đã bị thẩm
vấn: “Dương Văn Tư có phải là em ruột của Dương Văn Ba không?”. Một thành
viên của “Ban chuyên án Cimexcol”, ông Tống Kỳ Hiệp, phó bí thư thường trực
tỉnh Minh Hải, thừa nhận: “Vụ án Cimexcol lúc đầu là vụ án chính trị, khởi
tố theo thư từ tố cáo của cán bộ về hưu cũng như đương chức tỉnh Minh Hải:
Dương Văn Ba đưa vào Công ty hơn bốn mươi người của chế độ cũ, thao túng và
vô hiệu hoá ban giám đốc Cimexcol để hoạt động chống cách mạng”(159).

Trung tướng Võ Viết Thanh, khi ấy là thứ trưởng Bộ Nội vụ, nói: “Phụ trách
an ninh, tôi thấy không có cơ sở nào để tin Cimexcol sang Lào chuẩn bị chiến
khu, làm cơ sở thâm nhập vào Việt Nam. Khi ấy ai cũng biết ông Võ Văn Kiệt
rất ủng hộ nhóm anh em ở Cimexcol hợp tác với Lào. Trong khi giữa ông Nguyễn
Văn Linh và ông Võ Văn Kiệt lại đang có vấn đề. Ông Linh chỉ đạo ông Lâm Văn
Thê trực tiếp làm án. Ông Thê lúc ấy là thứ trưởng Bộ Nội vụ kiêm giám đốc
Công an Thành phố Hồ Chí Minh”.

Khi không tìm thấy bằng chứng của một vụ hoạt động chính trị, lẽ ra phải
đình chỉ điều tra, vụ Cimexcol lại được chuyển qua thành vụ án kinh tế. Để
có thể xét xử Cimexcol như một vụ án kinh tế, chuyện Dương Văn Ba “móc nối
với một số tư nhân có xe ô tô trốn cải tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng
Nai về Minh Hải hợp đồng kéo gỗ do Ba làm đại diện từ năm 1979” đã được lật
lại. Cho dù Cimexcol “lãi 2,235 triệu đôla và đang có tổng tài sản trị giá
mười ba triệu đôla”, nhưng các cơ quan tố tụng chỉ ghi nhận con số mà
Cimexcol đang nợ ngân hàng - 5,3 triệu đô la - để đánh giá công ty làm ăn
thua lỗ. Việc nhập xe gắn máy “Honda nghĩa địa” với giá từ 180-200 
đôla/chiếc về bán “theo chỉ đạo của Thường vụ Tỉnh uỷ cho cán bộ” với giá từ
400-600 đôla cũng bị coi là “tội” vì tuy công ty vẫn lãi gấp đôi, gấp ba
nhưng so với “giá thị trường” thì giá bán này của Cimexcol đã gây “thiệt hại
1063 lượng vàng” cho Nhà nước.

Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Minh Hải Lê Văn Bình, tên thường gọi là Năm
Hạnh, đã bị đưa ra trước vành móng ngựa. Báo cáo trước cuộc họp ngày
9-3-1994 của Ban Bí thư tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Tống Kỳ Hiệp nói:
“Lúc đầu chọn đưa anh Ba Hùng ra, vì anh Ba Hùng lúc Cimexcol hoạt động là
chủ tịch, nhưng anh Nguyễn Đức Tâm nói: Ba Hùng đã về hưu đưa ra xử lý không
có ý nghĩa, phải chọn người đương chức, nên chọn anh Năm Hạnh. Lúc đó anh Ba
Hương (Lâm Văn Thê), thứ trưởng Bộ Nội vụ, kêu chúng tôi nói với Năm Hạnh ra
toà đừng nói gì cả, chỉ nhận là thiếu trách nhiệm được rồi, để xử lý bọn kia
thôi. Nhưng anh Năm Hạnh không làm vậy, ra toà anh còn phát biểu bào chữa
cho Cimexcol”.

Ở thời điểm ấy, ông Năm Hạnh đang là chủ tịch kiêm trưởng Đoàn Đại biểu Quốc
hội tỉnh Minh Hải. Ông vừa tu nghiệp ở Liên Xô về và khi ấy đang là một cán
bộ có nhiều triển vọng. Việc truy tố ông Năm Hạnh Lê Văn Bình gây ngạc nhiên
cho toàn miền Tây.

Đầu thập niên 1970, Năm Hạnh từng là cánh tay mặt của ông Võ Văn Kiệt. Khi
ông Kiệt là bí thư Khu uỷ Tây Nam Bộ, Năm Hạnh là bí thư Khu Đoàn được những
cán bộ trẻ của Khu Tây Nam Bộ coi như thần tượng.

Phiên toà xử vụ án Cimexcol diễn ra từ ngày 14 đến 22-4-1989 theo thủ tục
kết hợp “sơ chung thẩm”, nghĩa là các bị án không có quyền kháng cáo. Theo
ông Phạm Văn Hoài (Ba Hùng), người tiền nhiệm của ông Năm Hạnh: “Vì tính
chất điển hình, Toà mời đại diện các tỉnh thành thuộc B2 cũ tham dự rút kinh
nghiệm, bố trí lực lượng cảnh sát dày đặc, cả công an chìm vừa để ngăn chặn
biểu tình, vừa để trấn áp. Lãnh đạo cơ quan thông tin đại chúng đưa tin
trước, trong và sau phiên toà để hướng dẫn dư luận. Hơn sáu mươi phóng viên
báo đài từ trung ương đến địa phương đã có mặt. Riêng tại Minh Hải thì
truyền thanh trực tiếp phiên toà và truyền hình mỗi đêm. Phải nói tổ chức
một phiên toà quá đặc biệt”. Tuy nhiên, dư luận thay vì được “hướng dẫn” bởi
phiên toà đã quay sang chia sẻ rất nhiều với các bị cáo.

Trước phiên toà, Bộ Thông tin và Toà án đã tổ chức họp báo tại Bạc Liêu. Báo
chí và dư luận hết sức xôn xao. Toà chưa khai mạc, báo Công An Nhân Dân đã
cho xuất bản phụ san “Cimexcol trả giá đắt” đưa xuống bán 5.000 đồng một tờ
ở Minh Hải. “Phụ bản đã có nhiều nội dung xuyên tạc, vu cáo, không những đả
kích cá nhân mà còn xâm phạm đến uy tín danh dự của Đảng bộ và nhân dân Minh
Hải. Đặc biệt, do đăng mức án theo dự kiến cho từng bị cáo trước khi phiên
toà diễn ra nên có những bị cáo như Ngô Vĩnh Hải, án theo phụ san là ba năm
tù, phiên toà đã tuyên vô tội”(160).

E-kip truyền hình của Đài Cần Thơ theo dõi phiên toà suốt bảy ngày sau đó về
biên tập lại thành bảy chương trình có thời lượng tương đương với 4 giờ 30 
phút. Thay vì nói đủ về hai mươi mốt bị cáo, nhà báo Ngô Hoàng Giang đã xoay
quanh ba bị cáo gây tranh cãi nhất tại phiên toà. Như tên được đặt cho
chương trình, “Buộc tội và Gỡ tội”, trong từng phần, ý kiến của công tố viên
và luật sư được tường thuật đối nhau. Theo bà Ngô Hoàng Giang(161): “Đồng
bằng sông Cửu Long xem xong phản ứng dậy sóng luôn, Mười Mẫn, chủ tịch tỉnh
Cửu Long, khen hết lời còn cấp uỷ các địa phương trong vùng thì rất ủng hộ”.
Sau khi theo dõi phiên toà qua đài truyền hình, Ban Liên lạc đồng hương Minh
Hải ở Hậu Giang, gồm hai mươi cụ đang nghỉ hưu ở Cần Thơ, gửi thư phản đối
phiên toà. Một số nhà báo ở miền Tây cũng soạn thảo một lá đơn kiến nghị.

Ngày 20-5-1989, Ban Thường trực Mặt trận Tổ quốc tỉnh Minh Hải sau khi “tham
khảo dư luận xã hội đối với phiên toà” đã có một bản báo cáo nói rằng:
“Phiên toà thể hiện thiếu dân chủ ngay từ đầu: Cáo trạng và luận tội giống
nhau, bất chấp diễn tiến công khai xét hỏi và tranh luận; Cấm không cho báo
chí bình luận, cấm không được hoan nghinh khi bị cáo nói đúng; Báo Công An
Nhân Dân đã sử dụng tài liệu của Cục An ninh điều tra bôi nhọ các bị cáo…
đầu độc tâm lý quần chúng, hướng dư luận hiểu sai sự thật. Buộc tội Lê Văn
Bình thiếu trách nhiệm là không đúng, suốt thời gian Cimexcol hoạt động, Lê
Văn Bình chỉ là phó chủ tịch, khi lên chủ tịch thì được đưa đi học ở Liên
Xô, Lê Văn Bình trở về chỉ được bốn tháng thì Cimexcol bị thanh tra; Phiên
toà đã sử dụng Nguyễn Quang Sang, Thạch Phen để buộc tội Dương Văn Ba nên
tạo thời gian cho họ mặc sức tố Dương Văn Ba trong khi khống chế thời gian
bào chữa của các luật sư và bị cáo”. Báo cáo của Mặt trận Tổ quốc kết luận:
“Ở những phiên toà khác thì các bị cáo thường bị quần chúng căm ghét, nhưng
ở phiên toà này quần chúng lại xót thương và phải rơi lệ đối với tội phạm.
Quần chúng vỗ tay hoan nghinh bị cáo, nhứt là với bị cáo Lê Văn Bình”.

Ngày 4-5-1989, ông Võ Văn Kiệt viết thư gửi Đài Cần Thơ: “Đề nghị các đồng
chí gửi cho tôi số băng ghi chương trình đã phát. Đồng thời các đồng chí
sang băng toàn bộ số băng ghi hình để làm tư liệu của Đài cho tôi mượn”. Khi
mang số băng ghi hình này lên cho ông Võ Văn Kiệt, nhà báo Ngô Hoàng Giang
nhớ lại: Có lẽ tình hình rất căng nên khi tôi xin ông cái biên nhận thì vợ
ông, bà Cầm ngăn lại, nhưng ông la bà rồi lấy giấy ra viết biên nhận cho
tôi. Xong, ông dặn: “Tiếp tục dũng cảm đồng chí con nhé!”. Tôi nói: “Chuyện
người lớn con không biết, cái gì thấy đúng thì con sẽ làm”. Ngày 15-5-1989,
Văn phòng Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cũng cử Trợ lý Trương Anh Dũng vào xin
các cuộn băng về “vụ án Dương Văn Ba”.

Ngày 19-5-1989, Ban Bí thư điện cho Bộ trưởng Bộ Văn hoá-Thông tin Trần Hoàn
về “dư luận sau khi toà án xử vụ Cimexcol” và yêu cầu kiểm tra việc đưa tin
của Đài Truyền hình Cần Thơ. Bộ trưởng Trần Hoàn đã cử ông Lê Quý, giám đốc
cơ quan thường trú phía Nam, ngay trong ngày 20-5-1989, xuống Đài Cần Thơ
làm việc. Ông Lê Quý đã yêu cầu Truyền hình Cần Thơ “tạm ngưng tuyên
truyền”, cho dù theo Ban Giám đốc Đài thì họ nhận được rất nhiều thư yêu cầu
phát lại và đưa thêm ý kiến.

Ông Lê Quý lưu ý: “Nhiều đồng chí nói, các buổi tường thuật của Đài cho thấy
toà án của ta yếu quá, kém quá, hỏi các bị cáo nhiều câu ngớ ngẩn quá. Trong
khi đó lời bào chữa của bị cáo chính và của luật sư thì vững vàng, có lý có
lẽ và có tính thuyết phục”. Báo cáo nhanh ngày 22-5-1989 của ông Lê Quý viết
tiếp: “Có thể đó là sự thật, nhưng nếu kết quả đối với người xem tường thuật
vụ án chỉ có vậy thì đúng là cần phải rút kinh nghiệm”.

Trong hai ngày 29 và 30-5-1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng họp nghe báo cáo
“diễn biến trước, trong và sau phiên toà Cimexcol”. Trong ngày 30-5, Ban Bí
thư ra Thông báo 142 do chính Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ký, khẳng định:
“Kết quả phiên toà xét xử cơ bản là tốt vì đã xử đúng người đúng pháp luật.
Nhưng trước phiên toà, chung quanh phiên toà và sau phiên toà có những luồng
dư luận phủ nhận kết luận của phiên toà và có những hoạt động không lành
mạnh gây hoang mang trong dư luận”. Ông Nguyễn Văn Linh cho rằng: “Sở dĩ có
tình hình đó là do có những người liên quan đến can phạm và vụ án đã hoạt
động chống lại việc xét xử”.

Ông Linh thừa nhận một số thiếu sót của các cơ quan tố tụng và: “Yêu cầu làm
ngay các việc sau đây: a) Tỉnh uỷ Minh Hải phải có thông báo đánh giá tính
chất, hậu quả của vụ án, rồi đăng lên các báo khẳng định: toà xử là đúng
không phải Trung ương trù dập Minh Hải như một số dư luận loan truyền; b)
Ban Tư tưởng-Văn hoá làm việc với một số trưởng ban tuyên huấn của một số
tỉnh thành phía Nam và một số báo, đài để thông tin rõ cho chị em hiểu,
không phải như những dư luận không đúng đã và đang loan truyền; kiểm điểm và
xử lý nghiêm khắc một số cá nhân cố ý đưa tin, viết bài, quay phim một cách
lệch lạc (chú ý kiểm điểm Đài Cần Thơ, Đài Truyền thanh và báo Minh Hải, báo
Công An Nhân Dân). Hướng ngay báo đài viết một số bài về vụ án”.

Ngay sau đó, đích thân Thứ trưởng Bộ Văn hoá-Thông tin Lê Thành Tâm dẫn đầu
các đoàn làm việc xuống kiểm điểm Đài Cần Thơ và nhà báo Ngô Hoàng Giang. Bà
Giang nhớ lại: “Họ đặt ra cho tôi một loạt câu hỏi: tại sao đặt tên chương
trình là “buộc tội và gỡ tội”, tại sao tường thuật phiên toà lại quay cảnh
nhân dân ngồi dưới loa nghe các bị cáo nói rồi khóc, tại sao quay hình ảnh
bị cáo, luật sư thì đẹp còn toà viện thì tối um…”. Cho dù bà Ngô Hoàng Giang
giải trình ra sao thì trước chỉ thị của Tổng bí thư, Đài Truyền hình Cần Thơ
cũng phải nhìn nhận là đã “đưa tin phiến diện, một số câu hỏi sắc sảo của
Viện Kiểm sát, của Toà đã không được tường thuật”.

Phó Giám đốc Đài Cần Thơ Trần Quang Mẫn bị khiển trách vì “chủ quan, tin ở
cán bộ biên tập”. Phó Giám đốc Châu Ngọc Tiếp bị cảnh cáo vì “đã theo dõi
phiên toà, hiểu vấn đề phức tạp nhưng thiếu tinh thần trách nhiệm”. Phó
Phòng Thời sự Ngô Hoàng Giang bị cách chức vì “vi phạm tính chân thật của
báo chí cách mạng”. Ngày 10-6-1989, Tỉnh uỷ Minh Hải cũng phải cho ra Thông
báo số 19, yêu cầu: “Cán bộ, nhân dân Minh Hải cần tỉnh táo, nhận thức đúng
đắn kết quả phiên toà, cảnh giác các luận điệu của bọn xấu khai thác sơ hở
thiếu sót của phiên toà để phủ nhận kết quả phiên toà hoặc gây chia rẽ, phá
hoại sự đoàn kết thống nhất trong Đảng”.

Việc Tổng bí thư phải chủ trì hai ngày họp Ban Bí thư và đích thân ký vào
Thông báo 19 cho thấy ông Linh hiểu tính nghiêm trọng của dư luận xã hội.
“Phủ nhận kết quả phiên toà Cimexcol” là thách thức trực tiếp tới uy tín của
ông ở vùng đất mà ông đã từng là bí thư Trung ương Cục. Lúc ấy, ông Linh có
đủ quyền bính để kỷ luật các nhà báo không đưa tin về phiên toà theo định
hướng của ông.

Tuy nhiên, càng có nhiều nạn nhân ở miền Tây thì lòng trắc ẩn đối với những
người như ông Năm Hạnh, Dương Văn Ba càng dâng lên; đội ngũ cán bộ các tỉnh
Đồng bằng sông Cửu Long trước đó kỳ vọng vào cả ông Linh giờ đây nghiêng
sang gửi gắm niềm tin của họ vào vai trò của ông Kiệt. Ông Dương Đình Thảo
kể: “Khi ông Linh điều tôi từ Thành phố ra trung ương giúp việc cho ông, tôi
nói: tôi ra phục vụ anh nhưng tôi đề nghị, nếu anh thương Nam Bộ thì phải
thương Sáu Dân. Ông Linh trả lời: thương thế nào được, tôi cứu nó bao lần
rồi. Tôi bảo: anh nhớ là anh em người ta thương anh nhưng người ta cũng rất
thương anh Kiệt”. Hai tính cách

Vụ Cimexcol gây sứt mẻ không ít tình cảm giữa ông Kiệt, các đồng đội cũ ở
miền Tây với ông Linh, đặc biệt là những người đã từng gắn bó với ông Kiệt,
ông Linh và vợ ông, bà Bảy Ngô Thị Huệ. Một bên là chồng một bên là bạn bè,
đồng đội, bà Bảy Huệ là người day dứt nhất. Ông Kiệt là người đồng hương
Vĩnh Long và vẫn được bà Bảy Huệ coi như một người em trai. Ông Kiệt cũng đã
từng là người kế nhiệm ông Linh cả trước và sau chiến tranh.

Năm 1960, sau ba năm thay thế ông Linh làm bí thư Khu uỷ Sài Gòn-Gia Định,
tại Đại hội lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, ông Kiệt được chính ông
Linh giới thiệu và được bầu làm uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương
Đảng. Trong thời gian hai ông chiến đấu ở miền Nam, bà Bảy Huệ đã chăm sóc
Võ Dũng, rồi Võ Hiếu Dân, hai người con của ông Kiệt với người vợ đầu, bà
Trần Kim Anh. Cũng chính bà Bảy Huệ đã tìm gặp Phan Thanh Nam, đứa con lưu
lạc của ông Kiệt với bà Hồ Thị Minh. Sau vụ Cimexcol, Trần Bạch Đằng sang
nhà gặp bà Bảy Huệ, sau khi văng tục theo kiểu Nam Bộ, ông Đằng nói: “Đành
rằng làm chính trị là phải thủ đoạn. Nhưng làm chính trị thì cũng phải có
tình nghĩa, bạn bè chứ”.

Về sau, khi nhắc lại những xung đột giữa hai người, bà Bảy Huệ nhận xét:
“Mỗi người đều có cái ưu, ông Sáu là người dám rẽ sóng ra khơi xa, dám chịu
trách nhiệm. Nhưng mỗi ông cũng có cái nhược. Ông Sáu thì Nam Bộ phóng
khoáng. Ông Mười thì kỹ lưỡng Bắc Kỳ, nội chuyện ông Sáu lấy vợ, ông Mười
cũng không chịu”.

Bà Bảy Huệ đã chỉ ra điểm khác nhau tiêu biểu nhất. Nhưng, không chỉ xuất
thân từ hai vùng văn hoá, từ hoàn cảnh vào đời, con đường đến với những
người cộng sản, đến chuyện lấy vợ, đối xử với anh em, đồng chí của ông Linh,
ông Kiệt đều có nhiều điểm khác nhau. Đặc biệt, càng về sau, cách đánh giá
thời cuộc của hai ông càng có nhiều khoảng cách, sự khác biệt này có khi thể
hiện trong nhiều quyết sách, có khi xảy ra một cách ngấm ngầm, chỉ những
người ở rất gần mới thấy. Lớn hơn ông Võ Văn Kiệt bảy tuổi, ông Nguyễn Văn
Linh sinh ngày 1-7-1915 tại xã Giai Phạm, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên. Phu
nhân Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, bà Ngô Thị Huệ kể: “Cha anh là cụ Nguyễn
Đức Lan làm nghề dạy học, mẹ tảo tần buôn bán kiếm thêm chút đỉnh tiền phụ
vào đồng lương ít ỏi của chồng. Lên bốn tuổi anh đã mồ côi cha. Gánh nặng
nuôi nấng dạy dỗ ba chị em của anh đè trĩu lên đôi vai gầy của mẹ. Năm mười
một tuổi anh theo bà và chú Thụ về sống ở Hải Phòng và được chú gởi vào học
trường Bonnal, trường trung học đầu tiên ở Hải Phòng do người Pháp mở”.

Ngay từ khi còn học lớp nhì, ông Nguyễn Văn Linh đã được đọc những tác phẩm
văn chương bằng tiếng Pháp như Những Người Khốn Khổ, Không Gia Đình, được
học tại nhà với thầy Thế Lữ. Từ trong trường Tây, ông Nguyễn Văn Linh đã
được nghe một ông thầy người Việt, đóng cửa lớp, đọc cho học sinh nghe những
bài báo viết từ Paris của Nguyễn Ái Quốc. Mười bốn tuổi tham gia Học sinh
Đoàn của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Mười lăm tuổi bị bắt khi đang đi
rải truyền đơn, bị kết án chung thân và đày đi Côn Đảo. Từ năm 1930 đến năm
1936, ông Linh bị giam chung “Banh 1” và được giao phụ việc cho người tù lớn
tuổi Tôn Đức Thắng. Tại đây, ông học thêm tiếng Pháp từ các đồng chí của
mình và bắt đầu tiếp xúc với các tác phẩm của Marx-Lenin qua số sách báo mà
một “thuỷ thủ Pháp tiến bộ” cung cấp cho tù nhân Phạm Văn Đồng.

Cho tới lúc ấy, ông Kiệt vẫn chưa một ngày rời khỏi đồng quê, chưa nghe tới
hai từ “cộng sản”. Trước khi “làm cách mạng”, ông Kiệt chỉ mong kiếm được
nghề lơ xe hay cắt tóc để thoát khỏi cảnh chân lấm tay bùn và làng quê tù
túng. Thời ấy, những người dân quê ông, thấy ai nói giọng Đàng Ngoài đều cho
là “đám người Huế”.

Ông Võ Văn Kiệt sinh ngày 23-11-1922 tại ấp Bình Phụng, xã Trung Lương,
huyện Vũng Liêm, Vĩnh Long. Trong ấp lúc ấy chỉ có vài hương chức có nhà
ngói, dân làng phần lớn phải thuê đất, thuê ruộng. Cha ông, ông Phan Văn
Dựa, cũng nghèo như số đông trong làng, từ đất ở, đất ruộng, đến trâu cày
đều đi thuê hết.

Tên khai sinh của ông Võ Văn Kiệt là Phan Văn Hoà, con út trong một gia đình
có năm anh trai và hai chị gái. Gọi theo thứ bậc trong các gia đình Nam Bộ
là Chín Hoà. Thời gian ấy, mẹ ông, bà Võ Thị Quế, phải nuôi thêm đứa trẻ cho
một người bà con nên chấp nhận để Chín Hoà làm con nuôi một ông chú họ tên
là Phan Văn Chi, không con, không vợ. Từ năm lên sáu, lên bảy tuổi, vào mùa
gặt, Chín Hoà thường theo cha nuôi lênh đênh đi gặt mướn cho các điền chủ
dọc sông Tiền, sông Hậu. Công việc của cậu là giữ ghe hoặc mót lúa. Mỗi mùa
như thế, Chín Hoà cũng kiếm thêm cho cha nuôi được vài giạ. Sông nước miền
Tây, khắp Cà Mau, Bạc Liêu cậu rành từ hồi đó.

Năm tám tuổi, Chín Hoà bắt đầu được đi học. Lớp học do những gia đình trung
nông, địa chủ, sau ngày mùa, cất trại, rước thầy về “dạy mùa” và gần như
không lấy tiền của con trẻ. Ông Hai Mẹo, một trong hai người thầy “dạy mùa”
của ông, kể: “Năm 1932, lấy được mảnh bằng, tôi về làng, ông chú thấy tôi có
chữ, kêu tôi dạy cho trẻ con lối xóm. Chín Hoà thông minh và ăn nói lễ độ
lắm. Nhưng dạy được hai năm thì tôi cũng hết chữ, rồi thôi”. Mấy năm sau,
những người truyền giáo cho cất một trường học nhỏ dọc theo con đường đi qua
ấp Bình Phụng. Ông Hai Chi thấy Chín Hoà khát chữ lại nhân có trường, ông
nói: “Cho mày đi học tiếp”. Những lớp học ở làng không đưa lại cho Chín Hoà
bằng cấp nhưng đã giúp cậu đọc thông viết thạo.

Khi tham gia hoạt động, Chín Hoà đã lấy họ Võ của mẹ rồi tự chọn tên cho
mình, cái tên mà về sau thành danh: Võ Văn Kiệt. Con đường làm cách mạng của
Chín Hoà cũng rất tình cờ. Trong đám giỗ 100 ngày của mẹ, cậu gặp ông Hà Văn
Út, nghe ông Út nói với mấy anh lớn chuyện áp bức, chuyện bình đẳng. Chín
Hoà nghe, cứ như nuốt từng lời. Ông Út để ý, lần sau về tìm cậu. Sau vài lần
gặp, Chín Hoà bắt đầu được giao việc: vừa kết hợp gặp các anh chị, vừa đưa
tài liệu.

Những ngày hoạt động ấy đã biến Chín Hoà trở thành một con người khác. Ông
Hai Mẹo nhớ lại: “Mới mười mấy tuổi, chả họp dân, nói, ai cũng há hốc mồm
nghe. Chả vận động đi cướp chính quyền, người ta xách rựa đi hết”. Năm 1940,
Quận uỷ Vũng Liêm chủ trương làm một cuộc mít tinh thật vang dội để “bắt
mạch phong trào” chuẩn bị “khởi nghĩa”. Diễn giả chính trong cuộc mít tinh
là chị Năm Hồng, 20 tuổi, bí thư Quận uỷ. Chị Năm Hồng nói về tương lai mỗi
nông dân sẽ có được một mảnh ruộng của mình, dân chúng nghe, ai nấy đều sung
sướng.

Ông Kiệt lúc đó là bí thư xã được phân công học thuộc một bài do trên gửi
xuống về “thanh niên phản đế”. Khi nói đến “đánh đuổi đế quốc thực dân, đánh
đổ phong kiến địa chủ, giành bình đẳng tự do”, thanh niên bật dậy, hô to
khẩu hiệu. Quần chúng cảm tình Đảng và những đảng viên trẻ hát vang “Bài ca
Xích vệ”. Sau cuộc mít tinh đó, tề xã báo lên quận, quận xuống, lùng vô Đìa
Chảo, thấy “mấy mươi công đất cỏ lác bị giẫm nát”. Chính quyền sửng sốt
trước cuộc mít tinh. Dân chúng thì xôn xao về vụ “cộng sản diễn thuyết quốc
sự”.

Ông Võ Văn Kiệt cũng chính là một trong những người chỉ huy cuộc dấy binh
đêm 23-11-1940 ở Vĩnh Long: Đêm “Cộng sản dậy”, theo cách nói của dân chúng
lúc đó, và “Nam Kỳ khởi nghĩa” theo cách gọi của lịch sử Đảng Cộng sản sau
này.

Đêm đó, ông Kiệt - mười tám tuổi - dẫn lực lượng hai xã gần trăm người đi
“lấy” đồn bắc Nước Xoáy. Anh em, toàn thanh niên, trong tay chỉ có giáo mác,
gậy gộc và một ống loa làm bằng thùng sắt. Khi những người “khởi nghĩa” xáp
vô, lính canh đồn đang ngủ trở tay không kịp. Đoàn quân vây bắt lại, tước
súng, phân công người xuống đục chìm phà. Một số anh em lấy giáo mác chặt
đứt hết dây thép, cắt đường thông tin, ông Kiệt trèo lên cổng đồn, bắc loa
kêu gọi đồng bào “nổi dậy đánh đổ ách thống trị của thực dân đế quốc, phong
kiến địa chủ”.

Lấy xong đồn Bắc Nước Xoáy đội quân của ông Kiệt ung dung lắm, đinh ninh giờ
đó, Sài Gòn, thị xã Vĩnh Long cũng đều đã “cướp chính quyền”. Nhưng đêm ấy
Sài Gòn không “khởi nghĩa”, Vĩnh Long cũng không. Sau này, những người còn
sống nghe nói: “Trung ương phân tích tình hình, ra lệnh ngừng cuộc khởi
nghĩa”. Nhưng chính ông Quảng Trọng Hoàng, bí thư Liên Tỉnh uỷ, cũng không
biết.

Ông Kiệt nhớ lại: Khi trời vừa hửng sáng, thấy xe từ Vĩnh Long chạy xuống,
chở toàn lính! Hết xe này đến xe khác. Biết Vĩnh Long hỏng. Anh Hoàng nói:
“Ta không đối phó nổi rồi”. Các nghĩa binh bảo nhau chôn mấy khẩu súng vừa
lấy được, hoá trang, trở ra. Lúc đó, khắp xóm làng dậy lên tiếng trống,
tiếng mõ kêu “bắt cộng sản”. Anh Hoàng bảo: “Tụi bây về nhà rồi tìm cách bắt
liên lạc sau”.

Ông Kiệt về làng mới biết đồng đội theo ông đi đánh đồn chỉ lẻ tẻ còn đôi ba
người về tới nơi. Số đông bị bắt, bị giết, trong đó có người anh thứ ba của
ông. Người dân hết sức hoang mang, nhiều người oán trách nghĩa binh, nhất là
sau khi Quận ra lệnh đốt hết ấp Bình Phụng vì những người bị bắt khai ra “ổ
cộng sản” bắt đầu từ đây. Các ấp mà Quận cho là “làm loạn” khác đều lần lượt
bị đốt. Hai cuộc hôn nhân

Sự khác nhau giữa ông Võ Văn Kiệt và ông Nguyễn Văn Linh còn thể hiện rất rõ
trong tình cảm riêng tư. Trong chuyện lập gia đình, ông Võ Văn Kiệt cũng là
người “xé rào”.

Ông Võ Văn Kiệt gặp người vợ đầu tiên của mình ở rừng U Minh. Năm ấy, ông
hai mươi bảy tuổi, đang là uỷ viên thường vụ Tỉnh uỷ Rạch Giá. Ông Kiệt nhớ
lại: “Chị em cán bộ, đảng viên cùng chiến đấu cũng có quan tâm chạy lo giới
thiệu. Mấy chị bảo, cán bộ lãnh đạo của Đảng, vợ con cũng phải cán bộ, đảng
viên. Cho dù ở trong Nam không nặng lắm về thành phần nhưng các chị cũng
muốn vợ con phải là ‘người đồng hành cùng lý tưởng’. Tôi bảo: lấy vợ chứ có
phải lập chi bộ đâu. Khi đó, tôi đã bắt đầu để ý một cô gái không những
không phải đảng viên mà còn là con của một người có gốc là địa chủ”. Cô gái
đó là Trần Kim Anh, con thứ sáu của ông bà Trần Quang Quy và Nguyễn Thị Tạo.

Cuộc hôn nhân cũng có nhiều sức cản, kể cả phía tổ chức. Nhiều người không
đồng ý cho ông Kiệt cưới con địa chủ, dù là địa chủ đã hiến gần hết đất cho
cách mạng. Ông Trần Quang Hiến, anh trai kế của bà Trần Kim Anh, kể: “Trước
năm 1945, cha tôi có 300 mẫu ruộng và một nhà máy xay lúa ở Ngã 5, thuộc
làng Tân Long, quận Long Mỹ, tỉnh Rạch Giá, cũng thuê mướn nhân công nhưng
chủ yếu là tự làm. Ở miền Tây có 300 mẫu ruộng vẫn được coi là địa chủ nhỏ.
Năm 1945, anh Năm tôi tham gia Thanh niên Tiền phong rồi sau vào Quốc gia Tự
vệ cuộc. Khi Tây tấn công Ngã Năm, anh tôi đem thiết bị máy móc về, đốt nhà
máy xay, đốt chợ Ngã Năm theo chủ trương ‘tiêu thổ kháng chiến’. Từ đó, cả
nhà theo kháng chiến luôn”.

Đầu năm 1946, Tây chiếm hết Rạch Giá. Giữa năm đó, Việt Minh mới tổ chức
lại, đánh rát. Tây bỏ Ngã Năm, U Minh giải phóng. Theo ông Trần Quang Hiến:
“Năm 1949, ông già ‘hiến điền’ hết, chỉ chừa lại phần đất thừa kế của ông
nội, chừng ba mươi mẫu. Em gái kế tôi, Trần Thị Kim Anh, sinh năm 1932, cũng
bắt đầu tham gia các lớp bình dân học vụ. Trước năm 1945, cô Bảy - ông Hiến
gọi em gái theo thứ bậc của người miền Nam - đã học hết lớp 3 (élémentaize);
sau 1945, ông già rước thầy về dạy thêm, cô cũng có tham gia một số hoạt
động phụ nữ. Cô Bảy gặp ông Kiệt trong một lần ông đi thăm mấy trường học.
Khi đó, cơ quan của ông Kiệt cũng đóng ở gần nhà”.

Ông Kiệt nhớ lại: “Nhà tôi khi ấy vừa bước qua tuổi mười bảy, hiền lành, ít
nói nhưng cũng rất chính kiến. Là con gái áp út xinh đẹp, gia đình cũng muốn
tìm nơi tương xứng để gả. Nhưng bả cứ kiên quyết với mình. Sau gia đình cũng
cưng con nên chiều theo ý”.

Ông Trần Quang Hiến kể tiếp: “Anh Tư tôi không muốn em gái lấy ông Kiệt.
Thuở ấy ông Kiệt mặc bộ đồ bà ba đen, quấn khăn rằn, rất đẹp trai. Nhưng,
ông ấy làm gì thì nhà cũng không rõ. Bạn bè anh Tư tôi toàn người khá giả,
ảnh cũng muốn em mình có nơi, có chốn, đặng nương tựa được. Phó chủ tịch Uỷ
ban Kháng chiến quận Ngã Năm lúc đó là ông Lưu Văn Lai, con rể chú ruột tôi.
Ông Kiệt nhờ ông Lai đi nói chuyện giùm. Gia đình cũng muốn xem mặt. Một
hôm, trên đường lên Quân khu IX, tôi và ba tôi ghé nhà ông Lai, gặp khi ông
Kiệt đang ở đó. Ông Kiệt ra chào hỏi, ông Lai nói, đây là người muốn hỏi chị
Bảy. Xong bữa đó, khi xuống ghe về, ông già tôi nói: ‘Tao thấy thằng đó
được, nhân trung sâu, nhân hậu. Người như vậy là trước sau như một. Nhưng,
không biết gia thế nó thế nào’. Tôi bảo: ‘Gia thế nghèo, dân kháng chiến
thôi, ba ơi’. Ba tôi nói: ‘Thôi, không kể giàu nghèo’”.

Đám cưới tổ chức đơn giản, do gia đình bên vợ bỏ tiền ra lo hết. Theo ông
Trần Quang Hiến: “Tôi lấy gạo nhuộm xanh, nhuộm đỏ, rắc lên tấm kiếng thành
chữ Tổ quốc rồi dựng bàn thờ Tổ quốc trước nhà. Cô Bảy và dượng Bảy đứng một
bên, ông già tuyên bố tác hợp vợ chồng. Ông Tư Trí, hương chủ, làm chủ lễ
bên trai, ông già tôi làm chủ lễ bên gái. Cùng dự có ông Nguyễn Thành Nhơn,
khi ấy là chủ tịch Uỷ ban Cách mạng tỉnh Rạch Giá và một số cán bộ Việt
Minh. Cô dâu mặc áo bà ba, chú rể cũng mặc áo bà ba. Tôi nhớ khi đó trời khô
ráo, khoảng chừng trước tháng 11 Âm lịch năm 1949”. Mối tình của ông Nguyễn
Văn Linh và bà Ngô Thị Huệ lại diễn ra hoàn toàn khác. Thay cho những kỷ
niệm lãng mạn, họ đến với nhau như một ví dụ tiêu biểu cho sự “đồng hành
cùng lý tưởng” của những người cộng sản.

Bà Bảy Huệ kể: “Lần đầu gặp anh là lúc anh từ Côn Đảo trở về. Lần thứ hai,
anh ra đón tôi tại ga xe lửa Sài Gòn sau khi tôi đi dự Kỳ họp Quốc hội khoá
đầu tiên ở Hà Nội. Tránh sự dòm ngó của bọn mật thám, tôi đi sau anh một
khoảng cách khá xa. Tôi đã thoáng nghĩ về anh: một người đồng chí chín chắn,
trầm tĩnh, tự tin. Anh mặc chiếc quần cụt màu đen, áo sơ mi trắng ngắn tay,
hai vai đã sờn và có lẽ chiếc áo sờn vai đó đã đi vào lòng tôi. Sau này mới
biết anh đã để ý tôi ngay từ buổi đầu gặp mặt và sau một thời gian anh viết
thư ngỏ ý thương tôi”. Tổ chức đã tham gia tác thành cuộc hôn nhân này bằng
cách điều bà Ngô Thị Huệ về Sài Gòn bổ sung vào Thành uỷ.

Không có những cuộc hò hẹn “công viên, ghế đá”, họ chỉ gặp nhau qua những
lần hội họp, học nghị quyết. Theo bà Bảy Huệ, trong một cuộc họp như thế ông
Linh ngỏ ý muốn gặp riêng bà. Ngay cả trong giây phút riêng tư này, họ cũng
hành động như những người đồng chí.

Bà Bảy Huệ kể: “Chúng tôi đứng nói chuyện với nhau trên gác thượng. Nhìn
xuống đường thấy mấy người ăn xin lê lết, tôi buột miệng nói với anh: ‘Còn
có những người như thế này, mình mới thoát ly gia đình đi làm cách mạng’.
Biểu thị sự đồng tình, anh nói: ‘Đúng vậy. Lầm than, bất công phải được xoá
bỏ. Chúng mình hi sinh, đấu tranh là nhằm giải phóng đất nước, đem lại công
bằng hạnh phúc cho dân’. Anh thường tâm sự: ‘Hai chúng mình thuộc tầng lớp
nghèo, đều có trải qua tù tội, thấm thía nỗi đau của riêng mình nằm trong
nỗi đau của dân tộc, những điểm giống nhau đó sẽ giúp chúng mình dễ cảm
thông nhau, sẽ biết sống và biết hi sinh cho nhau”. Lễ thành hôn của họ cũng
diễn ra đơn giản vào 23-5-1948, nhân một hội nghị của Thành uỷ. Chủ hôn là
ông Lê Văn Sỹ, một người bạn tù thân thiết của ông Linh từ thời Côn Đảo.

Bà Bảy Huệ viết: “Sau lễ cưới, chúng tôi đưa nhau về Rạch Chanh, ở đây có
sẵn mấy căn nhà nhỏ vừa được dựng lên làm chỗ nghỉ ngơi cho đại biểu về họp
hội nghị. Tôi nhớ như in, đêm đó mười bốn trăng tròn vạnh, ánh trăng tràn
qua cửa sổ vẽ thành những vệt sáng trải dài trên vách. Bên hè, theo từng cơn
gió thoảng, những tàu lá chuối đong đưa xào xạc như múa nhảy chan hoà niềm
vui hạnh phúc của hai chúng tôi”.

Trong khung cảnh lãng mạn ấy của đêm tân hôn, bà Bảy Huệ viết: “Gà đã gáy
sáng mà câu chuyện tâm tình như chưa dứt được. Khi anh nhắc đến nỗi cơ cực
của thời thơ ấu, chúng tôi đã không cầm được nước mắt. Trả lời câu tôi hỏi:
‘Nghe nói người cộng sản không biết khóc mà?’. Anh nói: Có chứ! Người cộng
sản nếu khác người thường là khác ở chỗ biết lúc nào phải lau nước mắt”.

Theo bà Bảy Huệ, từ khi lấy nhau cho tới khi có ba mặt con, “chưa bao giờ vợ
chồng được chung sống với nhau quá nửa tháng”. Chia ly và chờ đợi không phải
là câu chuyện của riêng vợ chồng ông Nguyễn Văn Linh mà thực sự là một hy
sinh lớn lao của những người phụ nữ có chồng theo cộng sản. Ở Việt Bắc

Cưới vợ chưa được bao lâu, ông Võ Văn Kiệt được điều xuống Bạc Liêu làm phó
Bí thư Tỉnh uỷ. Tháng 6-1950, ông được cử ra Việt Bắc dự Đại hội Đảng lần
thứ II. Theo ông Trần Quang Hiến: “Dượng Bảy đi khi cô Bảy có bầu thằng Dũng
chừng bốn, năm tháng. Dượng Bảy về thì thằng Dũng đã biết đi. Lúc ấy tôi nhớ
vào độ đầu năm 1953. Hôm đó, cả nhà đang tụ họp làm bánh xèo, cô Bảy đang
quét sân gạch phía sau. Tôi nhìn ra rặng trâm bầu, thấy một người đi rất
nhanh vô bàu sen. Dượng Bảy. Dượng mặc bộ đồ vải ta, nhuộm lá ổi, lá trâm
bầu, màu mốc. Cô Bảy nhìn thấy, liệng cái chổi, chạy vô buồng ôm mặt khóc.
Tôi bước ra ôm lấy dượng. Còn chị tôi thì bảo: vô buồng hỏi thăm nó đi.
Chiều đó, cả gia đình ai cũng mừng rớt nước mắt. Mấy năm trời, dượng đi,
không thư từ, không ai biết ở đâu, làm gì, còn hay mất”.

Sau Đại hội II, ông Võ Văn Kiệt ở lại dự lớp “Hoa Nam” do trường Nguyễn Ái
Quốc III mở tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Lớp do Hồ
Chí Minh trực tiếp chỉ đạo, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh
giảng dạy. Một số cán bộ vừa tập huấn ở Hoa Nam, Trung Quốc về tham gia
hướng dẫn thảo luận, thấy lý lịch Võ Văn Kiệt là bần nông, có đi ở đợ, rất
“cốt cán”, thích lắm.

Các thầy chọn ông tham gia một tiết mục kịch, ông vào vai địa chủ. Đêm diễn
vở kịch đó, có Tổng bí thư Trường Chinh dự. Ông Kiệt nhớ lại: Mặc dù được
liệt vào loại “gan to”, nhưng có ông Trường Chinh, ông cũng thấy “ớn” lắm.
Trước khi bắt đầu, ông Kiệt phải xung phong làm một màn múa lân cho nóng
người để lấy can đảm. Hết vở kịch, các khách mời đều khen, động viên. Ông
Trường Chinh bắt tay ông: “Đồng chí diễn khá lắm, nhưng đấy là địa chủ Nam
Bộ chứ không phải địa chủ Bắc Bộ”.

Ông Kiệt lúc ấy không hiểu hết lời nhận xét của ông Trường Chinh, quan điểm
giai cấp của ông không hình thành từ chủ nghĩa Marx-Lenin mà từ kinh nghiệm
của những ngày đi ở đợ. Ở Nam Bộ ông thấy: giàu hay nghèo thì cũng có người
tốt, người xấu; người giàu cũng có người rộng rãi, người keo kiệt; tá điền
cũng có người ngay thẳng, có người ton hót, hại nhau. Địa chủ sau cùng mà
Chín Hoà làm thuê là ông Mười Phái, người đứng đầu hội bóng đá trong xã, nơi
Chín Hoà - một thanh niên phải đi ở đợ - cũng được tham gia bó lá chuối làm
banh. Mỗi khi Chín Hoà xay lúa, giã gạo, “địa chủ Mười Phái” còn lên phụ.

Năm 1950, ông Lê Đức Thọ và ông Lê Toàn Thư từ Xứ uỷ Nam Bộ xuống Tỉnh uỷ
Rạch Giá trao quyết định giao ông Võ Văn Kiệt làm bí thư tỉnh uỷ thay ông
Nguyễn Thành Nhơn chỉ vì ông Nhơn là địa chủ, ông Kiệt không chịu. Ông Lê
Đức Thọ nói: “Hoặc là cậu làm bí thư, hoặc là cậu chịu kỷ luật?”. Ông Kiệt
đã nhận kỷ luật Đảng cảnh cáo thay vì đồng ý với lý do kỷ luật ông Nhơn. Ông
Kiệt nói với mấy thầy trợ giảng ở lớp Hoa Nam: “Tôi biết địa chủ Nam Bộ, ở
miền Nam không có Bạch Mao Nữ(162)”.

Một trong những thầy trợ giảng của lớp chỉnh huấn, ông Đào Nguyên Cát, nhớ
lại: “Tôi được phân công giúp anh Kiệt tìm ‘tư tưởng chủ đạo’. Theo những gì
tôi được học ở lớp ‘chỉnh phong’ bên Hoa Nam, Trung Quốc thì vào Đảng, phải
giác ngộ lập trường giai cấp công nhân. Do đó, mỗi người, phải tìm xem ‘lập
trường cũ’ của mình là gì để mà từ bỏ. Khẩu hiệu viết trên tấm băng đen của
lớp chỉnh huấn nhấn mạnh: thành khẩn bộc lộ khuyết điểm của mình là thước đo
độ trung thành với Đảng. Kết quả, anh Kiệt ‘thành khẩn’ nhận: Khi vào Đảng
anh mới chỉ vì để ‘giải phóng dân tộc’ chứ chưa phải vì ‘giai cấp’, cũng có
lúc anh ‘dao động’, ‘nhận thức không rõ ràng về tội ác của địa chủ’ là một
ví dụ. Nên tôi kết luận: tư tưởng chủ đạo của anh Kiệt là ‘tiểu tư sản’ dù
anh là con của một người bần nông”.

Khi cùng Đại tá Trần Tấn Nghĩa, một người bạn học ở các lớp Hoa Nam, về lại
Việt Bắc(163), ông Võ Văn Kiệt đã nói với ông Trần Tấn Nghĩa: “Mày nhớ những
gì học hồi đó không? Lớp mà tao và mày học là sai lầm, mày ạ”. Có lẽ sự
nghiệp của ông Võ Văn Kiệt đã khác nếu như trong thời gian ở Chiêm Hoá, ông
không phạm khuyết điểm quan hệ nam nữ, khiến ông không thể đến Hoa Nam đào
tạo tiếp.

Ở Đại hội II, ông Trần Tấn Nghĩa là đại biểu dự khuyết. Khi về trường, ông
Nghĩa là trưởng Ban An ninh. Hơn một năm ở Chiêm Hoá, hai người chơi rất
thân với nhau. Công việc mà các học viên thích hơn là đi qua thị trấn Chiêm
Hoá ra bến đò vác gạo. Mặc dù theo quy định của nhà trường, các học viên
phải chấp hành “ba không: không nghe, không biết, không thấy”. Nghĩa là,
theo ông Nghĩa: “Đi qua không được nhìn vào thị trấn. Nhưng, đi vác gạo cũng
vui. Kiệt cũng rất dí dỏm. Một lần, theo đoàn có cô Xuyến, tôi đùa: cậu vác
gạo hộ Xuyến đi. Kiệt cười: bỏ cả bà Xuyến và gạo lên thì tôi cõng”. Ông
Nghĩa kể: “Chúng tôi là cán bộ cao cấp đi học mà không có đồng cắc nào cả.
Gần cây đa nước chảy có một quán nước của một cô gái khá xinh tên là Hạ.
Chúng tôi gọi quán cô Hạ là ‘máy chém cây đa nước chảy’. Cạnh đấy có một con
suối, chảy từ sông Gâm vào, nam nữ đều ra suối tắm, trong số đó có cô Hồ Thị
Minh”.

Bà Hồ Thị Minh là chủ bút đầu tiên của tờ Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ, bà đã từng
được cử sang Pháp dự Hội nghị Femmes Francaises. Bà Ngô Thị Huệ kể: “Minh
biết mấy ngoại ngữ, trẻ trung xinh đẹp. Xứ uỷ có ý định đưa Minh ra miền Bắc
giúp việc bác Hồ. Thời gian ở đại hội, Minh được bố trí nằm ở cuối lán nữ,
cách một bức vách nứa đan là lán nam nơi Bác ở. Qua cái vách đó hai người
nói chuyện với nhau khá nhiều”.

Năm ấy ông Hồ Chí Minh đã sáu mươi mốt tuổi. Hồ Thị Minh mới ngoài hai mươi.
Theo ông Trần Tấn Nghĩa: “Ở trường, trong các sinh hoạt buổi tối, Vũ Quang
hay dạy nhảy Valse. Tôi để ý thấy Kiệt toàn nhảy với Minh. Thỉnh thoảng đi
tuần đêm tôi cũng bắt gặp hai người ngồi với nhau ngoài bờ suối”. Năm ấy,
ông Võ Văn Kiệt đang là một chàng trai hai Mười chín tuổi, ở nơi thâm sơn đó
đã hơn một năm. Bà Hồ Thị Minh dính thai. Ông Nghĩa kể: “Hai đứa không dám
nói với ai. Mỗi khi Minh thèm chua tôi lại đi tìm quả nhót cho cô ấy”.

Khi biết sự tình, Văn phòng Trung ương đã kín đáo bố trí cho bà Hồ Thị Minh
sinh con. Ông Kiệt kể: “Năm 1952, trước khi về Nam tôi có đi thăm cháu. Hôm
ấy mẹ cháu cũng tới gặp tôi. Khi về Nam, tôi nói hết với nhà tôi. Cô ấy khóc
và nhắc tôi phải tìm cách đưa con về”. Bà Trần Kim Anh

Trong thời gian ông Võ Văn Kiệt ra Bắc, bà Trần Kim Anh vẫn sống với gia
đình bên ngoại. Ông Trần Quang Quy sai đứa cháu nội là Trần Quang Minh, năm
ấy chín tuổi, đi theo phụ giúp cô Bảy. Ba của mình là ông Trần Tấn Khả, từng
tham gia Thanh niên Tiền Phong”, năm 1946 bị Tây bắn chết.

Đó là một thời kỳ vất vả của cô cháu bà Kim Anh. Ông Minh kể: “Ông nội tôi
để lại cho cô Bảy năm công đất, cô Bảy đang mang bầu vẫn bươn chải ngoài
đồng. Có hôm đi chở mạ, chìm ghe, tôi phải vớt cô lên”. Ông Kiệt từ Việt Bắc
trở về, lại xuống Bạc Liêu làm bí thư, một thời gian sau thì đón bà Trần Kim
Anh xuống. Họ cất một căn nhà nhỏ dưới một gốc cây ô môi cạnh bến sông. Năm
1955, bà Kim Anh sinh người con thứ hai, con gái. Ông Kiệt đặt tên con là Võ
Hiếu Dân. Theo ông Trần Quang Hiến: “Cô Bảy về nhà ở chừng một năm rồi lại
đi theo dượng Bảy, lang thang lên Cần Thơ. Một thời gian sau khi Hiếu Dân
lớn hơn, cô Bảy về nhà đón Võ Dũng nói là sẽ đi xa một thời gian. Lần đó, cô
Bảy đi Campuchia”.

Năm 1957, sau khi ông Lê Duẩn thoát qua Campuchia, Xứ uỷ tạm thời lánh sang
Phnom Penh. Cuối năm 1958, ông Võ Văn Kiệt cho người về đón vợ con. Võ Dũng
cùng những đứa trẻ con em của các cán bộ Xứ uỷ được gửi vào học trong một
trường phổ thông dạy bằng tiếng Pháp. Đây là khoảng thời gian duy nhất mà
gia đình ông Kiệt đoàn tụ và được sống trong cảnh tương đối thanh bình cho
dù bà Trần Kim Anh có một thời gian bị bệnh. Nhưng đó là sự thanh bình tĩnh
lặng của mắt bão.

Từ Phnom Penh, Võ Dũng được gửi ra Bắc, Hiếu Dân và mẹ về lại nhà ông ngoại.
Ông Kiệt trở lại Sài Gòn thay ông Nguyễn Văn Linh làm bí thư Khu uỷ giữa khi
Chính quyền Ngô Đình Diệm đang truy lùng gắt gao những người cộng sản. Trước
khi chia tay, cả gia đình kéo nhau ra tiệm ảnh, nhưng trong tình thế tiếp
tục hoạt động bí mật ở miền Nam, ông Kiệt quyết định không chụp chung với vợ
con, ông không biết rằng, đó là cơ hội cuối cùng để ông có một tấm hình
chung với vợ.

Ở quê, gia đình bên vợ ông Kiệt cũng đang ở trong một giai đoạn khánh kiệt.
Ông Trần Quang Hiến kể: “Thời Tây vườn ông già tôi ở Thạnh Trị, Sóc Trăng bị
ném bom, gia đình phải dời lên Rạch Giá. Ruộng đất bán lần lần”. Ở Rạch Giá,
nhiều người biết bà Trần Kim Anh là vợ Việt Cộng. Hiếu Dân lúc đó năm, sáu
tuổi, đôi khi cũng hồn nhiên kể ra chuyện ba má cô ở Campuchia. Bà Kim Anh
sợ “tai vách mạch rừng” nên quyết định chuyển lên Sài Gòn sống.

Một lý do khác để bà Kim Anh rời Rạch Giá, theo ông Kiệt: “Nhà tôi biết
hướng công tác mới của tôi. Hồi ở Phnom Penh, bả đã quen biết vợ ông Trần
Bửu Kiếm, Huỳnh Tấn Phát nên hy vọng lên Sài Gòn sẽ có cơ may lần ra manh
mối gặp chồng”. Theo ông Trần Quang Hiến: “Gia cảnh lúc này nghèo lắm, anh
em tôi mua một căn nhà nhỏ ở hẻm Đội Có, đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận”. Anh
Trần Quang Minh, một người cháu ruột của bà Kim Anh, nhớ lại: “Đó là một căn
nhà lá, sàn gỗ, dựng trên ao rau muống, vợ chồng cậu Sáu Hiến, cô Bảy, tôi
và Hiếu Dân ở”. Theo anh Minh: “Cô Bảy học nghề làm bánh tai yến từ một
người bà con. Cậu Sáu còn ít tiền mua hai cái bếp dầu. Chiều tối, tôi xay
bột đổ trong cái bồng, dằn thớt lên cho ráo nước. Khuya cô Bảy và thím Sáu
dậy thắng nước đường, chiên bánh. Tôi và cậu Sáu mỗi người một xe đạp chở cô
Bảy ra chợ Tân Định, chở thím Sáu ra chợ Phú Nhuận. Tiền lãi của hai người
chỉ khoảng năm, mười ngàn một ngày, đủ sống”.

Khoảng tháng 9-1960, ông Võ Văn Kiệt cho người về liên lạc với bà Trần Kim
Anh. Bà cũng phải ăn nói đi lại như một người hoạt động bí mật, cho dù chưa
bao giờ đứng trong hàng ngũ của chồng. Ông Trần Quang Hiến nhớ: “Mỗi khi có
hẹn, tôi chở cô Bảy tới một địa điểm định trước, có khi là một cây cột đèn
nào đó, thả cô đấy, khi tôi đi rồi người ta mới tới rước cô. Cô Bảy đi đâu,
tôi cũng không biết mà cô cũng không nói”. Lúc này, Khu uỷ Sài Gòn-Gia Định
đã về lập căn cứ ở Hố Bò, Củ Chi. Năm 1961, ông Kiệt đưa vợ con ra căn cứ ở
một thời gian.

Những khi chính quyền Sài Gòn không có ruồng bố gì thì Khu uỷ cũng ở trong
nhà những người dân địa phương. Thường những người dân này hoặc là cơ sở
hoặc là cán bộ công tác trong cơ quan Khu uỷ. Theo anh Trần Quang Minh: “Cô
Bảy lên Củ Chi thường ở trong nhà ông Tư Mai hoặc bà Mười Cước”.

Khi có thai người con thứ ba, bà Kim Anh lại rời Hố Bò, Củ Chi về Rạch Giá ở
nhà ông bà ngoại. Anh Minh kể: “Đầu năm 1962, tôi chèo ghe đưa cô Bảy đi
sanh, qua nhà ông Mười Nhỏ thợ may thì đau bụng phải tấp vô. Cô Bảy sanh
luôn Ánh Hồng ở đó. Bà Mười nấu nước, cắt rún giúp. Cô cháu tôi ở lại Rạch
Giá cho tới khi Ánh Hồng chập chững biết đi, lại bồng bế con lên Sài Gòn”.
Lần này Khu uỷ bố trí một uỷ viên thường vụ làm “chồng bình phong” để bà Kim
Anh sống hợp pháp trong thành phố.

Năm 1963, ông Kiệt lại đưa vợ ra Củ Chi, lần này bà Kim Anh và các con ở nhà
một cơ sở thường gọi là ông Mười Cước. Khác với nhiều đồng chí khác, ông
Kiệt vẫn không “kết nạp” vợ vào tổ chức của mình. Tuy nhiên, khi cần, ông
vẫn huy động cả gia đình vợ làm việc cho Cách mạng.

Năm 1965, ông Kiệt quyết định gửi người con thứ hai ra Bắc. Bà Kim Anh chuẩn
bị đồ đạc cho con, buổi sáng tiễn con gái đi, chiều bà ghé qua bệnh xá Khu
uỷ khám mới biết mình đang có thai đứa con thứ tư. Nghĩ khi sinh nở, chồng
cũng chẳng giúp được gì nên bà Kim Anh định giữ lại Hiếu Dân, năm ấy đã lên
mười tuổi. Nhưng, khi bà quay lại trạm giao liên thì Hiếu Dân đã lên đường
ra Bắc cùng với vợ chồng ông Trần Đức Thuận và con trai ông Phạm Văn Xô, một
cán bộ cao cấp của Trung ương Cục. Như những lần trước, mỗi khi có thai, bà
Kim Anh lại trở về Rạch Giá nương tựa nhà cha mẹ mình.

Cuối năm 1965, ông Võ Văn Kiệt viết thư về nhắn vợ, sanh nở xong thì thu xếp
lên chiến khu. Theo ông Trần Quang Hiến: “Trong thơ, dượng Bảy cũng nói
dượng sẽ gửi tiền về nhờ mua lương thực. Cô Bảy đưa thơ cho tôi coi, băn
khoăn không biết làm sao chuyển hàng lên. Tôi nói để tôi lo. Nhà cũng muốn
cô Bảy từ từ hẵng đi vì khi đó cháu Chí Tâm mới hơn ba tháng tuổi. Nhưng cô
Bảy cũng nóng lòng gặp chồng”.

Bà Trần Kim Anh rời Rạch Giá đúng ngày rằm tháng Chạp, tính theo lịch Tây là
tháng 1-1966. Bà Ba Kiệm, một cán bộ giao liên Khu uỷ đi từ Hố Bò về đón.
Sau gần ba ngày di chuyển chủ yếu là để “cắt đuôi” trước khi đi tiếp về
chiến khu, sáng ngày 17 tháng Chạp, bà Trần Kim Anh cùng hai con, Chí Tâm và
Ánh Hồng, được giao liên đưa xuống chuyến tàu khách có tên là Thuận Phong.
Tàu Thuận Phong vẫn thường chở khách đi từ Bến Cát, Bình Dương, ngược sông
Sài Gòn về hướng Củ Chi và ngược lại. Đi trên con tàu ấy lúc nào cũng có
Quốc gia trà trộn cùng Cộng sản. Tàu Thuận Phong xuất phát lúc 7 giờ 30, tới
gần Bến Dược, chỉ còn bốn, năm cây số là tới Chiến khu Hố Bò, thì trúng
rocket bắn xuống từ một máy bay trực thăng Mỹ.

Ông Trần Quang Minh, khi đó đã “ra bưng” trở thành một cán bộ tuyên huấn T4,
mật danh của Khu uỷ Sài Gòn, kể: “Hôm đó là ngày đầu tiên B52 thả bom ở miền
Nam, dọc sông Sài Gòn trực thăng quần ầm ĩ. Tôi đi ra nhà Tư Mai, vừa thấy
tôi, ông Tư nói: Minh ơi, chị Bảy và mấy đứa nhỏ chết hết rồi”. Khi đó, ông
Võ Văn Kiệt đang ở Nhà Bè. Ông nghe tin tàu Thuận Phong bị bắn chìm qua Đài
Phát thanh Giải phóng, biết có nhiều người phía mình hy sinh nhưng ông không
ngờ trong số đó có cả ba người mà ông yêu thương nhất.

Ông Kiệt kể: “Tôi thấy ruột gan như lửa đốt, Thuận Phong là con tàu mà chị
em giao liên thường xuyên đưa cán bộ theo con đường hợp pháp từ Bến Cát về
Củ Chi. Chúng tôi biết trước tin địch sắp càn nhưng thấy con tàu Thuận Phong
vẫn chạy thì nghĩ là chưa có vấn đề gì. Không ngờ, trận càn đó, nó bắn chìm
cả con tàu chủ yếu chở dân thường hợp pháp”. Hai ngày sau ông Kiệt mới về
đến Củ Chi nhận tin vợ và hai con ông đã chết. Ánh Hồng năm ấy chưa đầy bốn
tuổi và Chí Tâm thì cha con chưa kịp nhìn thấy mặt nhau.

Ông Trần Quang Minh kể: “Dượng Bảy ngồi ở Xóm Thuốc chờ hai ngày. Khóc”. Nơi
ông Kiệt ngồi có thể nghe tiếng máy của những chiếc ghe chạy tìm xác các nạn
nhân ở trên sông, nhưng, ông không thể ra đó. Sự khốc liệt của chiến tranh
đôi khi không phải ở trong lưới lửa bom đạn mà ở trong những khoảnh khắc yên
lặng. Chỉ một số cán bộ hoạt động hợp pháp mới có thể ra sông tìm kiếm xác
ba mẹ con bà Trần Kim Anh và những cán bộ khác cùng đi trên chuyến tàu Thuận
Phong.

Từ Rạch Giá, gia đình cũng nhận được tin, ông Trần Quang Hiến kể: “Tôi lên
thuê thuyền, vớt được Ánh Hồng, cháu bị bắn vỡ sọ. Nhưng, chính quyền bắt
phải đưa vô nhà xác. Hôm sau có một người lính của chế độ Sài Gòn nhận cháu
là con của anh ta. Bác sĩ yêu cầu tôi trình giấy tờ chứng minh là người nhà
của Ánh Hồng, tôi không có. Tôi chấp nhận để cho anh lính nhận xác Ánh Hồng
nhưng theo dõi nơi anh ta chôn cháu, anh lính chôn cháu ngay phía nhà
thương. Tôi cắm cây thông làm dấu rồi quay ra tìm xác cô Bảy và Chí Tâm. Đến
28 Tết, lấy lý do an ninh, chính quyền không cho tiếp tục tìm kiếm, mặc dù
thây vẫn còn trôi. Hai tháng sau, chính quyền cho máy ủi phía sau nhà
thương, ủi mất luôn Ánh Hồng. Như vậy là ba mẹ con chết mà không còn xác”.

Tàu Thuận Phong hôm ấy chở hơn 200 khách, vớt được khoảng 100. Theo Trần
Quang Minh, mãi tới mấy tháng sau, người dân miền Đông không ai dám ăn tôm,
ăn cá của sông Sài Gòn.

Ông Võ Văn Kiệt kể: “Sau hôm từ Nhà Bè về, tôi xuống nhà ông Ba Kiệm chia
buồn. Vợ ông, vì lo cho vợ chồng tôi gặp nhau mà phải chết. Tôi cũng chuẩn
bị tinh thần có thể ông cũng không giữ được bình tĩnh vì mất mát đó. Nhưng
không ngờ, ông nói: tôi cũng thiệt hại mà không bằng chú, chú mất cả vợ và
hai đứa con”. Ông Kiệt nói tiếp: “Suốt hai cuộc chiến tranh, tôi cũng lặn
lội, nhiều khi rơi vào vùng ác liệt nhất, vậy mà chưa từng dính một miểng
đạn nào. Cả hai lần bị thương thì đều do giẫm phải chông của du kích. Trong
khi đó vợ, con… Trước đó, anh Ba tôi cũng bị Tây càn bắn chết; ba tôi thì bị
chết vì pháo kích”. Hai người con trai

Hai anh em Võ Dũng và Hiếu Dân nhận được tin mẹ và hai em ngay sau Tết năm
ấy. Đây không phải là hoàn cảnh cá biệt ở trường học sinh miền Nam. Sau năm
1954 nhiều cán bộ miền Nam không đi tập kết. Với một số cán bộ cao cấp, Đảng
đưa vợ con họ ra Bắc trước như bà Ngô Thị Huệ, vợ ông Nguyễn Văn Linh, bà
Nguyễn Thuỵ Nga, vợ miền Nam của ông Lê Duẩn. Một số gia đình đã “chia sẻ
rủi ro” bằng cách gửi một vài đứa con ra Bắc trong khi cha mẹ vẫn chiến đấu
ở miền Nam.

Nhiều người không ngờ miền Bắc “thiên đường của các con tôi”(164) lại thiếu
thốn khó khăn như vậy. Bà Bảy Huệ kể: “Chúng tôi nghèo lắm, lương của tôi,
vụ phó được chín mươi ba đồng, nuôi cả bầy con. Mấy đứa trẻ như thằng Dũng,
con Hiếu Dân đều ở trong nhà tôi. Tiêu chuẩn mỗi đứa được bốn thước vải mỗi
năm mà chúng lớn như thổi, lại nghịch phá, quần áo cứ chẳng mấy lúc mà rách,
mà ngắn, chật. Thấy tôi khó khăn, anh Phạm Hùng kêu Ban Thường Vụ Quốc hội
cho truy lĩnh tiền lương đại biểu Quốc hội khoá I từ 1946-1959 của tôi, được
một khoản tiền lớn, tôi đem gởi Văn phòng Trung ương xài dần”. Nhưng, thiếu
thốn chưa phải là điều mà những đứa trẻ như Võ Dũng khó thích nghi với miền
Bắc.

Chị Hiếu Dân kể: “Trước khi chia tay, má tôi chuẩn bị cho một xấp váy áo,
cái nào cũng đẹp. Ra Bắc, một hôm tôi mặc một cái váy ngắn một chút trên đầu
gối. Anh Dũng liền kêu vào nhà đánh cho tôi mấy roi và bắt thay ngay. Anh
tôi sau đó đã xé đi những bộ đồ đẹp nhất mà má tôi mua cho. Lúc đầu tôi rất
ấm ức. Nhưng về sau, nhìn xung quay mới thấy không có đứa trẻ nào mặc váy,
không ai mặc đồ màu mè sặc sỡ, tất cả chỉ có màu lính hoặc là màu sẫm. Tôi
mới hiểu vì sao anh tôi làm vậy”. Cả Hiếu Dân và Võ Dũng đều ra tới miền Bắc
khi đã lên chín lên mười. Họ đã biết quan sát và so sánh giữa hai môi trường
xã hội: miền Nam và miền Bắc. Bà Bảy Huệ kể: “Võ Dũng là một đứa trẻ rất
hiếu động. Giữa đám trẻ không mẹ không cha ấy, Dũng nổi lên như một ‘thủ
lĩnh’. Nhiều khi ra đường quậy phá, bị công an giữ, nó lại tìm cách chạy về
gặp tôi nói ‘có chuyện quan trọng, cô Bảy phải ra ngay’. Thế là tôi lại phải
đi bảo lãnh cho chúng nó. Hồi bọn trẻ học ở Hưng Yên, có bữa Võ Dũng muốn
đãi những bạn bè học sinh miền Nam - những đứa trẻ thiếu chất và ăn không
bao giờ đủ no - một bữa tươi, nó báo với ông chánh Văn phòng Tỉnh uỷ là
‘ngày mai đám giỗ mẹ’. Thế là Văn phòng Tỉnh uỷ lại chuẩn bị mấy mâm cho nó
mời bạn bè. Với bạn bè thì hết lòng, nhưng Võ Dũng không bao giờ chấp nhận
sự áp đặt của người lớn. Hồi mới ra Bắc, bác Hồ có kêu mấy đứa trẻ con em
miền Nam tới Phủ Chủ tịch. Dũng được bác Hồ gọi đến hỏi: ‘Cháu ngoan
không?’. Nhìn đĩa kẹo bánh mà Bác sắp cho các cháu ngoan một cách thèm
thuồng nhưng Dũng vẫn nói: ‘Cháu không ngoan’. Về nó bảo tôi: Cháu nói
thật”. Theo bà Bảy Huệ: “Bình thường thì nó cũng ngoan như cháu ngoan bác
Hồ, nhưng gặp chuyện ai ăn hiếp bạn bè là nó sống chết. Thông minh, gan dạ
và hào hiệp lắm”.

Sau này khi gặp nhau trong chiến trường miền Nam, nghe Võ Dũng kể, ông Kiệt
mới hiểu những đứa trẻ học sinh miền Nam như Dũng có mặc cảm, người lớn ở
miền Bắc không bao giờ chịu nghe chúng nó. Ông Kiệt nói: “Khi mới vào nó
cũng thăm dò ngay cả mình. Nó nghĩ mình cũng giống như mấy ông bà ngoài Bắc
quen áp đặt, có nói lại thì không nghe không hiểu ngôn ngữ của nhau. Ở chiến
trường một thời gian, nó nói, mấy chú trong này mới lắm”.

Cái chết của mẹ và hai em trở thành một động lực trực tiếp để Võ Dũng kiên
quyết vào Nam, phần để “trả thù cho mẹ”, phần để thoát khỏi không gian tù
túng đang bó chân một chàng trai mười tám. Năm 1969, anh nhập ngũ sau đó đi
thẳng vào Trung ương Cục. Lần đầu vào chiến trường nhưng khi phải di chuyển
xuống Khu IX, Võ Dũng đã chọn con đường công khai. Trong vai một Khmer kiều,
Võ Dũng được người giao liên của bố anh, bà Sáu Trung, đưa về từ Châu Đốc,
theo xe đò xuống Rạch Giá.

Sau khi vợ và hai con mất, ông Võ Văn Kiệt vừa cần một người thân ở bên cạnh
vừa, trong thâm tâm, muốn giữ an toàn cao nhất cho con mình. Võ Dũng được
đưa về ở trong cơ quan Khu uỷ, cạnh cha. Bác sỹ riêng của ông Võ Văn Kiệt,
ông Huỳnh Hoài Nam kể: “Ổng dặn tôi kèm Dũng, ‘có khó khăn gì mày lo’. Nhưng
Dũng rất ngang bướng, nó cứ đòi xuống đơn vị. Dũng kêu: Em về đây để chiến
đấu chứ đâu phải để đào hầm cho ba em núp”.

Năm 1971, sau khi lãnh đạo Khu lấy lại được tư thế sau những tổn thất ghê
gớm của Mậu Thân, ông Võ Văn Kiệt phát động đưa con em cán bộ ra mặt trận.
Dũng nhân đấy nói, không lẽ kêu gọi con người ta ra trận mà con mình ngồi
trong cứ, thế là đòi đi. Bác sỹ Nam kể: “Ổng kêu tôi làm công tác tư tưởng.
Tôi nói: ‘Dũng, em về miền Nam làm gì?’. Nó bảo: ‘Chiến đấu trả thù’. ‘Vậy
em có thấy bọn anh chiến đấu không?’. Nó bảo: ‘Có, nhưng chiến đấu trong xó
không hà’. Tôi lấy chuyện mẹ và các em đã mất ra khuyên can, Dũng vẫn dứt
khoát. Ông Kiệt thấy thế đành bảo, thôi để nó đi”.

Dũng đòi bằng được ra một đại đội trinh sát. Ông Kiệt nhớ lại: “Ông Lê Đức
Anh biết chuyện định chuyển cháu về pháo binh, chưa kịp ra quyết định thì
Dũng mất”. Võ Dũng hy sinh ngày 29-4-1972 khi đang luồn qua những hàng rào
dây thép gai trinh sát. Theo anh Hồ Văn Út, cận vệ của ông Kiệt: “Hôm sau,
mấy bà má phải vào đồn lính, xin xác Dũng về an táng bên kênh Tư Ký, Sóc
Trăng”. Ông Võ Văn Kiệt nhận được tin con trai hy sinh khi đang chủ trì cuộc
họp Thường vụ Khu uỷ. Gương mặt người chính uỷ tái lại, nhưng ông chỉ mím
môi để cho nước mắt chảy vào trong.

Những người cận vệ luôn sống cách ông vài bước chân cũng không khi nào nhìn
thấy ông Kiệt khóc. Trước ba quân, vẫn là một ông Tám Thuận mạnh mẽ. Nhưng,
khi trở về trong chòi riêng ông trở thành một con người khác, lặng câm, cô
độc. Bác sĩ Huỳnh Hoài Nam kể: “Ông thích uống cà phê sữa nhưng dạo ấy ông
thường kêu tụi tôi làm ‘chà và đen’, cách ông gọi cà phê không. Đó là loại
cà phê dành cho những đêm không ngủ. Kể từ khi bà Trần Kim Anh và hai đứa
con thơ mất tích trên sông Sài Gòn, có hai kỷ vật lúc nào cũng được ông Kiệt
giữ bất li thân đó là bức chân dung của bà và bộ đồ bà ba may bằng lụa tơ
tằm. Bác sĩ Nam kể: “Mỗi khi dời cứ, thường chúng tôi giúp ông xếp đồ. Riêng
tấm hình và bộ đồ của bà thì tự tay ông làm lấy”.

Ở thời điểm ấy, một người con trai khác của ông Kiệt, Phan Thanh Nam, cũng
đang ở Trung ương Cục. Từ tháng 11-1969, Nam liên lạc được với bà Nguyễn Thị
Thập, chủ tịch Hội Phụ nữ Việt Nam. Đến lúc này, anh mới biết tên đầy đủ của
cha mình là Võ Văn Kiệt. Phan Thanh Nam sinh ngày 25-2-1952. Ông Kiệt chuẩn
bị lên đường về Nam trước khi Nam được sinh ra khoảng một tuần(165). Ông
Kiệt cho biết, sau đó, ông có được gặp mặt con trai trước khi rời Việt Bắc.
Theo ông Trần Tấn Nghĩa: “Sau khi ông Kiệt đi rồi, Văn phòng Trung ương giao
đứa bé cho ông Cái bên Tổng cục Lương thực đưa về tận ấp Sậu, cuối Nhã Nam,
Bắc Giang, nuôi”. Nhưng, ông Cái cũng chỉ giữ Nam một thời gian ngắn. Nam
không biết là cuộc đời mình đã lưu lạc qua tay những ai. Anh lớn lên trong
nhà cha mẹ nuôi, ông Hà Văn Quán và bà Nguyễn Thị Mỹ, tại làng Tăng Xá, xã
Tuy Lập, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ. Cha nuôi anh kể, một người trong họ nhìn
thấy một đứa bé bị bỏ rơi cạnh bờ suối mang về cho ông, đứa bé đó chính là
Nam. Khi đó, người vợ đầu của ông Quán không có con trai. Những thông tin về
Nam mà người bỏ rơi anh để lại, về sau Nam được ông Quán cho biết, chỉ là:
“Cha mày là người Nam Bộ, tên là Kiệt hay Việt gì đó, đặt tên mày là Nam”.
Lên sáu tuổi, cha mẹ nuôi làm khai sinh cho anh đi học, đặt tên đầy đủ là Hà
Văn Nam.

Ông Hà Văn Quán vốn là một cán bộ, đảng viên, khi cải cách bị quy là địa
chủ, ông xin ra khỏi Đảng. Lý lịch này đã khiến ông bị kỳ thị ở địa phương.
Anh Nam kể: “Ngay từ khi chúng tôi còn nhỏ, ông đã muốn các con lớn lên đi
ra khỏi làng. Chính ông khuyến khích tôi đi tìm lại cha đẻ”. Từ bốn, năm
tuổi, như những đứa trẻ trong làng khác, Nam đã phải ra đồng chăn trâu cắt
cỏ. Học hết cấp hai, do gia cảnh khó khăn, anh phải nghỉ học. Đi khỏi vùng
quê nghèo khó đó cũng là sự thôi thúc của chính Nam.

Ông Võ Văn Kiệt kể: “Nhiều lần tôi viết thư ra Bắc nhờ anh em kiếm cháu
giùm. Có lần tôi viết thư cho mẹ cháu, nhưng không thấy trả lời. Năm 1969,
khi Bảy Dự(166) ra Bắc, tôi viết thư hối thúc thêm lần nữa”. Nhưng may mắn
là Phan Thanh Nam cũng chủ động tìm kiếm. Anh kể: “Lần đầu, khi tôi còn nhỏ,
tôi gửi một lá thư đi tìm cha mà không có hồi âm. Sau đó, tôi tính đi bộ
đội, đặng vào Nam kiếm ba tôi nhưng xã không cho đi vì có người đặt vấn đề:
Cha nó trong Nam không biết theo ta hay theo địch. Một bữa đi đập lúa, trưa
vắng, một người nông dân làm cùng nói: Ở miền Nam tao nghe làm chơi ăn thật,
sướng lắm, sao mày không tìm ba? Ông nói: Bà Nguyễn Thị Thập, hội trưởng Hội
Phụ nữ là người miền Nam, thử viết cho bà Thập xem”.

Nam viết thơ cho bà Thập, kể tỉ mỉ cuộc đời mình và nói: “Tôi có một người
cha, nghe người ta nói ông tên Kiệt, chính ông đặt tôi tên là Nam. Thư tôi
gởi đi cuối tháng 9, cuối tháng 10, tôi nhận được thư cô Kim Anh, thư ký của
bà Thập. Cô Kim Anh kêu tôi về 39 Hàng Chuối, Hà Nội. Tháng 11-1969, cha
nuôi tôi cho mười đồng bạc để tôi đi. Xuống Hà Nội, gặp cô Mười Thập. Cô hỏi
thăm, cho tôi cái áo len rồi nói: ‘Ba cháu đang chiến đấu ở miền Nam’. Cô
Thập dẫn tôi đi gặp một số cán bộ quen biết ba tôi vừa từ miền Nam ra như
Năm Hộ, Hai Chiếc, Bảy Dự. Tôi vừa bước vô cửa, mấy ổng nói: ‘Cái dáng thằng
này, vừa đi vừa lắc, đúng con ông Sáu rồi’. Sau đó, các cô bảo tôi về nhà
chờ”.

Bà Nguyễn Thị Thập hứa sẽ cho người lên gặp Nam nhưng không hiểu sao Nam chờ
gần một năm sau vẫn không thấy tin tức gì. Tháng 7-1970, Nam lại đánh điện
xuống Hà Nội. Trong thời gian đó, ông Võ Văn Kiệt cũng viết thư cho bà Ngô
Thị Nho, chị ruột của bà Ngô Thị Huệ, tha thiết nhờ tìm lại đứa con trai
thất lạc. Theo bà Bảy Huệ: “Một bữa, Ban Tổ chức Trung ương cử tôi xuống làm
việc với Hội Phụ nữ, chị Mười Thập tình cờ kể: Ông Kiệt có một đứa con ngoài
này, nó mới đánh điện, gởi thơ. Chị Mười đưa thơ tôi coi. Tôi nói để tôi sắp
xếp lên gặp cháu”.

Từ Hà Nội lên Phú Thọ tuy chỉ cách nhau hơn 200km nhưng hồi ấy đường sá khó
khăn. Bà Bảy Huệ lên tới xã Tuy Lập, huyện Cẩm Khê thì đã mười giờ đêm. Bà
kể: “Tới giờ đó, Nam đi tát nước vẫn chưa về, nó mặc cái quần cụt, cười
giống y ổng. Tôi xin phép ba má nuôi đưa cháu lên nhà khách của tỉnh rồi đưa
cháu về Hà Nội. Cho tới lúc đó, thằng Nam chưa biết sử dụng giày dép thế
nào”. Anh Phan Thanh Nam nhớ lại: “Mẹ nuôi tôi rất buồn nhưng cha nuôi tôi
nói, con lớn rồi phải tìm về tổ tiên”.

Ở Hà Nội, mấy dì nói cho Nam biết má ruột của anh là bà Hồ Thị Minh, khi ấy
đang làm việc trong một cơ quan ở Thủ đô. Đã vài lần Nam đạp xe qua cơ quan
mẹ, anh rất muốn vào nhưng rồi anh kể: “Tôi nghĩ, bao năm nay bà không liên
lạc với mình có nghĩa là bà cũng có điều gì đó khó xử. Nếu có thể gặp, bà đã
đi tìm”. Tháng 10-1970, Phan Thanh Nam bắt đầu hành trình vào miền Nam.
Tháng 9-1971, hai tháng sau khi Nam vào tới Chiến trường B2, hai cha con gặp
nhau lần đầu tiên ở Trung ương Cục. Nhưng có lẽ lần gặp nhau ở Khu IX vào
tháng 11-1972 mới là cuộc gặp xúc động nhất giữa hai người.

Tháng 6-1972, hơn một tháng sau khi Võ Dũng hy sinh, Phan Thanh Nam bắt đầu
đi từ căn cứ Trung ương Cục xuống Khu IX. Bác sỹ Huỳnh Hoài Nam kể: Ngày cha
con gặp nhau, ông đang ở một căn cứ gần kênh Biện Nhị, xã Khánh Lân, Cà Mau.
Ông ngồi đợi con, lâu lâu lại hỏi những người lính thông tin theo dõi lộ
trình của các giao liên. Bác sỹ Nam kể: “Khi Nam đến, hai cha con ôm nhau
nửa tiếng, không ai nói một lời, rồi cả hai cùng khóc. Chúng tôi, cũng ra
phía sau, ngồi khóc”. Đi bước nữa

Khi ấy, cả bà Bảy Huệ và ông Nguyễn Văn Linh đều coi Võ Văn Kiệt như một cậu
em trong nhà. Ông Linh là một trong những người đầu tiên nghĩ tới hoàn cảnh
đơn côi của ông Kiệt. Hai năm sau khi vợ mất, ông đã chú ý tìm người mai
mối.

Theo bác sĩ Huỳnh Hoài Nam: Sau đợt hai Mậu Thân, Trung ương Cục yêu cầu ông
Kiệt xuống bệnh viện R điều dưỡng một thời gian. Giám đốc bệnh viện lúc đó
là bác sĩ Thuý Ba. Trung ương Cục cũng có ý cả. Bà Thuý Ba đẹp, nhưng tụi
tôi biết khi đó ông Kiệt còn nhớ vợ. Thậm chí có lần Trung ương Cục họp, có
người còn đặt vấn đề, nhưng ông Kiệt nói: “Chúng ta có tiến bộ tới đâu thì
vẫn là người Á Đông, vợ tôi chết vẫn chưa mãn tang mà”.

Xuống miền Tây, cũng có người gán ghép, ông Kiệt đẩy khéo: “Hỏi mấy đứa nhỏ
coi, tụi nó ưng là tôi ưng à”. Có người thiệt tình tới hỏi cánh bảo vệ, mấy
cậu nói: “Nếu có người như thím Tám thì tụi tôi mới cho lấy, không là khổ
ổng”. Ông Kiệt nhớ lại: “Lúc bấy giờ công việc dồn dập. Đang Mậu Thân, ở Sài
Gòn, hết tấn công đợt này đến đợt khác, anh em tổn thất không biết bao
nhiêu. Xuống Khu IX thì cũng tan tác, phải vực dậy từng cơ sở một”.

Sau khi ông Võ Văn Kiệt được điều xuống làm bí thư Khu uỷ Khu IX, ông Nguyễn
Văn Linh có thêm một nỗ lực nữa: giới thiệu bà Đỗ Duy Liên cho ông Kiệt. Bà
Đỗ Duy Liên kém ông Kiệt năm tuổi, khi ông Kiệt làm bí thư Khu uỷ Sài Gòn-
Gia Định bà Liên làm việc bên Hội Phụ nữ. Bà đã từng làm báo công khai ở Sài
Gòn, từng bị giam tại Chí Hoà hơn bốn năm. Chồng bà Liên, ông Lê Duy Nhuận,
là cán bộ tuyên huấn ở Phân khu I trong Chiến dịch Mậu Thân. Tháng 10-1968,
khi ông Nhuận đang mở lớp đào tạo bí thư chi bộ thì nhận được lệnh phải di
chuyển cứ ngay vì B52 sắp rải bom. Là người sau cùng rời khỏi căn cứ, ông
Nhuận bị dính bom, hy sinh. Cũng như ông Võ Văn Kiệt, bà Đỗ Duy Liên cũng bị
ám ảnh rất lâu bởi sự hy sinh của chồng.

Bà Đỗ Duy Liên kể: “Một lần anh Sáu từ T3(167) lên Trung ương Cục, anh Mười
muốn cặp tôi với ảnh nên điện kêu tôi từ T4 (Khu Sài Gòn-Gia Định) về. Anh
Mười lãnh đạo tôi từ hồi thanh niên. Ảnh chủ quan, nghĩ tôi thương ảnh thế
thì anh bảo gì tôi sẽ nghe theo ảnh. Tôi từ chối cách gán ghép nhưng tôi vẫn
đồng ý ra trạm giao liên gặp anh Sáu Dân”.

Nơi ông Mười Cúc Nguyễn Văn Linh bố trí cho họ gặp nhau là một cái lán
tranh, muốn đi tới phải qua một trảng le, một trảng lau. Ông Kiệt là người
đàn ông thứ hai mà bà Liên yêu thương. Bà biết rằng nếu nhận lời lấy ông thì
cả hai sẽ phần nào bù đắp cho nhau mất mát. Nhưng khi đó, ba đứa con của bà
Liên đang được gửi ra miền Bắc. Trong lán tranh, khi ông Kiệt ngỏ lời, bà
Liên bật khóc, trách: “Chồng tôi chết chưa lâu?”.

Bà Đỗ Duy Liên kể rằng, khi đến giờ phải chia tay, bà được giao liên dẫn đi
theo một hướng, ông Kiệt được dẫn đi theo một hướng khác. Hôm đó bà bước đi
mà không dám ngoái đầu nhìn lại. Ít lâu sau, bà nhận được thư ông. Bức thư
ngắn: “Tư/ Sau bữa gặp, Tư đi qua cái trảng dài đó, không biết có gì không.
Rất lo. Muốn biết sớm mà không sao biết được. Hôm đó, đợi Tư qua hết cái
trảng rồi mới đi. Kiệt”.

Sau năm 1975, hai người cùng về Thành phố, ông làm chủ tịch rồi sau đó làm
bí thư Thành uỷ, bà làm giám đốc Sở Thương binh-Xã hội, rồi làm phó chủ tịch
Uỷ ban. Cùng ở trong rừng ra và lần đầu tiên có trong tay chính quyền, một
chính quyền việc gì cũng muốn làm thay dân, công việc cứ cuốn cả hai người
đi. Họ thường gặp nhau trong các cuộc giao ban, nơi ông nhiều khi sốt ruột
đập bàn, đập ghế. Theo nhà báo Thế Thanh, người được cả ông Kiệt và bà Tư
Liên coi như con, thỉnh thoảng bà Tư lại than: “Ba mày mất lịch sự quá, họp
hành có phụ nữ mà chẳng nhẹ nhàng gì”.

Nói thế, nhưng chính bà Đỗ Duy Liên lại là người rất sợ sự nhẹ nhàng của
ông. Bà Tư nhớ lại: “Sau 1975, có lần anh đến thăm, ngồi suốt một buổi sáng,
hai anh em ngồi tâm tình với nhau. Trưa, ảnh nói: ‘Tư đi nấu cơm cho tôi ăn
với’. Tôi biết, tôi mà đi nấu cơm là coi như tôi nhận lời anh nên cương
quyết: ‘Không. Hôm nay, em không đi chợ, nhà không còn gì’. Anh nghe, đứng
dậy về. Tôi để anh đi mà lòng buồn lắm. Mãi nhiều năm sau khi nghĩ tới câu
chuyện này, tôi vẫn còn tự trách: ‘Có bữa cơm mà mình cũng không nấu được
cho anh ăn”.

Theo bà Bảy Huệ thì con cái của hai người cũng đóng một vai trò khiến cho họ
không đến được với nhau. Sau khi việc giữa bà Tư Duy Liên và ông Võ Văn Kiệt
không thành, bà Bảy Huệ lại nỗ lực thêm một lần nữa, giới thiệu cho ông Kiệt
một nữ bác sỹ đã từng có gia đình. Khi ấy ông Kiệt đã ra Hà Nội làm phó chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng. Việc mai mối được thu xếp khá suôn sẻ đến mức một
hôn lễ tưởng đã diễn ra. Tuy nhiên, sau một năm ở Hà Nội, ngày 26-12-1982,
ông Kiệt viết thư gửi ông Chín Đào Phan Minh Tánh, khi ấy đang là phó bí thư
Thành uỷ Thành Phố Hồ Chí Minh, nhờ ông Chín Đào giúp thu xếp để ông rút lui
khỏi cuộc hôn nhân này.

Cũng trong bức thư đề cập đến chuyện lấy vợ này, ông Võ Văn Kiệt bắt đầu
tiết lộ về một người phụ nữ khác. Thư viết: “Phần tôi, cũng dịp về hôm rồi
tôi có bàn thẳng với các cháu, con tôi (cả dâu rể) - tôi không thể sống
không bình thường như vậy mãi, cũng như công tác trong điều kiện ăn ở hiện
nay. Không có một người hôm sớm quả là có một số cái khó. Nói chung là chúng
nó đồng ý cả. Cháu Dân hôm ra Hà Nội ở gần hai tuần với tôi, cháu cũng thấy
điều đó rõ hơn, nhưng người như thế nào thì chúng nó vẫn lo. Tôi cũng có
trình bày, có một người mà các anh đã giới thiệu (hồi tôi còn ở Thành phố) -
Anh Mười Hương, anh Năm Xuân và anh Thiện. Trước đây tôi cũng tiếp xúc một
vài lần và cũng có tìm hiểu, cũng gọn và quan hệ gia đình tốt, thuộc cán bộ
giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở một trường đại học. Tôi thấy như vậy cũng
được, tuổi cũng trên bốn mươi… (Tuy) không phải người Nam Bộ. Chúng nó có
phần lo, nhưng điều này không phải là chính. Tạm bấy nhiêu để anh rõ, nhờ
anh giúp như phần trên. Thân ái/ Sáu Dân”. Chi tiết “cán bộ giảng dạy và
nghiên cứu khoa học” mà ông Kiệt đề cập trong thư cho thấy người phụ nữ mà
ông nói tới chính là bà Phan Lương Cầm.

Bà Phan Lương Cầm sinh năm 1943 ở Huế. Năm 1945, cha mẹ chia tay. Mẹ bà, bà
Nguyễn Thị Hoàng Ân, vốn là một nữ sinh Đồng Khánh. Trong những năm Việt
Minh kháng chiến chống Pháp, bà Ân đi dạy học ở Hà Tĩnh, Thanh Hoá. Bà Cầm
khi ấy còn nhỏ nhưng đã vừa học, vừa giúp mẹ xay lúa, giã gạo, làm xáo để có
thu nhập thêm.

Sau Hiệp định Geneve, bà Ân chính thức kết hôn với ông Phan Tử Lăng. Bà Cầm
đổi từ họ Trần của cha đẻ sang họ Phan của cha dượng. Ông Phan Tử Lăng là
một sỹ quan nổi tiếng: Ông tốt nghiệp thủ khoa khoá sỹ quan chính quy đầu
tiên do người Pháp đào tạo ở Việt Nam, là chỉ huy trưởng Lực lượng Bảo an
Trung kỳ. Khi chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố độc lập và mở trường Quân sự
Thanh niên Tiền Tuyến, ông Phan Tử Lăng được bổ nhiệm làm giám đốc. Sau Cách
mạng tháng Tám, ông là cục trưởng Cục Quân chính Quân đội Nhân dân Việt Nam
với quân hàm đại tá.

Năm 1965, sau khi tốt nghiệp đại học, bà Cầm được giữ lại làm cán bộ giảng
dạy ở Đại học Bách khoa Hà Nội. Năm 1968, bà đi nghiên cứu sinh, chuyên
ngành Điện hoá - Ăn mòn Kim loại ở Lomonoxov, Liên Xô; năm 1973, lấy bằng
phó tiến sỹ và về trường Bách khoa dạy tiếp. Năm 1979, trong khuôn khổ một
hợp tác giữa Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Delf, bà được cử đi tham
gia nghiên cứu về “ăn mòn kim loại” ở Hà Lan. Bà Phan Lương Cầm gặp ông Võ
Văn Kiệt lần đầu vào cuối năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi ấy, theo
bà Cầm, bà hoàn toàn không biết những người bạn của ông Phan Tử Lăng có ý
tưởng giới thiệu bà với ông Kiệt.

Cuối thập niên 1950, ông Phan Tử Lăng và ông Đinh Đức Thiện cùng làm việc
với nhau ở Khu Gang Thép Thái Nguyên, ông Thiện là giám đốc và ông Lăng là
phó. Bạn ông Thiện là ông Trần Quốc Hương và em trai ông, ông Mai Chí Thọ,
đầu thập niên 1980, đang là Phó Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh.

Cuối năm 1980, khi bà Phan Lương Cầm từ Hà Lan về vào Thành phố, ông Đinh
Đức Thiện kêu ông Mười Hương mời bà Cầm ra Tân Cảng báo cáo đề tài “ăn mòn
kim loại”, cử toạ có nhiều vị lãnh đạo Thành phố, và tất nhiên, có cả ông Bí
thư Thành uỷ Võ Văn Kiệt. Bà Cầm nhớ lại: “Tôi lên nói say sưa và cuối buổi
thì ông Kiệt bảo là tôi có thể giúp Thành phố”. Buổi trưa, tôi được mời về
nhà ông Mai Chí Thọ ăn cơm. Bà Cầm nói rằng: “Cho đến lúc này, tôi không có
ấn tượng gì về ông Kiệt cả”.

Bà Cầm trở ra Hà Nội tiếp tục công việc của mình, ông Đinh Đức Thiện, ông
Mười Hương tiếp tục vận động bà Ân. Hai người còn bố trí để ông Kiệt tới nhà
180/8 Nguyễn Tri Phương, Thành phố Hồ Chí Minh gặp bà Ân ở đó. Bà Cầm nhớ
lại: Cả nhà tôi ai cũng muốn con gái lớn đi lấy chồng. Nhắc lại bữa cơm trưa
ở nhà ông Mai Chí Thọ, mẹ tôi hỏi: “Con có biết anh Sáu cùng ăn với con hôm
đó không”. Tôi nói: “Con chỉ nói chuyện ăn mòn kim loại, không biết ai là
anh Sáu cả”. Rồi tôi cười nói với mẹ tôi: “Không có chuyện con lấy bí thư
Thành uỷ đâu”.

Ông Kiệt vẫn giữ liên lạc với bà Phan Lương Cầm trong thời gian ấy. Theo bà:
“Mỗi lần ông ra Hà Nội lại nhờ anh em Văn phòng chuyển tới tôi, khi cuốn
lịch, khi ký lạp xưởng. Tôi không nhận thì anh em bảo: thủ trưởng ra nhờ
chút việc mà không hoàn thành thì bị phê bình chết”. Nhưng, có lẽ ông
nghiêng về bà hơn sau khi ra Hà Nội, sau khi phải đối diện với những rắc rối
trong các mối quan hệ với những người phụ nữ đã có con riêng.

Về phần mình, bà Cầm kể: “Ở Hà Nội một thời gian, anh béo ra, biết ăn mặc
hơn, trông không khắc khổ như thời làm bí thư Thành uỷ. Lên khu tập thể
Khương Thượng, nơi tôi có một căn hộ ở đó, anh tháo giày vào nhà. Ngồi nói
chuyện thấy bắt đầu cảm tình nhưng phải nói là bác Đinh Đức Thiện cũng công
phu lắm, cả bác trai lẫn bác gái”.

Khi bắt đầu chiếm được tình cảm của bà Cầm, ông Kiệt báo cáo với Trung ương
Đảng và việc này đã khiến cho bà Cầm định rút lui khi thấy Ban Tổ chức Trung
ương xuống trường tìm hiểu. Cuối năm 1984 họ chính thức lấy nhau. Vừa sống
với nhau được ít ngày, bà Cầm kể: “Anh nói phải đi công tác miền Nam ngay để
tôi một mình chơ vơ ở Hồ Tây. Trước khi đi, anh hỏi tôi thích gì, tôi nói em
thích một cái nhẫn cưới. Lần ấy, anh mang về chiếc nhẫn nửa chỉ vàng 18k
tặng tôi”. Vợ và bạn

Không chỉ là sự chênh lệch về tuổi tác, năm ấy, ông Kiệt sáu mươi hai tuổi
và bà Cầm bốn mươi mốt tuổi. Cha mẹ không sống với nhau ngay từ khi bà Cầm
chỉ mới hai tuổi. Khi mẹ bà đi bước nữa với ông Phan Tử Lăng, hai người làm
việc ở Khu Gang Thép Thái Nguyên, bà Cầm sống một mình ở Hà Nội và đi học.

Theo ông Nguyễn Văn Hanh, em rể của bà Cầm: “Cho tới khi lấy anh Sáu, Cầm
rất ít có thời gian ở trong một môi trường gia đình thật sự”. Bà Cầm thừa
nhận: “Trước khi về sống với nhau, mỗi người tưởng tượng về nhau có khác.
Anh Sáu ít hẫng hơn tôi vì anh có kinh nghiệm cuộc đời”. Bà kể về một kỷ
niệm mà bà cảm thấy hạnh phúc: “Một lần, tôi đi miền Nam, ô tô đưa ra sân
bay rồi ô tô về. Không ngờ máy bay hỏng, phải chờ tới ba giờ mà không bay
được. Tôi điện thoại về kêu xe ra đón. Khi biết tôi quay lại, anh nói: hoan
hô hàng không!”.

Bà Phan Lương Cầm nói: “Đôi lúc tôi cũng tủi thân. Anh toàn sống với đồng
đội, muốn uống nước, tôi không pha thì đã có phục vụ nên sự chăm sóc của vợ
không còn quan trọng nữa. Tôi cảm thấy những cố gắng hy sinh của mình không
được đánh giá đầy đủ”. Ngay trong thời gian đầu, một cuộc chia tay tưởng như
đã xảy ra, một số bạn bè thân thiết của ông Kiệt đã được “giao nhiệm vụ” đi
làm “công tác tư tưởng” cho gia đình, đồng đội. Nhưng rồi ông Kiệt nghĩ lại.

Cuộc hôn nhân này không chỉ làm ông Kiệt khó xử với những đồng đội từng chia
ngọt sẻ bùi với ông. Ở miền Nam nhiều người trách, “Nam Bộ thiếu gì người mà
lại đi lấy người Huế”. Bà Phan Lương Cầm kể: “Có người nói tôi là người nhà
ông Tố Hữu. Tố Hữu đưa tôi vào để phá anh Sáu. Khi Tố Hữu mất, có người còn
chia buồn với tôi”.

Chuyện ông Kiệt, một uỷ viên Bộ Chính trị, lấy bà Cầm không phải đảng viên
cũng là một lý do để ông Kiệt bị chỉ trích, nhất là từ những người như ông
Nguyễn Văn Linh. Bà Bảy Huệ thừa nhận: “Ông Mười kỹ lưỡng, định làm mai Lê
Thị Riêng cho ông Sáu, Lê Thị Riêng chết, làm mai Đỗ Duy Liên thì không
thành… Tôi thấy cô bác sỹ làm bên đài cũng có hoàn cảnh thích hợp, lấy cô ấy
rồi chuyển ra làm ở ‘Tổ Y tế Một’ cũng được. Đùng một cái ổng lấy bà Cầm,
ông Mười nói Sáu Dân ẩu, lấy vợ mà không thèm hỏi ai”.

Ông Võ Văn Kiệt làm chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng từ tháng 7-1991, ở một giai
đoạn mà Việt Nam bắt đầu thiết lập quan hệ với ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản,
Cộng đồng Châu Âu và Mỹ. Không như các chuyến thăm đến các nước trong “phe
xã hội chủ nghĩa” của các lãnh tụ cộng sản trước đây, ông Kiệt thường công
du cùng phu nhân, một người phụ nữ trẻ, xuất hiện trước ống kính khá lịch
lãm. Hình ảnh đó góp phần làm cho thế giới nhìn thấy một Việt Nam ít cứng
rắn hơn. Nhưng, bên trong, nhiều nhà lãnh đạo lão thành lại không vừa ý.
Nhất là sau khi có tin đồn, các chuyến chuyên cơ chở bà Cầm đi theo ông Kiệt
thường mang rất nhiều hàng hoá.

Người bày tỏ thái độ một cách công khai nhất là ông Nguyễn Văn Linh. Từ khi
còn đương chức, trong các chuyến công du, ông Linh đã nổi tiếng khắt khe với
cấp dưới(168). Giai đoạn ông Linh làm Tổng bí thư và giai đoạn ông Kiệt làm
thủ tướng, vị thế của Việt Nam trong các mối quan hệ quốc tế rất khác nhau.
Hai ông cũng rất khác biệt trong cách tiếp cận với thời cuộc cũng như với kẻ
thù và đồng đội. Cuộc sống và ý thức hệ

Kể từ năm 1952, khi rời Việt Bắc về Nam, năm 1973 ông Võ Văn Kiệt mới trở
lại miền Bắc. Lần này, kinh nghiệm sử dụng võ trang của ông ở Khu IX đã đóng
vai trò quan trọng để Hội nghị Trung ương 21 quyết định “đánh”, thay vì “gò
cương vỗ béo” trước Hiệp định Paris. Nhưng chuyến đi còn giúp ông Kiệt lần
đầu tiên thực sự trải nghiệm chủ nghĩa xã hội sau gần hai mươi năm áp dụng
trên miền Bắc.

Lúc đó, tuy tạm thời chấp nhận sự quy lỗi nghèo đói cho chiến tranh nhưng
ông Kiệt không khỏi băn khoăn khi thấy trong một xã hội đòi đấu tranh cho
bình đẳng mà những người đứng đầu xã hội đó lại thi hành một chế độ không
bình đẳng với ngay những người ruột thịt của mình. Theo quy định, chế độ
dinh dưỡng bao cấp cho cán bộ cao cấp khác với những cán bộ bình thường cho
nên trong nhiều gia đình, chồng ăn “tiểu táo” do đầu bếp của Văn phòng Trung
ương nấu, trong khi vợ con phải tự nấu, tự ăn với nhau theo chế độ “đại
táo”. Trước ngừng bắn, khi phải rời khỏi Hà Nội, có những cán bộ đã về nơi
sơ tán một mình bằng xe hơi trong khi vợ con lếch thếch đi bộ vì không có
cùng tiêu chuẩn.

Năm 1973, khi ông Võ Văn Kiệt đi gặp ông Ung Văn Khiêm(169) cả bạn bè và tổ
chức đều có những lời khuyến cáo ông. Tuy nhiên, với tư cách là một cấp
dưới, một học trò, ông Kiệt vẫn đi thăm thầy cũ. Ông Kiệt kể: “Từ khi ông
Khiêm bị kỷ luật, không ai dám đến gặp, nếu có tình cờ thấy ông thì cũng ít
ai dám chào”. Mấy hôm sau, khi ông Kiệt đang ngồi với ông Nguyễn Văn Trấn
thì, theo hẹn, bà vợ ông Ung Văn Khiêm đến, ông Bảy Trấn nhìn thấy, lập tức
rời phòng. Hôm sau gặp lại, Bảy Trấn giải thích: “Mày ở trong kia không sao,
tụi tao ở đây léng phéng qua lại với ổng là bị cắt sổ gạo, cả thuốc lá cũng
không có mà hút mày ạ”. Ông Kiệt nói: “Tôi suy nghĩ rất nhiều. Cho dù ông
Khiêm có sai thì cái sai đó cũng là với tổ chức; chế độ chính trị thế nào mà
bày tỏ tình nghĩa anh em, đồng chí cũng không được. Một con người như ông
Bảy Trấn, từng tham gia cướp chính quyền ở Sài Gòn năm 1945, từng làm tới
chức chính uỷ Khu IX, từng được coi là ‘hung thần Chợ Đệm’ mà cũng phải sống
trong sợ hãi thì vấn đề không còn là của từng cá nhân nữa”(170).

Ông Võ Văn Kiệt tìm thấy niềm vui và cả lợi ích chính trị khi thỉnh thoảng
ngồi uống rượu và đàm đạo với các trí thức và quan chức của chế độ Sài Gòn.
Ông thừa nhận, nhiều kiến thức về kinh tế, quốc tế và đặc biệt là tư duy
pháp trị mà ông có được là nhờ học ở những “người thua cuộc”.

Khi chiến tranh kết thúc, cả ông Kiệt và ông Linh đều từ một căn cứ trong
rừng sâu về Sài Gòn sống trong những biệt thự sang trọng. Trong khi ông
Nguyễn Văn Linh vẫn giữ lối sinh hoạt của một người cộng sản khắc khổ(171)
thì ông Võ Văn Kiệt bắt đầu chơi tennis. Ông Linh nhìn những cán bộ chơi
tennis như những người học đòi ăn chơi, “xa rời lối sống, đạo đức cách
mạng”. Còn ông Kiệt nhìn thấy ở đó, không chỉ là một thú vui thể thao mà còn
là một cách để đưa Sài Gòn trở lại cuộc sống bình thường.

Ông Kiệt giải thích: “Những ngày mới về Thành phố, tôi chỉ chơi bóng bàn
hoặc cầu lông với anh em. Sau, để ý thấy các sân tennis trong Thành phố đều
bị bỏ hoang hoặc đem phơi củi. Đi vào trong dân, thấy các nhà khá giả vẫn
treo vợt trên tường nhưng không ai chơi. Tìm hiểu thì mới biết là người ta
sợ. Tôi quyết định cho sửa sân tennis Trương Định, phong trào chơi tennis
mới dần được khôi phục rồi rộ lên. Anh Mười thấy, cho người phê phán trong
các cuộc họp nội bộ”.

Khi được điều ra Hà Nội, ông Kiệt tiếp tục giữ sở thích chơi tennis. Khi ông
Linh làm Tổng bí thư, theo ông Kiệt, ông nói gần nói xa: “Các tỉnh ở dưới
đua đòi làm sân tennis cũng tốn kém lắm”. Ông Kiệt kể, một lần ông Đào Duy
Tùng, uỷ viên thường trực Bộ Chính trị, nhắc khéo: “Có người nói anh còn
khỏe mà đi chơi tennis bắt người khác mang vợt”. Theo ông Kiệt: “Tôi biết
anh Tùng nói vậy là có thiện chí, mình dư sức mang cái túi vợt, nhưng thường
khi xe vừa dừng thì anh em bảo vệ đã nhanh chân hơn lấy vợt cho. Từ đó, khi
ra sân tôi không đi xe nữa, mà từ 57 Phan Đình Phùng, tôi mang túi vợt đi
bộ, vòng qua trước nhà ông Linh ở Nguyễn Cảnh Chân, ra sân”.

Cũng làm cách mạng, nhưng một người tạo lập uy tín chính trị theo nguyên tắc
giữ “cần kiệm liêm chính”, một người làm chính trị theo kiểu chịu chơi của
“anh Hai Sài Gòn”. Cung cách ứng xử này đã làm cho ông Kiệt và ông Linh càng
thêm khác biệt. Ông Võ Văn Kiệt không được văn nghệ sỹ tung hô như thời ông
Nguyễn Văn Linh kêu gọi cởi trói. Nhưng với phong cách “anh Hai”, ông Võ Văn
Kiệt lại kiến tạo được những mối liên hệ cá nhân bền lâu.

Nhà thơ Nguyễn Duy kể: “Tôi gặp ông Kiệt lần đầu vào giữa năm 1981, trong
buổi tổng kết cuộc sinh hoạt chính trị kéo dài mười ngày căng thẳng để chuẩn
bị đại hội thành lập Hội Nhà văn Thành phố. Cuối đợt kiểm điểm, Thành uỷ cho
ít tiền liên hoan, ông Kiệt mang đến một chai rượu. Mãi sau này chúng tôi
mới biết chai rượu ấy cũng xoàng, nhưng lúc ấy thấy rượu Tây là nhiều anh
nhốn nháo”.

Theo Nguyễn Duy: Trong buổi liên hoan đó, nhiều người đọc thơ tặng ông Sáu.
Ông Nguyễn Duy cũng đứng lên nói: “Hôm nay Bí thư Thành uỷ mang rượu đến
đây, nối rượu cho nhà văn thì cũng như nối giáo cho giặc, tôi xin phép đọc
mấy bài thơ mới làm”. Ông Bảo Định Giang khéo léo ngăn lại: “Thôi đã mười
một giờ, khuya rồi để anh Sáu nghỉ”. Nguyễn Duy khi ấy đã có hơi men, nói:
“Anh Bảo Định Giang ngồi xuống, đây không có anh năm, anh sáu gì hết, chỉ có
bí thư. Tôi là đảng viên phải để đảng viên nói với bí thư”. Ông Kiệt lên
tiếng: “Cứ để anh em tự nhiên, tôi đã đến đây là chơi tới cùng”.

Sau khi đọc bài Ông Già Sông Hậu, Nguyễn Duy nói: “Tôi xin đọc bài thơ tôi
làm như một bản báo cáo với Ban Thường vụ Thành uỷ thực tế đời sống của văn
nghệ sỹ Thành phố”. Đó là bài thơ Bán Vàng.

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng nhớ lại, Nguyễn Duy cao hứng đặt một chân lên ghế,
nhìn thẳng vào ông Kiệt, mở đầu nhỏ nhẹ:

“Ta mơ màng, ta uốn éo, ta lả lơi

để mặc kệ mái nhà xưa dột nát

mặc kệ áo quần thằng cu nhếch nhác

mặc kệ bàn tay mẹ nó xanh xao

ta rất gần bể rộng với trời cao

Để xa cách những gì thân thuộc nhất…”.

Rồi Nguyễn Duy nhấn giọng:

“Cái ác biến hình lởn vởn quanh ta

tai ách đến bất thần không báo trước

tờ giấy mong manh che chở làm sao được

một câu thơ chống đỡ mấy mạng người…”.

Ông Kiệt có vẻ như lặng đi. Nguyễn Duy kết thúc bài thơ:

“Thì bán bớt đi một ít vàng ròng

để sống được qua ngày gian khổ đã

phải sống được qua cái thời nghiệt ngã

để khối vàng đây chỉ đổi lấy mây trời!”.

Khi Nguyễn Duy ngồi xuống, ông Kiệt uống với nhà thơ một ly.

Sau cuộc họp đó, theo nhà văn Nguyễn Quang Sáng, cũng có người trong giới
văn nghệ định “dao búa” với Nguyễn Duy, còn ông Kiệt thì cho Thư ký Trần Hữu
Phước tới gặp nhà thơ đề nghị chép cho ông hai bài thơ Nguyễn Duy đọc hôm đó
để ông “làm kỷ niệm”. Nguyễn Duy kể rằng, nghe vậy, ông cũng hơi ngại nên đi
hỏi Nguyễn Quang Sáng: “Liệu có phải ông Sáu cần văn bản chứng cớ để xử
lý?”. Ông Sáng nói: “Chắc không phải. Nếu muốn xử, ổng cần gì”. Nguyễn Duy
nói: “Tôi bèn chép hai bài thơ và không quên ghi cẩn thận dưới tên mỗi bài:
‘Tác giả chép tặng anh Sáu Dân để làm kỉ niệm tình cảm’, như một nhắc nhở
với ông rằng, ông xin để làm kỷ niệm chứ không phải để làm bằng chứng đâu
đấy”.

Bẵng đi một thời gian, nhân dịp đại hội thành lập các hội nghệ thuật của
Thành phố, cũng trong một bữa tiệc do Thành uỷ chiêu đãi ở Khách sạn Bến
Nghé, ông Kiệt đã nhắc lại bài thơ Bán Vàng. Ông nói: “Vừa rồi, tôi trực
tiếp nghe được bài thơ Bán Vàng của nhà thơ Nguyễn Duy. Theo tôi, đây là một
bản án nhân tình đối với chế độ của chúng ta. Đau, nhưng là sự thật. Chúng
ta cần chân thành nhìn nhận sự thật, để cùng nhau vượt qua giai đoạn khó
khăn này. Muốn vượt qua, theo tôi phải có niềm tin, mà cốt lõi của niềm tin
là tin ở con người. Hôm nay, có thể có đồng chí không tin tôi, có thể tôi
không tin một đồng chí nào đó, nhưng chúng ta thì phải tin ở con người”.

Nguyễn Duy nhớ lại: “Lần đầu tiên ngồi với một uỷ viên dự khuyết Bộ Chính
trị, định mượn hơi rượu nói cho bõ hờn, không ngờ lại mở đầu cho một cuộc
giao du tình nghĩa”. Từ lần nghe đọc thơ ở Hội Nhà văn Thành phố, ông Võ Văn
Kiệt tạo lập được một mối quan hệ rất bạn bè với nhà văn Nguyễn Quang Sáng,
nhà thơ Nguyễn Duy và tiếp đó là nhạc sỹ Trịnh Công Sơn. Nguyễn Duy thỉnh
thoảng lại làm tiết canh, còn Nguyễn Quang Sáng lâu lâu lại lập mưu… làm
thịt chó. Ông Kiệt rất nhiều lần tham gia và khi nào ông cũng hết mình.

Thật khó để phân biệt đâu là nhu cầu bè bạn, đâu là nhu cầu chính trị trong
mối quan hệ giữa ông Võ Văn Kiệt với Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Sáng, Trịnh
Công Sơn… cũng như mối quan hệ giữa ông với các tên tuổi thời Việt Nam Cộng
hoà như Tiến sỹ Nguyễn Xuân Oánh, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, chuyên gia kinh
tế Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn… Nhưng sự thật là nhiều kiến thức về kinh tế,
chính trị và xã hội mà ông Kiệt có được là thông qua những lần đàm đạo với
những con người ấy.

Đầu thập niên 1990, khi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đang có những nỗ lực vận
động quốc tế để bảo vệ thành trì xã hội chủ nghĩa, ông Võ Văn Kiệt đến Davos
và bắt đầu nhận thấy khoảng cách giữa chủ nghĩa xã hội mà ông chứng kiến ở
Đông Âu và “tư bản giãy chết” mà Marx nói là một chặng đường xa xôi. Ông Võ
Văn Kiệt cũng nhận thấy, chế độ đang có những bế tắc mà “xé rào” cuối thập
niên 1970 hay “đổi mới” của thập niên 1980 là không thể nào tháo gỡ được.




Chú thích

(156) Bức thư của ông Võ Văn Kiệt đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng số ra
ngày 8-1-1982 có tựa đề, “Kính chào thành phố thân yêu, xin càng siết chặt
tay hơn trên nhiệm vụ mới”, đoạn về ông Nguyễn Văn Linh được viết: “Tôi xin
phép được giới thiệu anh Nguyễn Văn Linh, uỷ viên Bộ Chính trị, được phân
công về trực tiếp làm bí thư Thành uỷ. Anh Mười với thành phố của chúng ta
không phải là người xa lạ. Từ cuối những năm 1930, anh đã tham gia công tác
ở Đảng bộ Sài Gòn. Suốt kháng chiến chống Pháp, anh đã lãnh đạo Đảng bộ ở
đây, sau năm 1954, từ lúc làm bí thư Xứ uỷ Nam Bộ cho đến thời gian dài giữ
những công việc chủ yếu trong Trung ương Cục miền Nam, anh luôn theo dõi sát
phong trào thành phố. Sau năm 1975, anh trực tiếp làm bí thư Thành uỷ. Sau
Đại hội IV, anh phụ trách Tổng Công đoàn và sau đó thay mặt Bộ Chính trị
nhìn chung công việc các tỉnh phía Nam. Anh vẫn rất gần gũi phong trào thành
phố, thường xuyên góp ý kiến với Đảng bộ về nhiều chủ trương và biện pháp
lớn. Bên cạnh anh Mười là cả một dàn cán bộ chủ chốt của Đảng bộ đều là
những người đã vào sanh ra tử với phong trào, gắn bó mật thiết với nhân dân
nội, ngoại thành, giàu tính năng động, sáng tạo”.

(157) Bộ trưởng Thương mại 1991-1998.

(158) Borisat Phatthana Khet Phoudoi - gọi tắt là BPKP.

(159) Hồ sơ vụ án Cimexcol (tài liệu riêng của Thủ tướng Võ Văn Kiệt).

(160) Theo bản kiến nghị của các đại biểu thuộc đoàn đại biểu Quốc hội khoá
VIII tỉnh Minh Hải gửi đi trong kỳ họp thứ Năm.

(16) 1 Tháng 4-1989, Ngô Hoàng Giang là phó Phòng Thời sự Đài Truyền hình
Cần Thơ, được cử phụ trách hai ê-kip truyền hình tường thuật phiên toà xử vụ
án mà “thần tượng” của bà, ông Năm Hạnh, bị xếp thứ hai mươi mốt trong hàng
bị cáo.

(162) Một nhân vật trong phim cùng tên của Trung Quốc, bị địa chủ hãm hại và
được giải phóng bởi Hồng quân của Mao Trạch Đông.

(163) Ngày 23-22-1997.

(164) Thơ Tố Hữu.

(165) Phía sau tấm ảnh mà ông Kiệt tặng Đại tá Trần Tấn Nghĩa ghi: “Mến tặng
Nghĩa để kỷ niệm những ngày học tập ở Trường Đảng và cũng là những ngày
không thể quên nhau. VB (Việt Bắc) ngày 13-2-1952. Ký tên: Kiệt. Kiệt Nam Bộ”.

(166) Tức Nguyễn Võ Danh, người bảo vệ Lê Duẩn trong chuyến đào thoát sang
Campuchia, về sau là phó bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh.

(167) Mật danh của Khu IX

(168) Bà Nguyễn Thị Bình, con gái của ông Linh, viết: “Tôi còn nhớ, mỗi lần
đi công tác nước ngoài cha tôi tự tay duyệt danh sách cán bộ đi kèm, chỉ ai
thực sự cần thiết ông mới đồng ý cho đi, ông cấm việc lợi dụng đi nước ngoài
để buôn bán. Có lúc ông nóng giận làm căng tới mức anh em chưa hiểu cho là
ông không biết thông cảm, thiếu tế nhị. Sau đó, khi vui vẻ ông mới kể lại
những gì ông đã nghe người ta xì xào về các chuyến chuyên cơ đầy ắp hàng hoá,
thực hư chưa biết nhưng để cho nhân dân nghi ngờ như vậy thì buồn cho Đảng
lắm. Đối với gia đình, cha tôi cũng giữ nguyên tắc đó, suốt thời gian làm
Tổng bí thư ông chỉ cho người nhà theo ra nước ngoài hai lần. Một lần khi
Thủ tướng Ấn độ Ragiv Gandhi mời cả phu nhân cùng sang thăm. Lần thứ hai khi
Đảng Cộng sản Liên xô mời cả gia đình cùng sang nghỉ”.

(169) Ung Văn Khiêm là một trong những người đầu tiên dự lớp huấn luyện
Quảng Châu do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trở thành một trong những xứ uỷ viên
đầu tiên của Nam Bộ khi ba tổ chức cộng sản ở Nam kỳ hợp nhất. Tháng 8-1945,
ông Ung Văn Khiêm là bí thư Xứ uỷ Nam Kỳ; ông làm bí thư Bạc Liêu khi ông
Kiệt là phó bí thư. Năm 1963, sau Nghị quyết 9 “chống xét lại”, ông mất chức
Bộ trưởng Bộ ngoại giao những vẫn còn được giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Sau
năm 1967, ông bị quy kết dính líu tới “nhóm chống Đảng”, rồi chính thức bị
kỷ luật vào năm 1972 và bị cô lập tại gia những năm tiếp đó.

(170) Sau năm 1975, ông Võ Văn Kiệt đón gia đình ông Ung Văn Khiêm vào Sài
Gòn, cấp cho ông một căn nhà trên đường Phan Thanh Giản.

(171) Con gái ông, chị Nguyễn Thị Bình, viết: “Nhà có mảnh vườn còn rộng cha
tôi nói chặn lại dành nuôi thêm gà vịt, trồng thêm rau trái. Tôi còn nhớ rõ
những ngày ấy, bước chân ra khỏi cơ quan là đạp thẳng tới Cầu Sắt mua cám
cho cút, tới nhà dựa xe vào tường là vội vàng dọn chuồng, rồi trộn cám cho
ngày mai, mang giỏ trứng đi bỏ mối, nhiều bữa chín mười giờ đêm mới ăn cơm
chiều… Cha thấy chúng tôi vất vả cũng xót xa lắm, ông hay xuống dưới chuồng
nhắc chúng tôi nghỉ tay ăn cơm, lúc rảnh việc ông giúp chúng tôi cho cút ăn,
thay nước uống”.

Chương 15 

Mưu lược và quyết liệt không chỉ trong những cuộc chiến quy ước như Điện Biên Phủ,
năm 1946, khi Hồ Chí Minh đi Pháp nhân Hội nghị Fontainebleau, ở Hà Nội, tướng
Giáp đã cùng với Trường Chinh thanh trừng đối lập gần như triệt để. Nhưng trước
những đối thủ chính trị nhân danh Đảng, tướng Giáp trở nên cam chịu và thụ động.
Có lẽ lòng trung thành với tổ chức và ý thức tuân thủ kỷ luật đã rút đi thanh
gươm trận của ông. Vụ Án “Năm Châu - Sáu Sứ”

Trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Trung
ương chỉ định về ứng cử đại biểu đi dự Đại hội tại Đảng bộ Nghệ Tĩnh. Cuối tháng
4-1991, ông vào Vinh dự họp với Đoàn đại biểu Tỉnh. Tới nơi thì đã quá trưa. Đợi
vị tướng già cơm nước xong, Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh Nguyễn Bá mới trao tận tay
bức điện “khẩn tuyệt mật” của Ban Bí thư do ông Nguyễn Thanh Bình ký. Không được
phép họp với Đoàn, tướng Giáp bị yêu cầu phải trở ra Hà Nội ngay trong chiều hôm
đó.

Năm ấy tướng Giáp đã 80 tuổi. Đoạn đường Vinh - Hà Nội tuy chỉ hơn 300km nhưng
bụi bặm và dằn xóc. Tướng Giáp trở về phòng, viết mấy dòng cáo lỗi gửi Đoàn đại
biểu Nghệ Tĩnh rồi lại lên xe về Hà Nội, nơi ông sẽ phải ra trước Hội nghị Trung
ương 12, đối diện với những cáo buộc chính trị mà về sau được gọi là vụ “Năm
Châu - Sáu Sứ”.

Tại Hội nghị Trung ương 12, Khoá VI, ông Nguyễn Đức Tâm, Trưởng Ban Tổ chức,
thay mặt Bộ Chính trị báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương một văn bản tuyệt mật
nói rằng: Một vụ bè phái vi phạm nguyên tắc Đảng hòng chi phối vấn đề bố trí
nhân sự cấp cao đang diễn ra. Những người tham gia bao gồm Võ Nguyên Giáp, Trần
Văn Trà, cùng một số cán bộ cao cấp khác.

Thứ trưởng Bộ Nội vụ phụ trách an ninh, Trung tướng Võ Viết Thanh, nhớ lại:
“Nghe ông Tâm nói, có cảm giác như đang có một âm mưu đảo chính để đưa Đại tướng
Võ Nguyên Giáp lên làm chủ tịch nước sau đó thay ông Linh làm Tổng bí thư; đưa
Trần Văn Trà lên làm bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Thời gian trước Hội nghị Trung
ương 12, ông Trà bị triệu tập ra Hà Nội và bị giữ lại ở Nhà khách số 8 Chu Văn
An. Văn bản tuyệt mật này được phổ biến tới thường vụ các tỉnh, thành, bằng cách
cho đọc nguyên văn nhưng bị cấm sao chép”.

Tướng Đồng Sỹ Nguyên, uỷ viên Bộ Chính trị Khoá VI, nói: “Lật đổ là một câu
chuyện bịa đặt. Ông Giáp không chỉ là một đại tướng mà xứng đáng là một đại
nguyên soái. Một người không chỉ coi trọng sinh mạng binh sỹ mà còn đặt danh dự
của tổ quốc lên trên. Ông là một người thận trọng. Nhân vụ Sáu Sứ, họ còn lật
lại hồ sơ vụ ‘chống Đảng năm 1967’, đưa ra tài liệu cũ của Lê Đức Thọ, đây cũng
là một vụ án được dựng lên”. Ông Võ Viết Thanh kể thêm: “Tại hai Hội nghị 12 và
13 của Ban Chấp hành Trung ương, nhiều vị tướng trong Quân đội hết sức bức xúc,
đứng lên phát biểu bảo vệ tướng Giáp. Cụ Võ Nguyên Giáp cay đắng: Đến một vị
tướng đã đánh thắng Điện Biên Phủ mà người ta vẫn vu cho là con nuôi của mật
thám Pháp”.

Gần tới ngày Đại hội, một hôm vào khoảng 9 giờ đêm, Bộ trưởng Nội vụ Mai Chí Thọ
triệu tập một cuộc họp kín gồm có các thứ trưởng: Cao Đăng Chiếm, Phạm Tâm Long,
Bùi Thiện Ngộ, Võ Viết Thanh. Ông Mai Chí Thọ nói: “Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh
giao nhiệm vụ cho Bộ Công an làm rõ sai phạm của anh Giáp và anh Trà để xử lý cả
về mặt Đảng và Nhà nước. Bộ chỉ đạo anh Võ Viết Thanh đảm nhiệm việc này”. Cả
bốn vị thứ trưởng nghe đều phân vân, lo lắng. Ông Võ Viết Thanh nói: “Đề nghị Bộ
trưởng trình bày lại với Tổng bí thư đây là những người có công với nước, nếu có
sai thì Uỷ ban Kiểm tra Trung ương xác minh làm rõ còn khi đã chuyển công an thì
phải có dấu hiệu phạm tội”. Mai Chí Thọ dứt khoát: “Chúng ta phải thực hiện chỉ
đạo của Tổng bí thư”.

Ông Võ Viết Thanh nói tiếp: “Nếu phải điều tra, tôi đề nghị nên giao cho anh Cao
Đăng Chiếm hoặc anh Bùi Thiện Ngộ vì hai anh có kinh nghiệm trong ngành hơn tôi.
Tôi không từ chối, nhưng tôi biết bản báo cáo của đồng chí Nguyễn Đức Tâm lấy
nguồn tin từ một số người không tốt trong Cục II, Bộ Quốc phòng. Tôi cũng biết
người đẩy ra vụ này là Đoàn Khuê. Cá nhân tôi với Cục trưởng Quân báo Tư Văn và
Cục phó Vũ Chính có ý kiến khác nhau trong một số việc như: lợi dụng nghiệp vụ
đi buôn lậu; tổ chức cài đặc tình vào nội bộ… Bây giờ nếu tôi làm vụ này nữa thì
rất căng với Cục II”. Mai Chí Thọ gắt: “Ông phụ trách an ninh, không làm thì ai
làm”. Võ Viết Thành đành phải: “Tôi xin chấp hành”.

Ông Võ Viết Thanh kể: “Tôi bay vào Sài Gòn. Anh em an ninh đã có đủ tư liệu, vấn
đề là tình hình nội bộ rất căng vì có tác động từ cấp cao. Nhiều người khuyên
tôi khi điều tra không nên làm khác báo cáo của Nguyễn Đức Tâm. Người gần gũi
nhất là Thiếu tướng Trần Văn Danh cũng nói là có người khuyên như vậy. Ông Danh
gọi tôi tới, tôi hỏi: ‘Lời khuyên này xuất phát từ đâu anh Ba?’. Ba Trần, tên
thường gọi của tướng Trần Văn Danh, nói: ‘Ở cấp rất cao’. Tôi nói: ‘Tôi đề nghị
anh Ba trả lời họ, tôi đang được giao một công việc mà tôi không thể nào làm
trái đạo đức và pháp luật’. Ba Trần nghe bắt tay, không ngờ anh chỉ hỏi thế để
thăm dò nhưng anh là người ủng hộ tôi làm đúng”.

Ông Võ Viết Thanh kể tiếp: “Ngày 14-5-1991, tôi ra lệnh bắt khẩn cấp Nguyễn Thị
Sứ. Anh em thi hành không bắt tại nhà vì sợ động mà bắt bí mật, đưa về 258 
Nguyễn Trãi. Vừa vào trại, Sáu Sứ hỏi: ‘Các anh ở phía nào?’. Anh em dằn mặt:
‘Chị không được phép hỏi như thế, chúng tôi là cơ quan an ninh, yêu cầu chị nói
hết’. Sáu Sứ trả lời: ‘Tôi là người Cục II, yêu cầu được nói chuyện điện thoại
với Tư Văn, Vũ Chính’. Anh em An ninh nói: ‘Chị là người phạm pháp, chị không
được phép gặp ai cả’. Trong một ngày Sáu Sứ khai hết(172)”.

Không hề có một tổ chức nào do cụ Giáp đứng đầu như báo cáo của Nguyễn Đức Tâm
đề cập. Theo ông Võ Viết Thanh, Sáu Sứ khai bà được Vũ Chính cấp tiền, cấp xe và
đi gặp vị tướng nào, nói gì là đều theo chỉ đạo của Cục II. Thông qua một người
tên là Năm Châu, từng công tác chung với ông Thanh Quảng, nguyên là thư ký của
tướng Giáp, Sáu Sứ được đưa tới nhà Võ Nguyên Giáp cùng một số cựu chiến binh.
Hôm Sáu Sứ đến, cụ Giáp đang ăn, nghe có đoàn Cựu chiến binh, cụ dừng bữa cơm để
tiếp. Sáu Sứ mang theo một giỏ trái cây vào tặng rồi xin cụ Giáp cùng chụp ảnh
với Đoàn. Toàn bộ cuộc gặp chỉ có vậy nhưng Sáu Sứ báo cáo: “Cụ Giáp đã đồng ý
với kế hoạch”. Rồi theo ông Võ Viết Thanh: “Băng ghi âm cuộc nói chuyện của Sáu
Sứ ở nhà tướng Giáp nghe không rõ nhưng Cục II vẫn xào nấu thành một bản báo
cáo, theo đó: Đang có một vụ đảo chính, một vụ bè phái trong Đảng hòng chi phối
vấn đề bố trí nhân sự cấp cao trước Đại hội VII do tướng Võ Nguyên Giáp, Trần
Văn Trà cùng một số cán bộ cao cấp khác tiến hành. Bản báo cáo này trở thành cơ
sở để Trưởng Ban Tổ chức Nguyễn Đức Tâm báo cáo trước Hội nghị Trung ương 12 về
tướng Giáp”.

Theo Đại tá Nguyễn Văn Huyên, Chánh Văn phòng tướng Giáp, từ Hội nghị Trung ương
12 về nhà nghỉ trưa, tướng Giáp hỏi: “Cậu có nhớ ai tên là Năm Châu từng ở Nam
Bộ ra đây gặp mình không?”. Ông Huyên nhắc lại sự việc xong, tướng Giáp ăn cơm
rồi đi ngủ. Đến cận giờ họp buổi chiều, ông Huyên vào phòng thấy tướng Giáp vẫn
ngáy khò khò, ông Huyên hỏi: “Việc đang thế này mà anh cũng ngủ được à?”. Tướng
Giáp cười: “Cây ngay không sợ chết đứng”.

Trong khi đó, ngay sau khi Sáu Sứ bị bắt vào ngày 15-5-1991, theo ông Võ Viết
Thanh: Cục II rúng động, Cục trưởng Tư Văn đổ bệnh. Trong ngày ông Võ Viết Thanh
cầm bản cung của Sáu Sứ bay ra Hà Nội, 17-5-1991, tướng Lê Đức Anh viết một bức
thư cực ngắn: “Kính gửi: Bộ Chính trị. Tôi xin không ứng cử vào Quốc hội khoá
IX. Xin cám ơn Bộ Chính trị. Kính! Lê Đức Anh”. Do căng thẳng, tướng Lê Đức Anh
ngay sau đó bị đột quỵ. Bác sỹ Vũ Bằng Đình, người trực tiếp cấp cứu, nói: “Ông
Lê Đức Anh bị xuất huyết dạ dày, huyết áp tụt xuống bằng 0, hồng cầu chỉ còn một
triệu. May mà cấp cứu kịp”.

Theo ông Võ Viết Thanh: “Ra Hà Nội, tôi làm báo cáo đưa ông Mai Chí Thọ đề nghị
Bộ trưởng ký. Ông Mai Chí Thọ nói: ‘Cậu ký luôn, gửi và trực tiếp báo cáo anh
Linh’. Ngay chiều hôm đó, Chánh Văn phòng Trung ương Hồng Hà xếp lịch gặp Tổng
bí thư. Nghe tôi báo cáo xong, ông Linh không nói gì. Nhưng, sáng hôm sau thì
nhận được ‘điện mật’ của Văn phòng yêu cầu các nơi ngưng phổ biến và gửi trả văn
bản do Nguyễn Đức Tâm ký về Văn phòng Trung ương. Sau đó, Trung ương không có
một lời nào nói lại với tướng Giáp, còn tướng Trần Văn Trà thì vẫn bị giữ lại ở
số 8 Chu Văn An”. Theo ông Võ Viết Thanh: “Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã không
đưa kết luận về vụ Sáu Sứ ra báo cáo trước Hội nghị Trung ương và ngay cả các uỷ
viên Bộ Chính trị cũng không mấy ai biết”. Thái độ của Tổng bí thư như một tín
hiệu để ngay lập tức ông Võ Viết Thanh nhận được đòn “đánh dưới thắt lưng” của
Cục II.

Theo ông Võ Viết Thanh, ngày 23-6-1991, khi đại biểu đã được triệu tập về Hà
Nội: “Trước phiên họp cuối cùng của Hội nghị trù bị, Hồng Hà, Chánh Văn phòng
Trung ương đưa tôi miếng giấy, ghi: ‘Đề nghị đồng chí Võ Viết Thanh đến giờ giải
lao ra gặp Bộ Chính trị và Ban Bí thư có việc riêng’. Tôi tới phòng làm việc của
Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn
Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn
Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí
hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng
chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất
tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay
sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ
đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian,
chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi
danh sách tái cử vào Trung ương khoá VII”.

Ông Võ Viết Thanh nói: “Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì
tôi không còn kiềm chế được(173). Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn,
tôi đã định kéo khoá, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình
hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận”(174). Cho
dù giữ mình để bảo vệ Đại hội, tương lai chính trị của ông Thanh đã coi như khép
lại. Ông Võ Viết Thanh nói: “Nếu tôi cứ nghe lời khuyên, kết luận giống như bản
báo cáo của Nguyễn Đức Tâm, thì tôi sẽ được thăng chức, đề bạt nhưng rồi tôi lại
phải dấn vào bước thứ hai là ra lệnh bắt oan tướng Trà và tướng Giáp. Làm thế,
thì lương tâm sẽ giết dần, giết mòn tôi”(175).

Năm ấy, tướng Giáp vừa tròn 80 tuổi(176). Ông không nằm trong bất cứ cơ cấu nhân
sự nào, vụ “Năm Châu - Sáu Sứ”, nếu thành, chỉ có thể hạ bệ uy tín của ông trong
Đảng. Khi Võ Nguyên Giáp đã là Đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh chỉ
mới là một cán bộ ở cấp tiểu đoàn. Sự mặc cảm trước uy danh của tướng Giáp chỉ
có thể được tích tụ thông qua hai người đã cất nhắc Lê Đức Anh: Lê Duẩn và, đặc
biệt là, Lê Đức Thọ. “Cách mạng miền Nam”

Mối quan hệ giữa Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp thoạt đầu được mô tả là khá thân
thiện. Tướng Giáp kể: “Lúc mới ra Bắc, anh Lê Duẩn thường tâm sự với tôi những
khó khăn trong công việc. Anh đã nhiều lần nói với tôi, năm 1940 nhờ có chị Thái
nên anh thoát khỏi án tử hình”(177).

Câu chuyện về “chị Thái” mà ông Lê Duẩn đề cập trên đây xảy ra năm 1940, trong
phiên toà xử những người lãnh đạo “Nam Kỳ khởi nghĩa”, ông Lê Duẩn và Nguyễn Thị
Minh Khai đứng đối diện trong song sắt trước toà. Minh Khai viết một bức thư
nhỏ, gấp lại rồi ném cho Lê Duẩn, chẳng may thư rơi xuống gần người lính canh
ngục. Nguyễn Thị Quang Thái đứng gần đó, nhanh chóng nhặt và nuốt ngay lá
thư(178).

Khi phân công trong Đảng, Hồ Chí Minh nói: “Việc quân sự giao cho chú Giáp”. Cụ
Hồ cũng đã từng cử Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc học quân sự. Nhưng trên đường
đi, Chiến tranh Thế giới II đưa người Pháp ở chính quốc vào thế thua, Hồ Chí
Minh thấy thời cơ tới nên gọi ông trở lại. Tướng Giáp vì thế chưa từng qua bất
cứ một trường lớp nhà binh nào. Có lẽ, tư duy quân sự của ông hình thành trong
những năm dạy sử.

Ngày 22-12-1944, tại Việt Bắc, Võ Nguyên Giáp đứng ra thành lập Đội Tuyên truyền
Giải phóng quân Việt Nam với ba mươi bốn chiến sỹ trong đó có ba nữ(179). Ngay
sau khi thành lập, Đội Tuyên truyền Giải phóng quân đã đánh thắng hai trận ở Nà
Ngần và Phai Khắt, thuộc tỉnh Cao Bằng. Khi Nhật đảo chính Pháp, Việt Nam Tuyên
truyền Giải phóng quân đã mở rộng hoạt động quân sự từ Cao Bằng tới Tuyên Quang,
Lạng Sơn. Ngày 15-5-1945, tại Chợ Chu, Thái Nguyên, lực lượng này đã hợp nhất
với Cứu Quốc quân, lập ra Việt Nam Giải phóng quân.

Mãi tới tháng 5-1940, Võ Nguyên Giáp mới sang Trung Quốc gặp Hồ Chí Minh và tham
gia Đảng Cộng sản Đông Dương trong khi năm 1939 Lê Duẩn đã được bổ sung vào
Thường vụ Trung ương Đảng. Tuy nhiên, trong thời gian Lê Duẩn gần như mờ nhạt ở
miền Nam thì Võ Nguyên Giáp đã “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”. Theo ông
Hoàng Tùng: “Khi mới từ miền Nam ra, cả Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đều không thấy
thoải mái khi ngồi cùng tướng Giáp”. Cho dù lịch sử gắn bó giữa Lê Đức Thọ và Lê
Duẩn bắt đầu bằng một cuộc đụng độ(180). Kể từ khi Lê Duẩn ra Bắc, Lê Đức Thọ đã
đóng một vai trò quan trọng trong quy trình cán bộ đưa Lê Duẩn đạt đến đỉnh cao
quyền lực(181).

Về phía mình, ông Giáp cũng đã rất giữ gìn, đặc biệt, với ông Lê Duẩn. Năm 1956,
Trung ương Đảng thừa nhận sai lầm trong cải cách ruộng đất, Trường Chinh xin từ
chức, Hồ Chí Minh lúc bấy giờ là chủ tịch Đảng kiêm thêm chức vụ Tổng bí thư.
Theo Đại tướng Võ Nguyễn Giáp, lúc đó đang là trợ lý về Đảng của Hồ Chí Minh:
“Tháng 7-1956, tôi đề nghị Bộ Chính trị cử anh Ba làm phó Tổng bí thư để dễ làm
việc, nhưng anh đã từ chối và nói, nên chờ đại hội quyết định. Tại hội nghị Bộ
Chính trị bàn việc chuẩn bị đại hội, khi được đề nghị làm trưởng ban chuẩn bị
Báo cáo Chính trị, anh cũng từ chối và nói, ‘đã mười năm không ở miền Bắc, chủ
trì chuẩn bị báo cáo e khó khăn, vì vậy đề nghị hai đồng chí Trường Chinh và Võ
Nguyên Giáp tham gia’. Cuối cùng Bộ Chính trị đề nghị Bác làm trưởng ban, anh Ba
làm phó”(182).

Ông Hoàng Tùng, khi đó là chánh Văn phòng Trung ương Đảng, kể: “Trong khoảng từ
tháng 10-1956 đến tháng 7-1957, tôi được phân công giúp ông Giáp chủ trì hội
nghị sửa sai. Khi Bác kiêm Tổng bí thư thay Trường Chinh, uỷ viên Thường trực Bộ
Chính trị Võ Nguyên Giáp được cử giúp Bác giải quyết các công việc thường vụ”.
Thời gian ấy, theo ông Hoàng Tùng, không khí sinh hoạt trong Bộ Chính trị diễn
ra khá tế nhị, người cố gắng che giấu ý muốn được Hồ Chí Minh chọn trao chức
Tổng bí thư, người hoạt động khá rốt ráo cho tham vọng ấy. Ông Hoàng Tùng kể:
“Lê Đức Thọ gặp không ít đàn em gợi ý thẳng, ‘giờ đến lượt tao’. Những năm 1945,
1946, thế Lê Đức Thọ lớn lắm, chỉ sau Hồ Chí Minh, Trường Chinh. Bác cử Lê Đức
Thọ vào Nam cũng có ý không để hai ‘con hổ’ Trường Chinh, Lê Đức Thọ gần nhau.
Nhưng khi Bác lấy phiếu thăm dò, không ai đề cử Lê Đức Thọ cả. Trong bốn ứng cử
viên Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn cao phiếu hơn
hẳn”.

Nhưng, đấy là những gì diễn ra trong năm 1960 tại Đại hội III của Đảng Lao động
Việt Nam, sau khi “đường lối cách mạng miền Nam” ngã ngũ.

Ngày 6-7-1956, hai tuần trước hạn thống nhất hai miền Nam Bắc theo Hiệp định
Geneva, Hồ Chí Minh có thư “gửi đồng bào cả nước”, chỉ rõ: “Nhiệm vụ thiêng
liêng của chúng ta là kiên quyết tiếp tục đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva,
thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà
bình”(183). Ngày 9-7-1956, trong một cuộc mít tinh tổ chức tại Hà Nội, tướng
Giáp có bài phát biểu dài diễn giải tinh thần bức thư ngày 6-7-1956 của Hồ Chí
Minh(184), cho rằng: “Chủ trương của chúng ta là thống nhất nước nhà bằng phương
pháp hoà bình, và chúng ta nhận định rằng trong điều kiện trong nước và thế giới
hiện nay, sự nghiệp thống nhất nước nhà của Việt Nam ta có khả năng hoàn thành
bằng phương pháp hoà bình”(185).

Cũng trong thư đề ngày 6-7-1956, Hồ Chí Minh còn đưa ra sáng kiến: “Lập lại quan
hệ bình thường và quyền tự do đi lại giữa hai miền, tạo điều kiện cho các đoàn
thể chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội ở miền Bắc và miền Nam được liên lạc với
nhau. Mở hội nghị hiệp thương gồm đại biểu của hai miền để bàn về vấn đề tổng
tuyển cử tự do nhằm thống nhất nước nhà trên cơ sở Hiệp nghị Geneva”(186).

Đây không chỉ là quan điểm của tướng Giáp hay của Hồ Chí Minh mà là sách lược
hoà hoãn của phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô nhằm giải quyết các vấn đề
nội bộ sau khi Khrushchev thay thế Stalin chết ba năm trước đó(187). Thời gian
đó, khi soạn Đề Cương Cách Mạng Miền Nam ở Sài Gòn, Lê Duẩn cũng cho rằng:
“Đường lối tranh đấu của chúng ta cũng không thể ra ngoài đường lối hoà bình
được. Chính đường lối tranh đấu hoà bình ấy mới tạo được lực lượng chính trị
mạnh mẽ để chiến thắng âm mưu gây chiến và chính sách tàn bạo của Mỹ-Diệm”(187).
Theo ông, thì hoà bình chính là “nguyện vọng thiết tha của nhân dân miền
Nam”(189).

Trong khi tướng Giáp phân tích: “Chúng ta phải nhớ rằng: thế giới ngày nay chiến
tranh có khả năng tránh khỏi nhưng nguy cơ chiến tranh vẫn tồn tại vì chủ nghĩa
đế quốc vẫn tồn tại… đế quốc Mỹ đã vào miền Nam cho nên nguy cơ chiến tranh vẫn
tồn tại ngay trên đất nước ta”(190). Thì quan điểm của ông Lê Duẩn vẫn là: “Việc
thống nhất nước Việt Nam ta bằng phương pháp hoà bình có thể thực hiện được…
Không có lý do gì mà gây chiến tranh… Nhân dân cả hai miền chống lại âm mưu chia
xẻ và gây chiến của Mỹ-Diệm, đi đến hiệp thương, thương lượng giữa hai miền để
hoà bình, thống nhất đất nước”(191).

Tháng 8-1955, Hội nghị Trung ương 8 khẳng định: “Kẻ thù cụ thể trước mắt của
chúng ta hiện nay là đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai”. Hội nghị nhấn mạnh: “Muốn
thống nhất nước nhà điều cốt yếu là phải ra sức bảo vệ miền Bắc đồng thời giữ
vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam”. Tháng 6-1956, Bộ Chính
trị cũng đã họp và ra nghị quyết xác định nhiệm vụ cách mạng miền Nam là chống
đế quốc Mỹ với phương châm: “Đấu tranh chính trị không có nghĩa là không dùng
hình thức vũ trang tự vệ trong hoàn cảnh nhất định”(192).

Từ tháng 3-1957, sau Nghị quyết 12 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quân đội
miền Bắc bắt đầu “thời kỳ xây dựng chính quy hiện đại”. Chủ trương “giải trừ
quân bị” bắt đầu được thực hiện. Nhiều tướng lĩnh quân đội đã được chuyển sang
làm kinh tế. Ngay cả Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng được cử vô Quảng Bình để
làm “gió Đại Phong”.

Bút Tre đã làm thơ:

“Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh

Anh về phân bắc, phân xanh đầy đồng”.

Ngày 4-6-1957, máy bay chở ông Lê Duẩn đáp xuống sân bay Gia Lâm sau một hành
trình dài. Thời gian đầu, Lê Duẩn “chưa nhận một chức vụ công khai gì”, ông ở
chung nhà khách với ông Phan Văn Đáng, cũng vừa từ Xứ uỷ Nam Bộ ra. Hai người
vẫn thường “qua mặt” bảo vệ, lấy xe đạp đi chơi. Bảo vệ biết mà không dám ngăn,
đành phải tháo van xì hơi và có lần vội quá châm kim cho thủng lốp. Hai người
cũng đã từng chen chúc lấy “vé hạng chót” ở rạp Hồng Hà, đứng bám cột kèo nhà
hát, coi cải lương(193).

Trước khi ông Lê Duẩn ra Hà Nội, đấu tranh vũ trang đã được những người soạn
thảo Nghị quyết 15 coi như là con đường không thể tránh. Ông Hoàng Tùng kể:
“Suốt mùa xuân năm 1957, tôi cùng Trần Quang Huy đi Đồ Sơn chuẩn bị Đề Cương
Cách Mạng Miền Nam. Chúng tôi nêu lên phương hướng: không thể hoà bình mà phải
đương đầu đấu tranh giải phóng Miền Nam”. Tuy nhiên, ông Hoàng Tùng thừa nhận:
“Nhờ có thời gian lăn lộn ở chiến trường, Lê Duẩn là người phát triển, hoàn
chỉnh Nghị quyết 15”.

Theo ông Hoàng Tùng: “Khi ấy, Bộ Chính trị không có ảo tưởng hoà bình, nhưng
phát biểu công khai thì phải thế. Bác cũng không nghĩ thế, nhưng nếu để lộ ra,
Trung Quốc và Liên Xô sẽ rầy rà mình”. Nhưng, theo ông Hoàng Tùng, khi Lê Duẩn
vừa ra Bắc, ông chưa quen với cách mà các nhà lãnh đạo ở Hà Nội phải đối phó với
“hai ông anh” của mình, thấy tranh cãi về Nghị quyết 15 như thế, đến giờ giải
lao, ông nói với tôi: “Hoà bình vui vẻ rồi, họ muốn miền Nam chết, họ bỏ rồi”.
Hoà hoãn không chỉ thể hiện trên ngôn ngữ như ông Hoàng Tùng nói vì năm 1958, Sư
đoàn 332 vẫn bị giải thể, hai mươi vạn quân thường trực được chuyển đi làm kinh
tế(194).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Khi từ miền Nam ra Trung ương, anh (Lê Duẩn)
nói, ‘điều vui mừng nhất là biết Trung ương đã sớm xác định Mỹ là kẻ thù chính’
và ‘ra đây mới thấy hết tình hình khó khăn phức tạp chưa thể phát động đấu tranh
vũ trang ở miền Nam sớm hơn”(195). Tướng Lê Đức Anh xác nhận, cuối năm 1957, khi
gặp Lê Duẩn ở Bộ Quốc Phòng, ông đã nói: “Ra Bắc mới được vài tháng mà tôi thấy
tình hình quốc tế, tình hình trong nước phức tạp quá”.

Trong thời gian chủ trương chưa dứt khoát đó, hàng vạn đảng viên Cộng sản đã bị
bắt, bị giết bởi những chiến dịch tố cộng của Chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngược
lại, từ đó cho đến năm 1960, “mỗi năm có khoảng 2.500 quan chức miền Nam Việt
Nam bị ám sát”(196). Trên thực tế, các hoạt động du kích là chưa bao giờ ngưng
cả, nhưng, tới năm 1959 thì hoạt động này chuyển lên mạnh hơn.

Theo Kissinger, “đến cuối nhiệm kỳ của Chính quyền Eisenhower, chính quyền Nam
Việt Nam đã nhận được từ Mỹ hơn một tỷ đôla viện trợ; có 1.500 người Mỹ ở miền
nam Việt Nam với 692 thành viên nằm trong nhóm cố vấn quân sự; đại sứ quán Mỹ ở
Sài Gòn trở thành một trong những phái đoàn lớn nhất của Mỹ trên thế giới”(197).

Trận “đánh Mỹ” đầu tiên diễn ra ngày 2-1-1963 ở một ấp chiến đấu cách thị xã Mỹ
Tho 14 km có tên là Ấp Bắc(198). Nhưng cũng trong năm 1963, khi được giao soạn
thảo bản báo cáo chính trị cho Hội nghị Trung ương 9, ông Hoàng Minh Chính(199)
vẫn dựa trên lập trường “chung sống hoà bình” của Khrushchev. Bản báo cáo của
ông không được lựa chọn. Tháng 12-1963, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn triệu tập Hội
nghị Trung ương 9, đưa ra dự thảo nghị quyết về “các vấn đề quốc tế và chống chủ
nghĩa xét lại hiện đại”. Hoàng Minh Chính bảo lưu ý kiến bằng cách phân phát cho
một số uỷ viên Trung ương dự Hội nghị một bài viết của ông có tên Về Chủ Nghĩa
Giáo Điều Ở Việt Nam. Một số uỷ viên Trung ương đã hưởng ứng lập trường này như
Bùi Công Trừng, Lê Liêm, Ung Văn Khiêm(200).

Từ năm 1964, nghị quyết về “các vấn đề quốc tế và chống chủ nghĩa xét lại hiện
đại” đã làm cho khoảng bốn mươi người đang học và đang công tác ở Liên Xô xin
“tị nạn”, trong đó có những người từng gần gũi với tướng Giáp như Phó Chủ tịch
Uỷ ban Hành chính Hà Nội Nguyễn Minh Cần; Chính uỷ Sư đoàn 308, Phó Chính uỷ
Quân khu III, Đại tá Lê Vinh Quốc; nguyên Tổng Biên tập báo Quân Đội Nhân Dân,
Thượng Tá Ðỗ Văn Doãn,…

Sau Hội nghị Trung ương 9, vấn đề của “cách mạng miền Nam” không còn chịu ảnh
hưởng nhiều bởi thái độ của Trung Quốc hay Liên Xô. Trong Đảng cũng đạt được một
đường lối chung: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam”.
Từ tháng 9-1963, một phó tổng tham mưu trưởng được đưa vào Nam(201) và ngay
trong thời gian ông Lê Duẩn đang chủ trì Hội nghị Trung ương 9, hàng trăm sỹ
quan cấp chiến thuật bắt đầu được đưa về các trung tâm huấn luyện(202).

Tuy nhiên, ở Hà Nội, theo Cục trưởng Tình báo Quân đội Lê Trọng Nghĩa: “Đầu năm
1964 khi viết Nghị quyết 9 thành văn, họp Trung ương vẫn có nhiều ý kiến khác
nhau. Vì vậy, Nghị quyết 9 dừng lại ở mức độ: đánh thắng Mỹ nhưng giữ nó ở mức
độ chiến tranh đặc biệt, tránh để chiến tranh mở rộng ra miền Bắc”.

Những năm đầu thập niên 1960, ở miền Nam, “Ngô Chí Sĩ” bắt đầu được mô tả như là
một “độc tài gia đình trị”(203). Ngày 24-8-1963, Henry Cabot Lodge, người vừa
sang Sài Gòn làm đại sứ nhận được chỉ thị từ Washington yêu cầu cách chức Nhu và
cảnh báo Diệm rằng, nếu ông ta từ chối, Hoa Kỳ sẽ phải “đối diện với khả năng
chính bản thân ông Diệm không thể được bảo toàn”(204). Ngày 1-11-1963, các tướng
lĩnh Sài Gòn đã đảo chính. Hai anh em ông Diệm phải chạy trốn vào nhà thờ Cha
Tam và sau đó bị bắn chết(205).

Ba tuần sau, ngày 22-11-1963, tại Dallas, Texas, Tổng thống Kennedy bị ám sát.
Vị tổng thống mới, Lyndon Baines Johnson, bắt đầu coi sự xuất hiện của quân đội
chính quy miền Bắc ở miền Nam là “xâm lược”. Ngày 21-12-1963, Bộ trưởng Quốc
phòng McNamara báo với Johnson rằng, nước Mỹ phải đối mặt với sự lựa chọn: leo
thang can thiệp quân sự hoặc để cho miền Nam sụp đổ. Sự kiện Vịnh Bắc Bộ

Một tháng sau khi Ngô Đình Diệm bị đảo chính, Ban Chấp hành Trung ương Đảng lại
nhóm họp, đẩy cách mạng miền Nam lên một tầm mức rõ ràng hơn: “Đã đến lúc miền
Bắc cần tăng viện trợ cho miền Nam, miền Bắc phải phát huy hơn nữa vai trò là
căn cứ cách mạng cho toàn đất nước”. Không lâu sau đó, Sư đoàn 325 được đưa vào
“Chiến trường B”(206).

Người Mỹ không ngồi yên khi nhịp độ chi viện quân sự từ miền Bắc vào Nam ngày
càng tăng cao. Mỹ chủ trương đánh mạnh vùng Hạ Lào và ngoài Biển Đông, Hạm đội
Bảy dịch chuyển dần lên rồi đưa tàu USS Maddox vào vịnh Bắc Bộ. Trực Ban Tác
chiến Quân uỷ Trung ương tuần lễ đầu tháng 8-1964, Cục trưởng Quân báo, Đại tá
Lê Trọng Nghĩa, kể: “Nguồn tin của chúng tôi cho biết, sau khi tàu Maddox di
chuyển hỗ trợ cho các máy bay của hải quân Mỹ ném bom Nậm Căn, nhằm quấy rối,
chặn đường chi viện miền Nam sẽ quay về Hạm đội Bảy. Quân uỷ cũng nhận định
không có dấu hiệu Mỹ dùng tàu Maddox đánh ra miền Bắc”.

Ngày 2-8-1964, khi chiếc tàu USS Maddox di chuyển từ phía Bắc Việt Nam vào vùng
biển Hòn Mê, thuộc địa phận Thanh Hoá, nó đã bị một đơn vị hải quân miền Bắc
dùng tàu phóng ngư lôi bắn trúng mũi. Thương vong không đáng kể, nhưng “Capitol
Hill đã náo loạn”. Ngày 4-8-1964 hệ thống ra đa của USS Maddox nhận được tín
hiệu sẽ có một cuộc tấn công thứ hai. Mặc dù, về phía Việt Nam, “nhật ký chiến
sự không ghi nhận bất cứ sự kiện gì vào ngày 4-8 cả”(207).

Vụ tàu USS Maddox đã khiến cho lòng kiêu hãnh của những người Mỹ ở Washington bị
thách thức. Ngày 5-8-1964, máy bay Mỹ lần đầu tiên thi hành một số phi vụ bắn
phá trên miền Bắc. Ngày 7-8-1964, 100% nghị sỹ ở Hạ viện và sau đó 98/100 thượng
nghị sỹ bỏ phiếu thông qua “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ”; theo đó, cho phép tổng
thống toàn quyền hành động quân sự với miền Bắc cộng sản. Một tuần sau, từ Thanh
Hoá, 160 sỹ quan chính quy kết thúc sớm lớp huấn luyện, bắt đầu hành trình vượt
Trường Sơn(208).

Theo Đại tá Lê Trọng Nghĩa: “Khi ‘sự kiện Vịnh Bắc Bộ’ xảy ra, cả Võ Nguyên
Giáp, Nguyễn Chí Thanh đều đi vắng. Trung Quốc và Liên Xô cùng làm ầm lên. Chủ
tịch Hồ Chí Minh phải chủ trì họp kiểm điểm. Vào họp Hồ Chí Minh đặt vấn đề rất
nghiêm: Ai ra lệnh? Hôm xảy ra vụ tàu Maddox, trực Quân uỷ Trung ương là tướng
Trần Quý Hai, tôi là trực ban tác chiến chịu trách nhiệm nắm tình hình địch.
Trần Quý Hai nói là đã báo cáo Bộ Chính trị trước khi ra lệnh nhưng kiên quyết
không nói cụ thể báo cáo ai. Võ Nguyên Giáp yêu cầu phải kỷ luật. Trong khi, Văn
Tiến Dũng nói, ‘mình không đánh nó thì nó cũng sẽ đánh mình, bản chất đế quốc là
thế’. Cuối cùng Trần Quý Hai nhận kỷ luật cho dù ai cũng biết phía sau lệnh này
là ai”(209).

“Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” trở thành lý do để những người chủ chiến ở cả phía Mỹ và
Việt Nam đẩy nhịp độ chiến tranh lên mức cao hơn. Từ miền Bắc, viên tướng đứng
đầu xu hướng đánh thắng Mỹ bằng quân sự, Nguyễn Chí Thanh, được cử vào Nam trực
tiếp làm bí thư Trung ương Cục. Cùng đi có các tướng Lê Trọng Tấn, Nguyễn Hoà,
Hoàng Cầm và Trần Độ.

Chỉ ít lâu sau, tháng 2-1965, Bộ Chỉ huy Miền Nam quyết định mở Chiến dịch Đồng
Xoài. Đồng thời, ở Cao Nguyên, một cuộc tấn công lớn đã được nhắm vào khu ở của
cố vấn Mỹ ở thành phố Pleiku. Người Mỹ trả đũa bằng cách mở một đợt tấn công
bằng không quân vào miền Bắc. Cuộc tấn công này nhanh chóng biến thành một chiến
dịch ném bom có hệ thống với mật danh “chiến dịch Sấm rền”. Sự kiện này đã đặt
miền Bắc vào tình thế chấp nhận để cho một lực lượng quân nhân của các nước xã
hội chủ nghĩa bí mật có mặt trên miền Bắc.

Năm 1964, ông Lê Duẩn từng dự định “giành chính quyền Sài Gòn” trong năm 1965 
bằng cuộc đảo chính của Đại tá Phạm Ngọc Thảo kết hợp với một cuộc tổng tiến
công, nhân khi “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ được coi là “phá sản” còn quân Mỹ
thì chưa được đưa vào tham chiến. Đại tá Thảo được ông Lê Duẩn “đánh vào” chính
quyền Ngô Đình Diệm với vỏ bọc “người trí thức tham gia kháng chiến trở về với
chính nghĩa quốc gia”. Còn cuộc tổng tiến công thì theo ông Võ Văn Kiệt, năm
1964, chỉ riêng Khu uỷ Sài Gòn-Gia Định đã cho thành lập năm “phân khu”. Cũng
trong năm 1964, từ Hà Nội, ông Lê Duẩn đã cử một “bộ khung” vào Nam.

Một thành viên trong “bộ khung” này, ông Kiều Xuân Long, kể: “Chúng tôi bắt đầu
đi B cuối năm 1964, đích thân Lê Duẩn và Tố Hữu tiễn đưa. Đầu năm 1965, chúng
tôi tới Tây Ninh, gặp cán bộ Trung ương Cục, họ thúc, ráng đi lẹ lên coi chừng
không kịp”. Đồng tiền “miền Nam Việt Nam” cũng được in và chuyển vào Trung ương
Cục với mật danh: “Hàng 65”. Nhưng cuộc đảo chính do Phạm Ngọc Thảo cầm đầu thất
bại. Giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến bắt đầu.

Ngày 8-3-1965, lính Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và tháng 7 năm ấy bắt đầu tham chiến
tại miền Nam. Đáp lại, trong tháng 9-1965, hai đơn vị chủ lực cơ động của Nam
Bộ, Sư đoàn 9 và Sư đoàn 5, lần lượt được thành lập; tháng 6-1966, Miền cho lập
thêm Sư đoàn 7. Từ đó, quân đội Mỹ tiếp tục được ồ ạt đưa sang cho đến khi đạt
con số 543.000 người vào năm 1968. Mậu Thân và tham vọng của Lê Đức Thọ

Cuối năm 1966, khi trả lời phỏng vấn Harrison Salisbury, phóng viên tờ New York
Times, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rằng, Hoa Kỳ đúng là “mạnh hơn rất nhiều về
quân sự”, nhưng, theo ông: “Cuối cùng sẽ thất bại vì có nhiều người Việt Nam sẵn
sàng hy sinh cho Việt Nam hơn người Mỹ”.

Sức chịu đựng của nền chính trị Mỹ bắt đầu bị thách thức khi số lính Mỹ chết ở
chiến trường Việt Nam lên tới con số hàng trăm mỗi tuần. Từ năm 1961 cho tới đầu
năm 1968, có 31.000 người Mỹ bị chết và mất tích ở Việt Nam. Cảnh chết chóc của
binh lính và đặc biệt là dân thường được chiếu mỗi tối trên máy truyền hình bắt
đầu có trong phòng ngủ của các gia đình Mỹ.

Theo mô tả của Henry Kissinger, “McNamara mong muốn kết thúc chiến tranh một
cách tuyệt vọng, và nhiều lần khẩn khoản tôi moi bất cứ dấu hiệu lờ mờ nào, cho
dù là gián tiếp, có thể giúp ông thúc đẩy công cuộc đi tới một kết cục bằng
thương lượng”(210). Ngày 7-4-1965, Tổng thống Johnson tuyên bố tại Baltimore:
“Mỹ sẵn sàng thương lượng không điều kiện”. Cuối tháng 12-1965, người Mỹ cử
Harriman, một nhà ngoại giao, tới Ba Lan để nhờ Ba Lan làm trung gian thương
lượng với Hà Nội.

Ngày 2-1-1966, J. Mikhalowski, thứ trưởng kiêm Tổng thư ký Bộ ngoại giao Ba Lan,
tới Hà Nội và thông báo với Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Hồ Chí Minh: Mỹ
rất linh hoạt. Ho sẵn sàng tìm mọi cách để thương lượng. Mikhalowski nài nỉ:
“Cần phải có một sáng kiến. Phải tiến lại với những ý kiến chứng tỏ chúng ta
muốn hoà bình, và qua đó các đồng chí sẽ tranh thue được dư luận thế giới về
mình”(211). Nhưng cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều cự
tuyệt(212).

Ngày 14-6-1966, một nhà ngoại giao người Canada được gửi tới Hà Nội, nhưng
chuyến đi của ông cũng thất bại. Tiếp đó, ông Jean Sainteny, người từng ký với
Hồ Chí Minh bản Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946, đã được Tổng thống Pháp cử tới
Việt Nam.

Ngày 1-7-1966, tại Hà Nội, Sainteny cho biết: “Mỹ đang tìm một giải pháp để khỏi
mất thể diện và chính Việt Nam mới ở thế thắng. Mỹ đã bị đánh bại. Đối với một
nước nhỏ mà làm cho Mỹ không thực hiện ý đồ là đã ở trong thế thắng rồi”(213).
Rồi Sainteny thuyết phục Phạm Văn Đồng: “Cần nghĩ đến chiến tranh nhưng cũng cần
nghĩ đến hoà bình. Một ngày nào đó sẽ phải thương lượng”(214).

Đúng lúc ấy, Hồ Chí Minh được mô tả là đã bước vào phòng, cắt ngang cuộc gặp
giữa Sainteny và Phạm Văn Đồng: “Nêu ông có gặp người Mỹ, ông hãy nói cho ho
răng chúng tôi không sợ Mỹ, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, dù có phải hy sinh
tất cả”(214). Hôm sau, ngày 5-7-1966, trong cuộc tiếp chính thức, Hồ Chí Minh
nói với Sainteny: “Chúng tôi hiểu đế quốc Mỹ. Chúng tôi biết sức mạnh của họ. Họ
có thể san bằng Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh và các thành phố khác.
Điều đó không hề làm yếu quyết tâm chiến đấu đến cùng của chúng tôi”(214).

Từ năm 1967, người Mỹ bắt đầu thiết lập một kênh liên lạc với Việt Nam qua người
Pháp. Giữa tháng 7-1967, Henry Kissinger trở thành người trung gian khởi động
tiến trình thương lượng. Cho đến lúc ấy, người Mỹ không hề biết rằng, ông Lê
Duẩn đang có trong tay một kế hoạch đầy tham vọng mà về sau được các nhà báo Mỹ
gọi là “Tet Offensive” và các văn kiện chính thức của Hà Nội gọi là “Cuộc Tổng
tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968”.

Trong “chiến tranh giải phóng miền Nam”, cho dù tướng Giáp vẫn là bộ trưởng Bộ
Quốc phòng, tổng tư lệnh, bí thư Tổng Quân uỷ, nhưng theo ông Lê Trọng Nghĩa:
“Thay vì ông Giáp là người quyết định, ông Lê Đức Thọ có sáng kiến lập ra Tổ năm
người giúp Trung ương chỉ đạo tác chiến miền Nam gồm: Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp,
Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng và Lê Đức Thọ. Trong tổ này, ông Giáp chỉ còn một
phiếu”.

Chiến dịch Mậu Thân được lên kế hoạch sau “những cuộc họp liên miên” mà các bên
tham gia đã phải “tranh cãi gay gắt”. Đại tá Lê Trọng Nghĩa, người dự hầu hết
những cuộc họp này, nói: “Trong Quân uỷ xuất hiện hai xu hướng khác nhau: Một xu
hướng cho rằng phải đánh bằng quân sự thì mới giải quyết được cách mạng miền
Nam, xu hướng này do Nguyễn Chí Thanh phát ngôn và phía sau là Lê Duẩn và Lê Đức
Thọ. Một xu hướng đồng ý đánh, nhưng vừa đánh vừa cân nhắc tình hình chính trị,
nếu khi nào khả năng chính trị xuất hiện thì nắm lấy cơ hội đàm phán hoà bình,
người đứng đầu xu hướng này là Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Vịnh. Tuy nhiên, tới
tháng 6-1967 thì đôi bên đi đến thống nhất: đánh; một ý đồ chiến lược được hình
thành gọi là Kế hoạch 67-68”.

Chiều 5-7-1967, Bộ Chính trị làm cơm tiễn đưa Nguyễn Chí Thanh trở lại miền Nam,
cùng dự có Hồ Chí Minh. Sau bữa cơm, tướng Thanh có ngồi lại khá lâu với tướng
Giáp. Người thân của ông kể lại rằng: Sau một đêm trằn trọc bên người vợ tại nhà
riêng ở số 34 Lý Nam Đế, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh bị choáng mệt. Lúc gần sáng,
ông được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Quân y 108, nhưng khi vừa được đặt nằm
xuống giường bệnh thì từ ông “phát ra tiếng kêu ‘ặc’ rồi mặt và toàn thân tím
ngắt”. Khoảng chín giờ sáng ngày 6-7-1967, Nguyễn Chí Thanh mất với kết luận của
bệnh viện là do “nhồi máu cơ tim”.

Vị tướng đại diện cho xu hướng “giành chiến thắng hoàn toàn bằng quân sự” vừa ra
đi thì có hai sứ giả mang thông điệp hoà hoãn từ Washington tới: ông Raymond
Aubrac và Herbert Marcovich. Aubrac là người quen cũ của Hồ Chí Minh trong thời
kỳ ông tới Paris dự Hội nghị Fontainebleau(217). Sự ra đi đột ngột của tướng
Thanh cũng làm cho ông Giáp bị sốc, ngay sau tang lễ Nguyễn Chí Thanh, tướng
Giáp được đưa đi Hungary dưỡng bệnh. Hồ Chí Minh tiếp các sứ giả Washington khi
bên mình không còn hai đại tướng. Ông bắt đầu nói về đàm phán.

Ngày 24-7-1967, “Aubrac cảm thấy có dấu hiệu mới mẻ”(218) khi gặp Hồ Chí Minh.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng gần như đã bàn chi tiết phương thức tiến hành đàm
phán(219) với điều kiện Mỹ ngưng ném bom miền Bắc.

Ngày 25-8-1967, Aubrac và Marcovich chuyển tới tổng đại diện Việt Nam tại Paris
thông điệp thương lượng đầu tiên của Chính phủ Mỹ gửi Chính phủ Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà: “Hoa Kỳ sẵn sàng chấm dứt ném bom bắn phá bằng không quân và hải quân
ở miền Bắc Việt Nam với sự hiểu biết răng việc đó sẽ nhanh chóng đưa tới những
cuộc thảo luận có hiệu quả giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để tiến tới
giải quyết những vấn đề đang làm hai nước chống đối nhau”(220).

Không ai biết rõ thông điệp trên đây của Washington có được miền Bắc chuyển đến
lãnh tụ tối cao hay không. Khi miền Bắc trả lời thì Hồ Chí Minh đã không còn ở
Hà Nội nữa. Theo Đại tá Lê Trọng Nghĩa: “Ngày 5-9-1967, Hồ Chí Minh được đưa đi
nghỉ ở Bắc Kinh. Chúng tôi nhận được thông báo từ Ban Tổ chức Trung ương của Lê
Đức Thọ: Bác mệt, phải đi nghỉ đông, từ nay, những ai trước trực tiếp làm việc
với Bác thì làm việc với đồng chí Lê Duẩn”.

Ngày 11-9-1967, Mai Văn Bộ trao cho Aubrac và Marcovich trả lời của Hà Nội:
“Thông điệp của Mỹ đã được trao sau một cuộc leo thang đánh phá Hà Nội và với sự
đe doạ liên tục đánh phá Hà Nội. Rõ ràng đó là một tối hậu thư đối với nhân dân
Việt Nam. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiên quyết bác bỏ nhưng đề
nghị trên đây của Mỹ”(221). Một kế hoạch mang tên San Antonio, theo đó, Mỹ sẽ
“chấm dứt hoạt động quân sự chống miền Bắc Việt Nam - để đổi lấy các cuộc đối
thoại, miễn là Hà Nội không lợi dụng việc ngừng ném bom”(222), vẫn được người Mỹ
đưa ra. Ngày 29-9-1967, Johnson đồng ý “Kế hoạch San Antonio”, nhưng theo
Kissinger, Hà Nội đã bác bỏ nó.

Theo ông Trần Việt Phương, thư ký Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Lê Đức Thọ và Lê
Duẩn không thể đưa hai con người đang nắm quyền và có nhiều uy tín đó đi đâu nếu
hai người không đồng ý. Việc Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đi ra nước ngoài được
giải thích là để nghi binh. Để thế giới tin rằng, miền Bắc không thể triển khai
một kế hoạch to nếu hai nhân vật quan trọng vào bậc nhất đó không có mặt ở Hà
Nội”.

Những diễn biến sau đó cho thấy câu chuyện không đơn giản là một cuộc nghi binh.
Đại tá Lê Trọng Nghĩa nói: “Hai mươi ngày sau khi Nguyễn Chí Thanh mất, ngày
27-7-1967, Hoàng Minh Chính bị bắt. Hơn một tháng sau khi Hồ Chí Minh được đưa
tới Bắc Kinh, ngày 18-10-1967, người thư ký thân cận nhất của ông là Vũ Đình
Huỳnh cũng bị bắt”. Một vụ án được nói là “Chống Đảng” do Trưởng Ban Tổ chức
Trung ương Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn, trực tiếp chỉ đạo,
bắt đầu khởi động.

Cái chết của tướng Nguyễn Chí Thanh không làm thay đổi quyết tâm dứt điểm chiến
trường miền Nam của ông Lê Duẩn. Theo tướng Giáp: “Anh Thanh mất khi chỉ mới có
ý đồ chiến lược đánh vào thành phố chứ chưa hề có kế hoạch tổng công kích-tổng
khởi nghĩa vào dịp Tết Mậu Thân”. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian Võ Nguyên
Giáp ở Hungary và Hồ Chí Minh ở Bắc Kinh, một kế hoạch được đặt tên là “Chiến
dịch Quang Trung” được gấp rút xây dựng.

Hồ Chí Minh được đưa về Hà Nội khi cuộc Tổng tiến công đã gần kề. Theo ông Vũ
Kỳ, thư ký riêng của ông, ngày 21-12-1967, Văn phòng Trung ương điện “mời Bác về
dự họp Bộ Chính trị”. Ngày 23-12-1967, chuyên cơ chở Hồ Chí Minh về tới Gia Lâm.
Ông Vũ Kỳ viết: “Máy bay lượn hai vòng vẫn chưa hạ cánh được vì đèn chỉ huy trên
sân bay chệch mười lăm độ. Đồng chí lái giàu kinh nghiệm quyết tâm hạ cánh không
theo đèn. Rất may là an toàn. Các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ ra
đón Bác tại sân bay, đưa Bác về nhà và báo cáo công việc với Bác”(223).

Ngay sau khi khách khứa rút lui, việc đầu tiên mà Hồ Chí Minh làm là gọi điện
tới Quân uỷ Trung ương để hỏi thăm sức khỏe tướng Giáp. Theo ông Vũ Kỳ, khi nghe
Quân uỷ nói Đại tướng đang ở nước ngoài, Hồ Chí Minh nhắc gửi quà và thiệp cho
vợ chồng “chú Văn”. Ông nói: “Nô-en và Tết dương lịch bên ấy cũng như Tết ta của
mình. Tâm lý của những người xa quê hương rất mong có một món quà của tổ
quốc”(224). Không chỉ hiểu tâm trạng của vị tướng đang bị đặt ra ngoài thời
cuộc, theo Đại tá Lê Trọng Nghĩa: “Hồ Chí Minh lo cho sự an toàn của tướng
Giáp”.

Từ Hungary, ngày 20-9-1967 tướng Giáp gửi thư cho Đại tá Nguyễn Văn Hiếu: “Cậu
Hiếu, bọn mình còn ở lại đây ít hôm nữa. Chắc Hoàng đã có thư. Rất mong thư nhà.
Nhớ liên lạc với anh Thạch, anh Tiến, khi nào có đoàn sang thì gửi mình”. Theo
Đại tá Hiếu, “anh Thạch” và “anh Tiến” trong bức thư này là Nguyễn Cơ Thạch và
Hoàng Văn Tiến, cựu thư ký của tướng Giáp, lúc đó đang công tác tại Bộ ngoại
giao. Bức thư tướng Giáp cho thấy ông đã bắt đầu “đói thông tin” và, thay vì
được báo cáo qua con đường chính thức, phải tìm hiểu tình hình trong nước qua
những người tin cẩn.

Ngày 11-11-1967, tướng Giáp gửi cho Đại tá Nguyễn Văn Hiếu lá thư thứ hai từ
Hungary: “Hiếu, đã nhận được thư của Hiếu gửi cho đoàn, sau đó nhận được thư dài
hơn viết từ trước. Sức khỏe tôi khá hồi phục nhưng chưa khỏi hẳn. Hoàng sẽ nói
rõ. Hiếu xem, lúc về sẽ bố trí ăn ở làm việc thế nào để có thể chuẩn bị trước.
Thăm các cậu ở báo Quân Đội Nhân Dân, Cục I, Cục II và các cục khác. Nghe nói
bài báo của ta có chỗ lộ bí mật (Hoàng Tùng nói), như thế là không đúng. Ta đã
cân nhắc rất kỹ”.

Theo Đại tá Hiếu, đọc lá thư viết trên postcard này, ông rất lo lắng. Tại sao
tổng tư lệnh đương chức lại băn khoăn “lúc về sẽ bố trí ăn ở làm việc thế nào?”
Đại tá Hiếu kể: “Khi anh Văn ở Hungary, ở nhà họp Quân uỷ tôi đã nhiều lần phải
chịu đựng những lời nói xấu anh Văn một cách công khai. Trước đó, Quân uỷ rất
đoàn kết nhưng, có thời gian Nguyễn Chí Thanh, Văn Tiến Dũng lôi kéo một số cán
bộ cô lập anh Văn. Trước khi vào Nam, có thời gian Nguyễn Chí Thanh hay bóng
gió: ‘Ở nhiều nước Tổng tham mưu trưởng mới là tướng, còn bộ trưởng quốc phòng
chỉ là anh dân sự’. Khi đó, Văn Tiến Dũng đã thay Hoàng Văn Thái làm Tổng tham
mưu trưởng. Tuy nhiên, khi Nguyễn Chí Thanh mất, anh Văn vẫn bị sốc vì cuộc
chiến cần tướng tài. Xét về năng lực, Nguyễn Chí Thanh sắc sảo hơn nhiều so với
Văn Tiến Dũng”.

Theo Đại tá Nguyễn Văn Huyên, thư ký tướng Giáp, ông không có điều kiện để xác
minh điều mà Trần Quỳnh nói, trước giờ dự định vào Nam, Nguyễn Chí Thanh nhắc Hồ
Chí Minh phải chú ý vấn đề nội bộ. Nhưng, ông Huyên xác nhận, ở thời điểm ấy
cũng có người nói tướng Giáp chống Đảng và muốn thay tướng Giáp. Theo ông Huyên:
“Có người đề nghị, Bác nói: thông thường ở cấp ấy con người có thể hành động như
vậy nhưng chú Giáp thì không, hơn nữa ta đang đánh Mỹ và đang thắng Mỹ không thể
thay bộ trưởng quốc phòng”.

Theo ông Vũ Kỳ, ngày 28-12-1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt ngay bên nhà
của Hồ Chí Minh, có bản đồ to kê trên bục trong phòng họp và có nhiều tướng lĩnh
đến báo cáo. Tại cuộc họp đó, theo ông Vũ Kỳ: “Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ… đưa
cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương
pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định. Chiều tối,
sau phiên họp Bộ Chính trị kéo dài và căng thẳng, Bác trở về nhà sàn, chân bước
chậm rãi, có lẽ có một điều gì đó khiến Bác chưa thật an tâm. Cuộc họp hôm nay
Bác chủ trì, ngồi ở ghế đầu bàn, đồng chí Lê Duẩn báo cáo toàn bộ vấn đề và quán
xuyến việc thảo luận”(225).

Ngày 1-1-1968, sau khi thăm một số nơi bị máy bay bắn phá ở Hà Nội, vào lúc 2 
giờ 30 chiều, sau khi tiếp “Bộ Chính trị đến làm việc”, Hồ Chí Minh tiếp tục
“sang Bắc Kinh dưỡng bệnh”(226). Ở Hà Nội, bàn tay của Lê Đức Thọ bắt đầu siết
mạnh hơn.

Tại Tổng Hành dinh, sáng 6-1-1968, Đại tá Lê Trọng Nghĩa đang họp với Văn Tiến
Dũng để làm kế hoạch bảo đảm cho chiến dịch thì ông Dũng nói: “Anh sang Tổng cục
Chính trị gặp Song Hào”. Ông Lê Trọng Nghĩa kể: “Tôi sang, người tiếp tôi không
phải là Song Hào mà là Phạm Ngọc Mậu, Cục trưởng Tổ chức kiêm phụ trách Bảo vệ
Nội bộ. Mậu bảo: ‘Anh để cặp, vũ khí, bản đồ lại đây rồi đi ngay, có nhiệm vụ
Trung ương giao’. Tôi lần lượt tháo ra khỏi người những thứ bất ly thân, và tôi
chỉ phải đi sang một phòng ở gần đó. Hôm đó, vợ tôi từ nơi tản cư ở Vĩnh Yên về
đang chờ tôi về ăn cơm để tối lại về nơi tản cư tiếp. Nhưng tôi không chỉ bị giữ
lại trong ngày, và cũng không chỉ có một mình. Từ các nhà bên: Lê Minh Nghĩa,
phó Văn phòng Quân uỷ, kiêm chánh Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu, Đỗ Đức Kiên, cục
trưởng Cục Tác chiến… cũng cùng bị bắt. Lo lắng cho một chiến dịch sắp bắt đầu,
một tuần sau, lấy tư cách là bí thư Đảng Quân uỷ Bộ Tổng Tham mưu, tôi viết thư
gửi cho Bí thư Tổng Quân uỷ Võ Nguyên Giáp đặt vấn đề vì sao có việc giữ người
này. Một thời gian sau, khi tôi đã bị di lý đi nơi khác, một cục phó Cục Bảo vệ
tới nơi tôi bị giữ, thông báo: Anh Giáp đang nghỉ, tất cả những chuyện của các
anh và những chuyện trong Quân uỷ bây giờ thuộc quyền giải quyết của anh Lê Đức
Thọ”.

Sau khi “điều Lê Trọng Nghĩa” về trại giam, Cục trưởng Cục Cán bộ Phạm Ngọc Mậu
cho mời Chánh Văn phòng Quân uỷ Nguyễn Văn Hiếu. Theo ông Hiếu: “Ông Mậu nói:
‘Học viện quân sự đang thiếu người, anh phải lên thay Hoàng Minh Thảo làm phó
giám đốc. Anh nên đi ngay’. Tôi hiểu là người ta cần tống mình đi. Đến Tam Đảo
biết thêm, người ta chỉ thị cho Học viện là tôi không được tham gia cấp uỷ”. Như
vậy, theo Cục trưởng Quân báo Lê Trọng Nghĩa: “Trước giờ nổ súng, phần lớn tác
giả của Kế hoạch Mậu Thân, kể cả tác giả chính là Cục trưởng Tác chiến Đỗ Đức
Kiên, đều bị loại ra khỏi vòng chiến đấu”.

Để đảm bảo hoàn toàn bí mật, chỉ trước khi nổ súng một tuần, Lê Duẩn mới triệu
tập các uỷ viên Trung ương về Kim Bôi họp Hội nghị Trung ương lần 14. Tại hội
nghị, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn thông báo với Trung ương rằng trong cuộc họp quan
trọng này “có nhiều đồng chí vắng mặt”. Bí thư Lê Duẩn nói: “Trước hết, tôi xin
báo cáo với các đồng chí, lần này hội nghị Trung ương chúng ta họp, có một số
đồng chí Trung ương bị ốm không đến được, có một số đồng chí bận việc không đến
được. Trong Bộ Chính trị cũng có đồng chí bận việc không đến được, một số đồng
chí sẽ đến, mai có đồng chí Thọ (Lê Đức Thọ), đồng chí Dũng (Văn Tiến Dũng) sẽ
đến báo cáo”(227).

Sau Hội nghị Trung ương 14, chiều 20-1-1968, Lê Đức Thọ có đến Bắc Kinh để “báo
cáo Bác Hồ”. Tướng Giáp nhớ lại: “Sắp nổ súng thì Bác cũng đang ở Bắc Kinh. Bác
điện cho tôi: chú thu xếp về càng sớm, càng tốt”. Từ Hungary, tướng Giáp bay tới
Bắc Kinh. Theo ông Vũ Kỳ, sáng 25-1-1968, Hồ Chí Minh gặp riêng Võ Nguyên Giáp.
Trong khi, cả “Cha già Dân tộc” và “Anh cả của Quân đội” vẫn đang “an trí” ở Bắc
Kinh thì những binh đoàn chủ lực miền Bắc bí mật áp sát các đô thị miền Nam.
“Ngày 29 tháng Chạp ta”, vào lúc sáu giờ chiều, Hồ Chí Minh “nhận được điện của
Bộ Chính trị và Trung ương chúc mừng Bác Hồ năm mới”(228).

Cái đêm mà cả miền Nam chìm trong khói lửa của Tổng tiến công ấy, Hồ Chí Minh
đang ở Bắc Kinh, “trong căn phòng vắng” chỉ có ông và thư ký Vũ Kỳ, “Bác” mỉm
cười nghe một em bé hát “Bé bé bồng bông… em đi sơ tán, mai về phố đông” và lời
chúc Tết của chính mình:

“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta!”(229).

Máy bay Trung Quốc đưa tướng Giáp về tới Hà Nội ngay trong ngày 29 Tết. Hôm sau
ông mới được tướng Vũ Lăng, cục trưởng Cục Tác chiến báo cáo “Kế hoạch Tổng công
kích, Tổng khởi nghĩa”. Vũ Lăng nói: “Anh Văn Tiến Dũng bảo bây giờ thì có thể
báo cáo toàn bộ với anh Văn”. Tướng Giáp cố giữ vẻ mặt bình thản để giấu niềm
cay đắng. Ông, vị tổng tư lệnh, đã không được biết một kế hoạch lớn như vậy cho
đến trước khi nổ súng một ngày.

Bốn ngày sau khi Chiến dịch Mậu Thân bắt đầu, một trong những nhân vật quan
trọng nhất của chiến dịch, tướng Nguyễn Văn Vịnh, bị vô hiệu hoá. Trung tướng
Nguyễn Văn Vịnh, uỷ viên Thường trực Tổng Quân uỷ, được cử vào Trung ương Cục
trao đổi Kế hoạch Mậu Thân chỉ mười ngày sau khi tướng Nguyễn Chí Thanh mất.
Tướng Vịnh trở lại Hà Nội vào đầu tháng 1-1968, và chính ông là người báo cáo
tình hình chiến trường miền Nam với Quân uỷ, là người trực tiếp soạn thảo Nghị
quyết Trung ương 14.

Theo thư ký riêng của ông, ông Phạm Văn Hùng: Chiều mồng 5 Tết Mậu Thân, ông
Vịnh được Lê Đức Thọ mời tới nhà riêng gặp vào lúc 15 giờ. Cuộc gặp kéo dài tới
chập tối nên ông Hùng không thể chờ. Sáng hôm sau khi ông Phạm Văn Hùng quay lại
nhà riêng và là nơi làm việc của ông Vịnh, 34 Cao Bá Quát, thì được ông Vịnh cho
biết, ông bị ngưng tất cả các chức vụ: uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, uỷ
viên thường trực Quân uỷ, thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Khoảng ba mươi nhân vật cao cấp đã bị bắt, phần lớn là những người thân cận với
tướng Giáp như: Thiếu tướng Đặng Kim Giang(230), Cục trưởng Cục II Đại tá Lê
Trọng Nghĩa, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng Đại tá Lê Minh Nghĩa, Cục trưởng Cục
Tác chiến Đại tá Đỗ Đức Kiên, Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân Hoàng Thế
Dũng, Phó Giám đốc Nhà Xuất bản Sự thật, nguyên tỉnh uỷ viên Tỉnh uỷ Quảng Bình,
Nguyễn Kiến Giang, Giám đốc Nhà Xuất bản Sự thật Minh Tranh,… Trừ một số người
bị bức cung để phải khai ra “vai trò cầm đầu của tướng Giáp” lờ mờ nhận thấy mục
tiêu chính trị của “vụ án”, phần đông cho đến tận cuối đời không hiểu vì sao lại
có vụ án này(231).

Theo Trần Quỳnh, trợ lý Lê Duẩn thì, thành phần bị bắt thời gian này gồm: “Những
người không tán thành đường lối chống xét lại của Đảng ta, một số cán bộ cao cấp
và trung cấp theo học ở trường Đảng cao cấp Liên Xô và trường quân sự cao cấp
Liên Xô bàn kế hoạch chống lại đường lối của Đảng. Họ lập một nhóm vận động
thành lập một tổ chức lấy việc thay đổi Bộ Chính trị làm mục tiêu. Họ nhắm vào
những người không đồng tình với Nghị quyết 9, trước hết là những sĩ quan cao cấp
trong quân đội và những uỷ viên trong Trung ương”. Các văn bản do Lê Đức Thọ ký
cũng nói tới Nghị quyết 9 và quan điểm xét lại(232). Nhưng, trên thực tế, Nghị
quyết 9 đã được quán triệt từ năm 1964. Người chủ trương xét lại ở Liên Xô,
Khrushchev, khi đó cũng đã bị phế truất và bị thay bởi Brezhnev. Mặc dù mở đầu
vụ án bằng việc bắt Hoàng Minh Chính, hầu hết những nhân vật quan trọng bị bắt
đều là thư ký của Hồ Chí Minh hoặc là những trợ thủ đắc lực của tướng Giáp.

Theo thư ký của tướng Vịnh, ông Phạm Văn Hùng(233): “Ông Vịnh và ông Giang đều
đã cùng ở trong Quân uỷ, biết nhau rất rõ. Ông Vịnh ở nhà 34 Cao Bá Quát, ông
Giang ở nhà đối diện. Từ khi ông Giang ra khỏi quân đội, thỉnh thoảng vẫn qua
lại nhà ông Vịnh trò chuyện. Nhiều cán bộ cao cấp khác thỉnh thoảng vẫn sang nhà
ông Vịnh trò chuyện. Ông Vịnh là người cởi mở nhưng bí mật quân sự thì không bao
giờ ông ấy tiết lộ”.

Tướng Giáp trở lại Tổng Hành dinh khi không còn những cộng sự ăn ý nhất. “Cuộc
Tổng tấn công Mậu Thân” diễn ra ngay trong đêm 30 Tết, thời điểm hai miền có
thoả thuận ngừng bắn để người dân đón Xuân. Tuy có gặp trục trặc về giờ nổ súng
do có sự nhầm lẫn trong việc sử dụng giờ Hà Nội với giờ Sài Gòn; nhưng, gần như
ngay sau Giao thừa, 31-1-1968, lẫn trong tiếng pháo mừng xuân của thường dân,
Quân Giải phóng đồng loạt nổ súng vào 5/6 thành phố, 36/44 thị xã, 36/242 huyện
lỵ, 25 sân bay,… Đặc biệt, cuộc tấn công đã gây rúng động với những gì mà “Việt
Cộng” đã làm ở Sài Gòn và Huế.

Tướng Giáp cho rằng: “Tổng tiến công vào một thời điểm bất ngờ là một chủ trương
sáng tạo, nhưng đề ra tổng khởi nghĩa là không phù hợp”(234). Tướng Giáp không
coi Mậu Thân là chiến thắng vì theo ông: “Lúc đầu mục tiêu đề ra rất cao, tổng
công kích, tổng khởi nghĩa, giành trọn vẹn chính quyền về tay nhân dân. Giấy bạc
đã được in và đã được chuyển vào Nam(235). Đồng phục cho công an vào tiếp quản
thành phố cũng đã được chuẩn bị. Đồng chí Đàm Quang Trung ở Quân khu IV đã chuẩn
bị một đoàn xe chở quân và quân trang vào tiếp quản thành phố. Sau này giải
thích tổng công kích, tổng khởi nghĩa xảy ra là một quá trình là không đúng với
thực tế”(236).

Trong Chiến dịch Mậu Thân, người Mỹ bắt được một tài liệu của tỉnh Bình Định gửi
cán bộ, nói rằng: “Tổng tấn công 1.000 năm mới có một lần, sẽ quyết định số phận
của đất nước, sẽ chấm dứt chiến tranh”. Chính ông Lê Duẩn, trước chiến dịch cũng
tiên đoán: “Cuộc khởi nghĩa ta nói đây là một giai đoạn cuối cùng”. Ông Duẩn
tin, khi quân chủ lực tiến vào thì Sài Gòn sẽ nổi dậy(237). Ngay sau khi chiến
dịch bắt đầu, Lê Đức Thọ đã đi thẳng vào miền Nam nắm vai trò phó bí thư Trung
ương Cục. Ông ở lại cho tới tháng 5-1968, khi tình hình chiến trường không còn
dấu hiệu chiến thắng nào.

Đợt “tổng tiến công” lần thứ nhất trong Chiến dịch Mậu Thân đã tạo ra được yếu
tố bất ngờ; tuy nhiên, Sài Gòn đã không “bị sập một cái” và không có “nửa triệu
người cầm súng cho ta” như dự đoán của Bí thư Lê Duẩn(238). Ngay trong đợt đầu,
theo Đại tá Tư Chu, chỉ huy Biệt động Sài Gòn, đã “có những hy sinh, tổn thất lẽ
ra có thể tránh được”(239). Nhưng, không chỉ tấn công đợt đầu, theo tướng Giáp:
“Khi yếu tố bất ngờ đã không còn vẫn kéo dài tiến công vào đô thị; chậm chuyển
hướng về củng cố, mở rộng, giữ vững vùng giải phóng và làm chủ ở nông thôn do đó
đã gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất rất nặng nề”(240). Từ chỗ đang giữ thế
thượng phong trên chiến trường miền Nam, Quân Giải phóng đã phải trải qua những
ngày chống đỡ trong tuyệt vọng(241).

Nhưng, không phải những căn cứ “Việt Cộng” bị biến thành đất trắng được đặc tả
trên truyền thông Mỹ mà là: cảnh Việt Cộng bắn nhau trong sân Toà Đại sứ; cảnh
những xác lính Mỹ bị giết trên đường phố Sài Gòn; cảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan
bắn vào đầu một tù binh trong khi hai tay anh ta bị trói.

Tuần lễ đầu tiên của tháng 2-1968, số thương vong của lính Mỹ trong vòng một
tuần đạt kỷ lục: 543 chết; 2.547 bị thương. Ngày 27-2-1968, người dẫn chương
trình truyền hình có ảnh hưởng lớn khi đó, Walter Cronkite, “đã truyền những làn
sóng gây sốc cho toàn Nhà Trắng bằng cách dự báo sự thất bại”(242). Wall Street,
một tờ báo được coi là đang ủng hộ Washington cũng lo sợ Mậu Thân sẽ “làm hỏng
các mục tiêu đáng ca ngợi ban đầu”(243). Đài truyền hình NBC ngày 10-3-1968 bình
luận: “Đến lúc chúng ta phải xác định liệu việc phá huỷ Việt Nam để cứu Việt Nam
có phải là điều vô nghĩa”(244).

Ngày 31-3-1968, Tổng thống Johnson quyết định “ngừng ném bom đơn phương một phần
trong khu vực bắc vĩ tuyến 20” và sẽ “ngừng ném bom hoàn toàn ngay khi các cuộc
thương lượng quan trọng bắt đầu”. Johnson tuyên bố “sẽ không có thêm lực lượng
quân sự tăng cường lớn nào được phái sang Việt Nam”. Cũng trong ngày hôm ấy
Johnson nói rằng ông sẽ không ra tái ứng cử. Phản ứng của Washington là cơ sở để
Hà Nội coi Chiến dịch Mậu Thân là: “Một chiến thắng đã làm lung lay tận gốc ý
chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải bắt đầu xuống thang”. “Nghị quyết
21”

Phải mất năm năm. Phải sau khi hàng vạn sinh linh của cả hai miền đã bị bom đạn
nghiền nát suốt gần ba tháng ở Quảng Trị trong mùa hè năm 1972. Phải sau khi “Hà
Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác” bị tàn phá, hàng nghìn người bị chết
bởi B52 trong mùa Giáng sinh 1972. Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris mới được ký
kết.

Điều quan trọng nhất mà ông Lê Duẩn chờ đợi trong hiệp định này là quân Mỹ rút
mà quân miền Bắc không rút thì, ở trên bàn đàm phán, Kissinger đã chấp nhận từ
năm 1971. Trên thực tế, ngay trong những tháng đầu nhậm chức, Nixon đã đơn
phương rút quân: từ 545.000 quân năm 1968, xuống còn 27.000 quân, năm 1972. Hiệp
định Paris 1973 chỉ giúp cho sự ra đi của Mỹ có một tên gọi khác(245).

Sau Hiệp định Paris, theo tướng Giáp, ở Hà Nội: “Có nhiều ý kiến muốn giữ vững
hoà bình, thực hiện hoà hợp, tạo thế ổn định 5-10 năm… Cũng có một kế hoạch sử
dụng 3,5 tỷ đôla mà phía Mỹ hứa bồi thường chiến tranh để làm vốn tích luỹ ban
đầu. Ngay ở Tổng Hành dinh cũng có ý kiến không muốn đánh trả e vi phạm hiệp
định”(246).

Sáng 27-3-1973, tại phiên họp mở rộng của Bộ Chính trị, sau khi nghe báo cáo
tình hình, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh đề nghị “cần tranh thủ tạo thế
mạnh cho ta và có đối sách cụ thể với Mỹ”(247). Bí thư thứ nhất Lê Duẩn kết
luận: “Ta cần tranh thủ xây dựng lực lượng mọi mặt ở miền Nam, miền Bắc, quy
trách nhiệm của Mỹ, buộc đối phương phải thi hành hiệp định”(248).

Ngày 28-3-1973, khi chủ trì họp Quân uỷ Trung ương để triển khai Nghị quyết ngày
27-3-1973 của Bộ Chính trị, tướng Giáp vẫn xác định phương châm tác chiến ở miền
Nam là “kết hợp đánh chính quy và du kích, tác chiến với binh vận, chiến đấu với
xây dựng lực lượng, tiêu diệt địch gắn với giành dân”(249). Ngày 29-3-1973, Bộ
Chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn làm lễ cuốn cờ. Tướng Giáp xác định trong Hội nghị
Quân uỷ: “Đối tượng tác chiến lúc này là quân nguỵ”(250). Ngày 28-3-1973, Bí thư
Quân uỷ Võ Nguyên Giáp gửi điện cho các chiến trường, giải thích: “Tiến công
quân sự bằng phản công của ta là chủ động tiến công, không phòng ngự đơn
thuần”(251).

Nhưng, sau Hội nghị Bộ Chính trị ngày 27-3-1973, Tố Hữu cùng các đặc phái viên
Nguyễn Thọ Chân, Đinh Đức Thiện, được cử vào Trung ương Cục phổ biến chủ trương
của Bộ Chính trị theo hướng “đấu tranh chính trị là chủ yếu”, các chiến trường
phải tranh thủ thời cơ để “gò cương vỗ béo” nhằm thực hiện “hoà hợp dân tộc và
thi đua hoà bình”. Cùng thời gian này, tại các cơ quan của Miền, theo ông Lữ
Phương, ông Trần Bạch Đằng triển khai tinh thần một bức “Thư Vào Nam” của Bí thư
Lê Duẩn, theo đó, “hoà hợp, hoà giải dân tộc” là nhiệm vụ ưu tiên của thời kỳ
sau hiệp định. Cuối năm 1972, ông Lê Duẩn đã bố trí cán bộ nghiên cứu việc hình
thành và tham gia “chính phủ liên hiệp ba thành phần”. Ông Phan Văn Khải, khi đó
là vụ phó ở Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước là một trong những cán bộ được chọn. Đoàn
của ông Khải đã vào Trung ương Cục chỉ vài tuần sau đoàn của ông Tố Hữu.

Sau khi nghe Bí thư Tố Hữu vào truyền đạt tinh thần thi hành Hiệp định Paris của
Bộ Chính trị, Hội nghị Binh vận Miền tháng 4-1973 triển khai “năm cấm chỉ”: cấm
tấn công địch, cấm đánh địch đi càn quét, cấm bắn pháo vào đồn địch, cấm bao vây
đồn bót, cấm xây dựng ấp xã chiến đấu. Ở Khu IX, ông Võ Văn Kiệt và Thường vụ
Khu uỷ ra lệnh Binh vận Khu không phổ biến chủ trương này của Binh vận Miền.

Ông Võ Văn Kiệt kể, nhận được điện của Trung ương Cục, ông liền trao đổi ngay
với Đại tá Lê Đức Anh và Thường vụ Khu uỷ, triệu tập các tỉnh đội và đơn vị.
Theo ông Kiệt, bản thân các đơn vị khi nghe nội dung chủ trương này đã cảm thấy
rằng, “chắc chắn Khu uỷ sẽ có chỉ đạo khác”. Trước đó, ngày 2-2-1973, ở Khu IX,
ông Võ Văn Kiệt triệu tập Hội nghị Thường vụ Khu uỷ, “quán triệt” cấp dưới rằng
không được “mơ hồ ảo tưởng” về hoà bình.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng hoàn toàn không “mơ hồ” khi ngầm triển khai một
chiến dịch gọi là “tràn ngập lãnh thổ” nhằm chiếm 85% đất đai và kiểm soát 95%
dân chúng miền Nam bốn mươi lăm giờ trước khi Hiệp định Paris có hiệu lực. Ngày
3-3-1973, ba mươi tiểu đoàn của Việt Nam Cộng hoà đã ồ ạt đánh vào Chương Thiện,
dự kiến trong bảy ngày sẽ chiếm xong các mục tiêu, bịt cửa ngõ U Minh. Nhưng,
các mũi tiến công đều bị chặn đứng, Khu IX tổ chức tấn công trên toàn địa bàn
Quân khu.

Trước các nhà lãnh đạo Khu uỷ và Quân khu, ông Kiệt khi ấy vừa trở thành uỷ viên
chính thức Trung ương Đảng, tuyên bố: “Mệnh lệnh tối cao lúc này là phải giữ
đất, giữ dân”. Ông Kiệt nhớ lại: “Chưa có cuộc họp nào mà tất cả các nơi về
nhanh thế. Hội nghị chỉ kéo dài một buổi rồi tất cả lại phấn khởi đòi về ngay để
giữ đất”. Nhưng, nhiều nơi cho rằng “Khu uỷ Tây Nam Bộ xé Hiệp định Paris”.
Trung ương Cục điện yêu cầu “Khu IX phải thấy tình hình mới”.

Bộ Tư lệnh Miền phê bình và thông báo toàn Miền, đồng thời ra lệnh cho Đại tá
Anh rút hai trung đoàn chủ lực về phía sau rèn luyện nếu không sẽ “đưa Đại tá Lê
Đức Anh ra Toà án binh”. Đại tá Anh sau khi trao đổi với ông Kiệt trả lời Bộ Tư
lệnh: “Cho phép Quân khu IX thi hành chủ trương của Thường vụ Khu uỷ”. Ông Võ
Văn Kiệt điện cho Trung ương Cục và Bộ Chính trị: “Nếu không chống địch lấn
chiếm, để mất đất, mất dân lúc này là mất tất cả”.

Sau khi nhận được điện của ông Kiệt, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn cho triệu tập đại
diện các khu, đại diện Trung ương Cục, đại diện Bộ Tư lệnh Miền ra Hà Nội. Ngày
19-4-1973, các đại diện miền Nam, Phó Bí thư Trung ương Cục Nguyễn Văn Linh, Tư
lệnh miền Nam Hoàng Văn Thái, Bí thư Khu IX Võ Văn Kiệt đã có mặt ở Hà Nội, báo
cáo với Bộ Chính trị tại nhà khách Hồ Tây.

Ông Lê Duẩn có một phương pháp làm việc được Võ Văn Kiệt gọi là “bỏ túi nghị
quyết”. Nghĩa là, khi xuống cơ sở để triển khai nghị quyết thay vì bắt buộc cơ
sở phải chấp hành những gì cấp uỷ đã ban hành, phải lắng nghe xem, nghị quyết đề
ra như vậy đã phù hợp chưa, nếu không phù hợp thì phải điều chỉnh nghị quyết chứ
không phải điều chỉnh cuộc sống. Ông Kiệt gọi cách là đó là “đưa cuộc sống vào
nghị quyết”.

Khi những cán bộ chiến trường như ông Kiệt ra tới Hà Nội, ông Lê Duẩn yêu cầu
các uỷ viên Bộ Chính trị, các bộ, ngành phải dành đủ thời gian để nghe tình hình
từng chiến trường. Ông Duẩn cũng chỉ thị cho những cán bộ từ chiến trường ra:
“Bất cứ uỷ viên trung ương nào cần nghe là phải báo cáo”. Bản thân ông Lê Duẩn
cũng cần tìm kiếm sự nhất trí cao trong Trung ương. Theo ông Kiệt thì khi ông
mới ra Bắc, ông Tố Hữu vẫn còn gặp nhiều lần để “thuyết phục Khu IX thi hành
nghị quyết gò cương vỗ béo”.

Đó là lần đầu tiên ông Võ Văn Kiệt ra Hà Nội, lần đầu tiên làm việc nhiều với Bộ
Quốc phòng, trong đó có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tướng Lê Hai chỉ vào “lõm Tây
Nam Bộ” trên bản đồ rồi hỏi: “Giữ được không?”. Ông Kiệt nói: “Sẽ mất nếu rút
lui. T3(252) cũng tuỳ thuộc vào cái thế chung của chiến trường. Nếu cả chiến
trường tiếp tục tiến công, T3 sẽ giữ được. Nếu chiến trường rút, T3 mất”. Không
như các tướng Lê Hai, Văn Tiến Dũng, bộc lộ khá rõ chính kiến, tướng Giáp nghe
rất kỹ và hỏi rất cặn kẽ, nhưng gần như không bộc lộ quan điểm của ông và của Bộ
Chính trị về việc thi hành Hiệp định. Chỉ một lần, ông nói: “Hoàn toàn ẩn cũng
có lợi cho dân, nhưng, đánh lại như T3 là tích cực”.

Khi ấy ông Võ Văn Kiệt chưa biết, trong vị thế khó khăn của mình, tướng Giáp
phải rất giữ gìn, tuy nhiên không phải tự nhiên mà ông đánh giá “T3 tích cực”.
Từ giữa tháng 4-1973, tướng Giáp đã cho lập “Tổ Trung tâm” để xây dựng “đề cương
kế hoạch chiến lược” mang bí số “305 TG1”. Tổ do một vị tướng tâm phúc của ông
phụ trách: Phó Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn.

Mùa hè năm 1973, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn cho gọi tướng Lê Hữu Đức lên và trước
khi ra về, ông hỏi: “Bộ Tổng Tham mưu đang làm gì?”. Ông Đức: “Dạ đang dự thảo
kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam”. Lê Duẩn: “Thế tôi nghe được không?”.
Theo tướng Đức thì sau khi nghe, Lê Duẩn lệnh cho cả Tổ Trung tâm sang trình bày
kế hoạch cho ông nghe. Buổi chiều, Lê Trọng Tấn, Vũ Lăng cùng Lê Hữu Đức quay
lại trình bày chi tiết. Lê Duẩn nói: “Tôi đang suy nghĩ như vậy. Hôm nay nghe
xong, Tổ Trung tâm lại củng cố suy nghĩ đó của tôi. Tôi sẽ báo cáo Bộ Chính
trị”.

Việc báo ra Bộ Chính trị một “vấn đề tuyệt mật” đã làm cho các sỹ quan tác chiến
lo lắng, tướng Lê Trọng Tấn sau đó đã phải đi báo cáo xin ý kiến Văn Tiến Dũng
và tướng Giáp. Ông Hồ Ngọc Đại, con rể và là người sống cùng ông Lê Duẩn trong
dinh thự số 6 Hoàng Diệu kể: Một lần khi vừa chạy xe suốt nửa ngày từ Hà Nội
xuống Đồ Sơn thì ông Duẩn nhận được điện thoại của tướng Lê Trọng Tấn đề nghị
được báo cáo tình hình cho Tổng bí thư. Lê Duẩn định kêu tướng Tấn xuống Đồ Sơn
nhưng ông Tấn không chịu vì theo nguyên tắc, bí mật quân sự chỉ có thể được nói
trong Tổng Hành dinh. Thế là Lê Duẩn lại phải quay xe về Hà Nội dù khi ấy đường
rất xấu(253).

Cũng trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8-1973, khi Trung ương đang nghe các
chỉ huy chiến trường báo cáo và xác định hướng chiến lược sau Hiệp định Paris, ở
Khu IX, Quân lực Việt Nam Cộng hoà liên tiếp mở các trận càn vào Chương Thiện
với lực lượng lên tới bảy mươi lăm tiểu đoàn. Khu IX đã ngăn chặn thành công nỗ
lực này của Sài Gòn. Theo tướng Lê Đức Anh thì Trung đoàn 1, khi ấy do ông Phạm
Văn Trà chỉ huy, đã đóng vai trò tích cực. Tháng 5-1973, khi Bộ Chính trị quyết
định họp mở rộng ở Đồ Sơn, theo tướng Giáp: “Không còn ai nghĩ tới nghỉ ngơi,
hoà hoãn nữa”(254).

Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại: “Hội nghị Trung ương 21 không còn phê phán Khu IX và
quyết định sửa đổi chủ trương”. Hội nghị Trung ương 21, khai mạc tháng 6-1973 và
thông qua lần cuối vào ngày 4-10-1973, xác định: con đường cách mạng ở miền Nam
là con đường bạo lực”. Tướng Trần Văn Trà cho rằng: “Nếu như từ năm 1973, chúng
ta tin bằng cách này hay cách khác, Hiệp định Paris sẽ được thi hành giống như
chúng ta đã tin hai năm sẽ có tổng tuyển cử hồi Hiệp định Geneva… thì tình hình
đã không như bây giờ”(255). “Bây giờ” mà tướng Trà đề cập là “Chiến dịch Hồ Chí
Minh”, trận đánh cuối cùng của Quân Giải phóng.

Khoảng một tháng sau khi ông Lê Đức Anh từ Hà Nội quay lại Bộ Tư lệnh Miền, Hà
Nội công bố quyết định phong quân hàm vượt cấp lên trung tướng cho hai đại tá:
Lê Đức Anh và Đồng Sỹ Nguyên, tư lệnh Bộ đội Trường Sơn. Chiến dịch Hồ Chí Minh

Điều mà Bí thư thứ nhất Lê Duẩn lúc ấy băn khoăn là người Mỹ sẽ phản ứng thế nào
khi vẫn “bạo lực” sau Hiệp định. Có lẽ như lời một bài hát lúc đó: “Vận nước đã
tới rồi”. Ngay trong năm 1973, Nixon bị cuốn vào vụ bê bối Watergate khiến ông
phải từ chức. Ngày 1-9-1974, Gerald Ford lên thay Richard Nixon. Theo Kissinger,
người tiếp tục được Tổng thống Ford giữ lại làm ngoại trưởng: “Quyết định đầu
tiên của tổng thống là phản ứng như thế nào đối với khoản viện trợ không tương
xứng cho Việt Nam”(256).

Ngân sách dành cho Sài Gòn đã giảm từ 2,1 tỷ đôla năm 1973 xuống còn 1,4 tỷ đôla
năm 1974 và chỉ còn 700 triệu cho năm tài khoá 1975. Cho dù mức mà Nixon trước
đó đề nghị vẫn là 1,4 tỷ đôla. Theo “bản ghi nhớ” ngày 12-9-1974, Kissinger
chuyển cho Ford thì ngay cả khi Quốc hội Mỹ chuẩn thuận mức viện trợ quân sự 700 
triệu đôla, thì Quân lực Việt Nam Cộng hoà khó có khả năng kháng cự(257). Tính
tới tháng 9-1974, 26.000 binh sĩ Việt Nam Cộng hoà đã bị tử trận kể từ khi ký
Hiệp định Paris. Thế nhưng, Thượng viện Mỹ không những không tăng viện trợ theo
đề nghị của tổng thống mà còn cắt đi 300 triệu.

Đầu năm 1974, khi tình hình bắt đầu “nước sôi lửa bỏng”, trong một chuyến công
tác, tướng Giáp bị đau bụng dữ dội rồi ngất đột ngột. Ông kể, “khi tỉnh lại tôi
thấy mình đang nằm trong máy bay trực thăng cấp cứu”(258). Do Viện Quân y 108 
không chẩn đoán ra bệnh, Bộ Chính trị quyết định đưa tướng Giáp sang Liên Xô
bằng một chuyến chuyên cơ. Tại Moscow có lúc tim ông đã ngưng đập trong mấy giây
và trước khi chấp nhận một cuộc đại phẫu thuật bệnh sỏi mật, ông đã viết “mấy
điều dặn dò để lại”. Tháng 4-1974, sau khi tướng Giáp hồi phục, Liên Xô đã bố
trí một máy bay để đưa ông trở về Hà Nội. Khi ấy, Văn Tiến Dũng cũng bị ốm phải
đưa đi chữa bệnh ở nước ngoài.

Theo tướng Giáp: Mùa hè năm 1974, khi cùng đi nghỉ ở Đồ Sơn, Lê Duẩn đã bàn với
ông một loạt các vấn đề chiến lược và khi thấy sức khỏe của tướng Giáp đã ổn sau
khi mổ sỏi mật ở Liên Xô về, Lê Duẩn nói với tướng Giáp: “Công việc rất quan
trọng, khẩn trương. Anh nắm lấy mà làm”. Ở Đồ Sơn, tướng Giáp vừa an dưỡng, vừa
hoàn thành dự thảo lần thứ sáu “kế hoạch chiến lược giành thắng lợi ở miền Nam”.
Ông vừa đi bộ quanh bán đảo Đồ Sơn, khi ấy là một khu chỉ dành riêng cho Trung
ương, vừa trao đổi với những cán bộ đi cùng. Tuy nhiên, theo ông, kế hoạch chiến
lược được giữ tuyệt mật, ông chỉ đọc ra cho Đại tá Võ Quang Hồ, cục phó Cục Tác
chiến viết từng phần.

Khi Bộ Chính trị bàn “kế hoạch giải phóng miền Nam”, theo Trung tướng Lê Hữu
Đức: Hai hội nghị đầu suôn sẻ, nhưng từ hội nghị thứ 3 cho đến hội nghị thứ 6,
sau khi Lê Duẩn gợi ý thảo luận phương án tổng khởi nghĩa, tức là dùng chủ lực
đánh vào đầu não như hồi Mậu Thân rồi phát động nhân dân nổi dậy. Bộ Chính trị
chuyển sang sôi nổi bàn về phương án tổng khởi nghĩa. 7/11 uỷ viên Bộ Chính trị
ủng hộ ý kiến này của Lê Duẩn. Tướng Giáp chỉ còn có hai uỷ viên ủng hộ phương
án tổng công kích.

Theo tướng Lê Hữu Đức: “Kể từ khi Lê Duẩn ra Bắc, tướng Giáp thường rất đơn độc,
những tướng lĩnh trong Quân uỷ như Văn Tiến Dũng, Song Hào, Lê Quang Đạo, Trần
Quý Hai thường ngả theo ý kiến của ông Lê Duẩn. Lê Trọng Tấn là một vị tướng tài
và trung thành với tướng Giáp nhưng khi ấy ông chưa là uỷ viên Trung ương”. Tuy
nhiên, theo tướng Lê Hữu Đức, “rất may là Bộ Chính trị đã không buộc thiểu số
phục tùng đa số” và tướng Giáp thì đã kiên trì thuyết phục.

Từ Hội nghị lần thứ 7, Bộ Chính trị bắt đầu chấp nhận phương án “tổng công kích”
của tướng Giáp. Tướng Lê Hữu Đức, thời gian ấy là cục trưởng Cục Tác chiến,
thường xuyên phải làm việc với Lê Duẩn và trực tiếp ghi chép các ý kiến khác
nhau trong Bộ Chính trị, kể: “Anh Lê Duẩn cứ cằn nhằn tôi: sao Cục Tác chiến
không thích tổng khởi nghĩa. Khi phương án ‘tổng công kích’ được chọn rồi, ông
lại nói: đã tổng công kích sao không công kích thẳng vào Sài Gòn mà lại chọn
Buôn Mê Thuột?”.

Kế hoạch đánh Buôn Mê Thuột được tướng Giáp trao đổi với tướng Dũng chi tiết
trong một cuộc gặp có mặt tướng Hoàng Văn Thái ngay trước khi Văn Tiến Dũng vào
miền Nam. Theo tướng Giáp: từ giữa năm 1973, Tổ Trung tâm đã chọn hướng chiến
lược là Tây Nguyên và trong một buổi làm việc, tướng Hoàng Minh Thảo cho rằng,
khi đã chọn hướng Tây Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột(259). Tướng
Giáp, tướng Dũng đều nhất trí với lựa chọn này.

Theo tướng Lê Hữu Đức: “Tháng 1-1975, ngay sau khi Lê Duẩn tán thành mở đầu cuộc
tổng tiến công vào Buôn Mê Thuột tướng Giáp ra lệnh cho tướng Lê Trọng Tấn: kiên
quyết phải làm đường vào sát Buôn Mê Thuột, phải có xe tăng, pháo lớn mới đánh
đòn quyết định được. Khi ta làm chủ Buôn Mê Thuột, tướng Giáp nói với chúng tôi:
tình hình này không loại trừ địch rút khỏi Tây Nguyên. Hôm đó là ngày 11-3-1975,
ngày 26-3-1975, đúng như dự đoán của anh, Nguỵ rút”.

Sáng 11-3-1975, ngay sau khi có tin tướng Văn Tiến Dũng làm chủ hoàn toàn Buôn
Ma Thuột, bao vây Kon Tum, Pleiku, Bộ Chính trị và Thường trực Quân uỷ Trung
ương nhóm họp, nhất trí đánh giá: “Ta có khả năng giành thắng lợi to lớn với
nhịp độ nhanh hơn dự kiến và đồng ý kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu”.
Trong một không khí rất hào hứng, gần cuối buổi họp, Lê Duẩn nói: “Trước ta dự
định hai năm giải phóng miền Nam, nay tiếp theo Phước Long có Buôn Ma Thuột, ta
có thể đẩy mạnh hơn không? Đề nghị Bộ Chính trị và các anh bên Quân uỷ suy nghĩ
xem ta đã có thể chuyển sang tổng tiến công chiến lược trên toàn miền Nam
chưa?”. Theo tướng Lê Hữu Đức: “Anh Văn là người đầu tiên nhất trí với đề xuất
của anh Ba. Tiếp đó, các đồng chí trong Bộ Chính trị đều tán thành”(260).

Từ ngày 11-3-1975 cho đến khi quân đội Sài Gòn rút chạy khỏi Tây Nguyên, Đại
tướng Võ Nguyên Giáp hầu như làm việc tại Cục Tác chiến. Ông trực tiếp đọc hết
các điện chiến trường gửi về. Cục trưởng Tác chiến Lê Hữu Đức có trách nhiệm
hằng ngày vào lúc 19 giờ, tới nhà riêng ông Lê Duẩn báo cáo diễn tiến chiến
trường và các kế hoạch tác chiến. Với tư cách là tổng tư lệnh trong chiến dịch,
tướng Giáp nắm vấn đề bao quát và đặc biệt liên hệ chặt chẽ với các tư lệnh
chiến trường.

Theo tướng Lê Hữu Đức, sau khi quân đội Sài Gòn rút chạy khỏi Tây Nguyên, tướng
Giáp và Thường trực Quân uỷ nhất trí nên tác chiến phát triển về phía Đông, bố
trí cụ thể sẽ do tướng Văn Tiến Dũng quyết định. Tướng Lê Hữu Đức nói: “Anh Văn
chỉ thị tôi sang báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của anh Ba. Nghe xong, anh Ba tỏ ý
phân vân. Từ năm 1972, anh Ba vẫn muốn tập trung lực lượng chủ lực, để khi có
điều kiện, đánh uy hiếp Sài Gòn, giành thắng lợi quyết định. Ý anh là khi Tây
Nguyên giải phóng, việc tiêu diệt địch và giải phóng các tỉnh ven biển miền
Trung nên giao cho Quân khu V, lực lượng còn lại của Tây Nguyên nên tiến về Lộc
Ninh, đánh vào Sài Gòn càng sớm càng hay. Nhưng, khi ấy các mặt chuẩn bị chiến
trường, hiệp đồng tác chiến quy mô lớn chưa được chuẩn bị. May mà lúc ấy, anh
Dũng cũng điện ra đề nghị cho phát triển về hướng Đông, phù hợp với Quân uỷ
Trung ương. Chúng tôi báo cáo lần nữa và được anh Ba đồng ý”(261).

Nhận được tin, Tư lệnh chiến trường Văn Tiến Dũng gửi Tổng Tư lệnh Võ Nguyên
Giáp bức điện số 107: “Đêm qua tôi không ngủ được về ý định của tôi với chỉ thị
phải tập trung Sư 10 về. May quá hai mươi lăm phút sau thì nhận được điện của
anh. Tôi mừng quá về sự tâm đầu ý hợp của lãnh đạo và người ở chiến
trường”(262).

Tướng Giáp dự định đi ngay vào Vĩnh Linh. Trực thăng đã sẵn sàng. Nhưng ông
quyết định ở lại vì “tình hình chiến trường phát triển quá nhanh”, Tổng Tư lệnh
không thể rời Tổng Hành dinh. Sau ngày 18-3-1975, khi Bộ Chính trị họp tại Nhà
Con Rồng, nhất trí đề nghị của Quân uỷ, “giải phóng miền Nam trong năm 1975”,
tướng Giáp đi vào Ninh Bình, ông quyết định đưa vào Nam Quân đoàn I, Quân đoàn
cuối cùng ở miền Bắc. Khi ấy Quân đoàn I đang giúp dân đắp đê ở Ninh Bình theo
kế hoạch nghi binh, nhận lệnh báo động, nhanh chóng theo trục Quốc lộ l hành
quân vào Nam, chỉ để lại Sư đoàn 308 ở khu vực Hà Tây làm nhiệm vụ dự bị và bảo
vệ Hà Nội.

Trước đó, từ ngày 17-3, tướng Giáp liên tiếp gửi các “điện” đến Bộ Tư lệnh Trị
Thiên và Bộ Tư lệnh Quân đoàn II đôn đốc đưa lực lượng xuống đồng bằng, chia cắt
chiến lược giữa Huế và Đà Nẵng, cho phép sử dụng xe tăng và pháo lớn để tăng
thêm sức đột kích, nâng cao tốc độ tấn công. Tướng Giáp phê bình tướng Lê Trọng
Tấn khi ông định lập kế hoạch trong vòng năm ngày, trong khi theo tướng Giáp,
khả năng quân đội Sài Gòn rút chạy là cao và tướng Tấn chỉ có ba ngày để giải
quyết chiến trường Đà Nẵng.

Ngày 24-3, Bộ Chính trị và Quân uỷ họp, hạ quyết tâm: “Hành động nhanh chóng táo
bạo, bất ngờ đánh cho địch không kịp trở tay, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa
1975”. Bộ Chính trị cũng thông qua kế hoạch lập Mặt trận Quảng Đà, lấy mật danh
là “Mặt trận 475” do Trung tướng Lê Trọng Tấn làm tư lệnh, Thượng tướng Chu Huy
Mân làm chính uỷ, Trung tá Lê Phi Long được cử làm trưởng Phòng Tác chiến cánh
quân này.

Sáng 25-3, tướng Lê Trọng Tấn nhận những chỉ thị cuối cùng của tướng Giáp và
ngay chiều hôm đó, ông cùng bộ phận chủ yếu của cơ quan chiến dịch đi máy bay
vào sân bay Quảng Bình, sau đó được chuyển tiếp bằng trực thăng vào Quảng Trị.
Bộ Tư lệnh 475 đến vùng núi Tây Huế và chuyển theo đường 72 ra Động Truồi, định
để chỉ huy đánh Huế, Đà Nẵng, nhưng theo ông Lê Phi Long: “Giữa đường thì được
tin quân ta đã giải phóng Huế vào chiều 25-3”. Không còn phải đánh nhau ở Huế,
Quân đoàn I được lệnh quay lại Quảng Trị, chuyển trục hành quân từ Quốc lộ l
sang đường Trường Sơn. Ba vạn người cùng với l.053 xe pháo các loại, rầm rộ tham
gia cuộc hành quân thần tốc, ngày 16-4 thì vào đến Đồng Xoài.

Thấy tình hình “chắc ăn”, ngay sau Hội nghị Bộ Chính trị, Lê Đức Thọ “xung
phong” vào chiến trường, ông rời Hà Nội vào ngày 28-3-1975. Như vậy, tại Bộ Chỉ
huy Chiến dịch “giải phóng miền Nam” có tới ba uỷ viên Bộ Chính trị: Lê Đức Thọ,
Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng. Ngày 14-4-1975, Bộ Chỉ huy Chiến dịch điện ra Hà Nội
đề nghị đặt tên chiến dịch: Hồ Chí Minh. Một tuần trước đó, ngày 7-4, tướng Giáp
đã lệnh cho “Cánh quân Duyên Hải”(263) phải “thần tốc và táo bạo”(263) còn tướng
Lê Trọng Tấn thì khi ấy cũng đã chuẩn bị mọi mặt để thắng trong “trận cuối
cùng”.

Theo kế hoạch, ngày 27-4-1975 các hướng sẽ bắt đầu tiến đánh để ngày 29-4-1975,
cả “Năm cánh quân” đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Tuy nhiên, theo tướng Lê Hữu Đức,
tối 24-4(265), Tư lệnh Cánh quân Duyên Hải, tướng Lê Trọng Tấn đã điện ra xin
cho Quân đoàn II và Quân đoàn IV tiến công vào lúc 17 giờ ngày 26-4, vì nếu ngày
27 mới bắt đầu như các cánh quân khác thì sẽ không kịp “cùng lúc nổ súng”. Cánh
quân Duyên Hải lúc đó còn phải vượt qua hai con sông lớn: sông Đồng Nai và sông
Sài Gòn.

Đọc bức điện khi đêm đã khuya vì vừa phải lần lượt đến tận nhà riêng của các vị
Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng báo cáo, nhưng thấy tình hình khẩn cấp,
tướng Đức quyết định đánh thức tướng Giáp. Xem xong bức điện, tướng Giáp đồng ý
ngay với tướng Tấn. Tuy nhiên, rất thận trọng, ông đã cùng với cục trưởng Tác
chiến mang bản đồ đến nhà Bí thư thứ nhất Lê Duẩn.

Sau khi để tướng Đức đọc bức điện của tướng Tấn xong, Võ Nguyên Giáp nói: “Đề
nghị anh Ba cho đánh theo điện báo cáo của Tấn”. Theo ông Lê Hữu Đức: Anh Ba nói
ngay: “Đánh, đánh, cứ đánh ngay anh ạ! Bây giờ không chờ nhau nữa. Lúc này cánh
quân nào thuận lợi thì cứ phát triển”. Anh Văn hỏi thêm anh Ba: “Điện trả lời ký
tên anh chứ?”(266). Anh Ba nói: “Không, anh là tổng tư lệnh, cứ ký tên anh
thôi”. Sau một thoáng suy nghĩ, anh Ba nói thêm: “Nếu cần thì để cả tên tôi cũng
được, hoặc nói rõ đã trao đổi với anh Ba và anh Ba hoàn toàn đồng ý”(267). Cũng
trong ngày 24-4, tướng Tấn cử Trưởng phòng Tác chiến Cánh quân phía Đông Lê Phi
Long trực tiếp đến Sở Chỉ huy Chiến dịch và tướng Dũng cũng đồng ý để Cánh quân
phía Đông đánh trước.

Ngày 30-4-1975, 10 giờ 50, Cục II báo cáo Tổng Hành dinh: “Quân ta đã vào dinh
Tổng thống Nguỵ”; 11 giờ 30, cục phó Cơ yếu mang vào phòng họp bức điện của
tướng Lê Trọng Tấn báo cáo, “một đơn vị thuộc Cánh quân phía Đông đã cắm cờ trên
Dinh Độc Lập”. Chiều hôm ấy, tướng Giáp kể: “Tôi lên xe đi một vòng quanh Hà
Nội. Cả một rừng cờ hoa dậy lên tự lúc nào. Người đi chật phố, chật đường như
trẩy hội”. “Thống chế đi đặt vòng”

Tháng 12-1976, tại Đại hội IV, tuy vẫn còn là bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nhưng
theo thứ bậc mới trong Bộ Chính trị, tướng Giáp bị xếp sau Lê Đức Thọ. Năm 1977,
tướng Giáp thôi chức bí thư Quân uỷ Trung ương, theo Điều lệ mới, chức vụ này sẽ
thuộc về Tổng bí thư. Năm 1980, ông phải giao chức bộ trưởng Quốc phòng cho Đại
tướng Văn Tiến Dũng(268). Trước Đại hội Đảng lần thứ V, “Vụ án chống Đảng” tưởng
đã khép lại từ năm 1967, lại được ông Lê Đức Thọ đưa ra bàn trong Bộ Chính trị.

Trong buổi Bộ Chính trị họp nghe “Vụ án chống Đảng”, theo ông Võ Văn Kiệt(269):
“Anh Thọ cũng đưa ra những thông tin như Trần Quỳnh(270) kể nhưng anh Giáp bác
bỏ. Tuy nhiên, anh Thọ vẫn kết luận. Bộ Chính trị không có cơ sở gì để quyết
khác với những điều anh Thọ nói. Anh Lê Duẩn không nói gì, anh Phạm Văn Đồng
không nói gì. Có thể có những uỷ viên Bộ Chính trị biết vấn đề anh Giáp nhưng
tôi thì không biết”.

Về sau ông Kiệt chất vấn ông Phạm Văn Đồng: “Anh hiểu anh Giáp, anh có tiếng nói
trong Bộ Chính trị, đó là cái gì?”. Ông Đồng chỉ nói: “Tôi cũng biết uy tín anh
Giáp trong dân”, rồi cười. Ông Kiệt nói: “Uy tín trong dân của một con người là
không thể xem thường. Nếu khai thác được uy tín đó của anh Giáp thì sẽ có lợi
cho dân cho nước. Tôi không đồng tình với cách cư xử của một số anh với anh
Giáp. Tôi kính trọng sức kiềm chế của anh. Đó cũng là bản lĩnh, nghị lực của một
nhân vật lớn”.

Theo Giáo sư Hồ Ngọc Đại, con rể ông Lê Duẩn, một hôm ông Giáp gọi điện thoại
kêu ông Đại tới nhà, ông Đại nói: “Ông Giáp hẹn tôi 13 giờ, nhưng 15 giờ tôi mới
đến. Gặp, ông bảo là đã chờ tôi lâu lắm rồi. Ông khoác vai tôi rồi nói: Đại đưa
hộ thư này trực tiếp tới anh Ba giúp nhé. Té ra chiều hôm đó có cuộc họp bàn về
vấn đề của tướng Giáp. Tối tôi đưa thư cho ba tôi, ông nói: tào lao”. Ông Hồ
Ngọc Đại kể tiếp: “Có lần, tôi sang nhà số 2 Nguyễn Cảnh Chân chúc Tết Lê Đức
Thọ. Tới nơi, tôi thấy ông Giáp cũng vừa đến. Từ trong nhà ra, ông Thọ đi qua
trước mặt mà không thèm chào ông Giáp một câu, bước đến ôm lấy tôi. Có lần ông
Thọ nói ông còn để cái đầu ông Giáp trên cổ là đã may lắm”.

Tại Đại hội V, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Lương và
Nguyễn Văn Linh được đưa ra khỏi Bộ Chính trị. Ông Hoàng Tùng cho rằng: “Lê Đức
Thọ phải đưa cùng lúc năm người ra khỏi Bộ Chính trị để khỏi mang tiếng nhưng
thực chất của việc thay đổi này là nhằm vào ông Giáp”. Tuy nhiên, theo ông Hoàng
Tùng: “Trước đó, cả ông Thọ và ông Lê Duẩn đều nhiều lần công khai đánh giá thấp
khả năng, kể cả khả năng cầm quân, của tướng Giáp”.

Năm 1983, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được giao kiêm nhiệm chức chủ tịch Uỷ ban
Quốc gia về sinh đẻ có kế hoạch trong khi Tố Hữu vào Bộ Chính trị giữ chức phó
thủ tướng thường trực. Dân gian truyền nhau:

“Nhà thơ làm kinh tế

Thống chế đi đặt vòng”.

Năm 1984, Nhà nước tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm “30 năm chiến thắng Điện Biên
Phủ”, báo chí đăng hàng loạt hồi ký, bài viết của cả người Việt và người Pháp.
Các bài viết đăng trên báo Nhân Dân từ tháng 3 đến tháng 5-1984, trong khi nói
rất kỹ về Henri Navarre và Christian de Castries, đã không hề nhắc tên Võ Nguyên
Giáp, vị tư lệnh chiến dịch đã đánh bại hai viên tướng Pháp này.

Ngày 7-5-1984, đúng ngày kỷ niệm chiến thắng, báo Nhân Dân đăng trên trang nhất
bức ảnh chụp Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, nhưng thay vì nêu tên
từng cá nhân, Nhân Dân chỉ chú thích: “Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định
chủ trương tác chiến Đông-Xuân 1953-1954”. Các bài viết trên tờ Quân Đội Nhân
Dân cũng không có tên “Võ Nguyên Giáp”.

Theo Đại tá Nguyễn Văn Huyên, khi Đại tướng Hoàng Văn Thái công bố hồi ký “Điện
Biên Phủ- Chiến dịch lịch sử”, đăng nhiều kỳ trên báo Quân Đội Nhân Dân, trong
mấy kỳ đầu, tờ báo này đã tự ý cắt bỏ tên của tướng Giáp. Khi có sự kiện bắt
buộc phải nhắc đến vai trò của ông, báo Quân Đội Nhân Dân bèn gọi theo chức vụ
“tổng tư lệnh” hoặc “bí thư Tổng Quân uỷ” thay vì gọi “Đại tướng Võ Nguyên Giáp”
hoặc “anh Văn” thân mật. Tướng Hoàng Văn Thái nổi giận đòi ngưng, tên của tướng
Giáp thỉnh thoảng mới xuất hiện trở lại trên tờ Quân Đội Nhân Dân trong hồi ký
của ông Hoàng Văn Thái.

Tờ Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân trong hai ngày 7 và 8-5-1984 đã dành gần như
toàn bộ 4 trang A3 để nói về Điện Biên. Nhưng, trong xã luận, trong các bài diễn
văn đã không hề có tên tướng Giáp. Trên số báo ra ngày 8-5-1985, hai tờ Nhân Dân
và Quân Đội Nhân Dân cùng đưa tin về lễ “Mít tinh trọng thể kỷ niệm lần thứ 30 
chiến thắng Điện Biên Phủ” tổ chức tại Hà Nội vào chiều 7-5, cùng nhắc tới Võ
Nguyên Giáp trong danh sách “Đoàn Chủ tịch cuộc mít tinh”, nhưng chỉ bằng một
cái tên trống không - xếp sau Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Chu Huy Mân, Nguyễn Hữu
Thọ - không “đại tướng” và không nói gì tới vai trò của ông trong “chiến thắng”
mà “cả nước” đang “nức lòng ca ngợi” ấy(271).

Trong khi đó, báo chí đầu thập niên 1980 lại đăng dồn dập nhiều loạt bài mô tả
vai trò của Bí thư Lê Duẩn như là một “tổng tư lệnh trên thực tế” của cuộc
“kháng chiến chống Mỹ”(272). Trong loạt bài Thời Thắng Mỹ, Thép Mới dẫn lời Lê
Đức Thọ kể chuyện năm 1955, Lê Duẩn đã tiên tri cuộc chia tay Bắc-Nam sẽ kéo dài
hai mươi năm(273). Cũng trong loạt bài này, Lê Duẩn được mô tả như là một người
đề xuất hầu hết các chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam. “Bác là người đầu
tiên tán đồng những ý kiến đề xuất của anh Ba trước Bộ Chính trị, ngay sau khi
anh ra Bắc”(274). Theo Thép Mới thì: “Sự vĩ đại của Bác Hồ là lắng nghe” anh Ba
và sau khi nghe, Bác bảo với anh: “Chú nói đúng”(275).

Tháng 3-1985, tướng Giáp, lúc này đã không còn chức bộ trưởng Bộ Quốc phòng, vào
Huế dự lễ mừng “10 năm giải phóng”. Cùng đi với ông có tướng Lê Trọng Tấn, Tổng
tham mưu trưởng và tướng Lê Phi Long. Họ được đón tiếp khá nồng hậu và được bố
trí nghỉ tại khu nhà nghỉ xưa kia của Ngô Đình Cẩn.

Tướng Lê Phi Long kể: “Anh Văn gọi tôi tới cùng đi dạo chơi quanh vườn và nói:
‘Lâu nay các cậu có nghe người ta nói gì không?’. Tôi trả lời. Anh bảo: ‘Sao
không thấy nói lại! Trong tình hình phức tạp hiện nay, con người ta có thể bị
phân hoá thành ba thái độ: một là thẳng thắn đấu tranh bảo vệ sự thật, chân lý;
hai là trong khi chưa có điều kiện nói ra sự thật thì ngồi yên kiên trì chờ đợi;
ba là cơ hội, xuyên tạc, sẵn sàng đổi trắng thay đen, bóp méo sự thật. Các cậu
có đủ dũng khí thì theo cách một, chưa có điều kiện thì chọn cách hai, còn cách
ba, thì phải tuyệt đối tránh”.

Hôm sau, đoàn của tướng Giáp vào Đà Nẵng bằng đường bộ. Trên đèo Hải Vân, khác
với không khí nồng hậu mà Huế dành cho Đại tướng, Đà Nẵng chỉ cử một tỉnh uỷ
viên trẻ măng, vô danh ra đón, không có đại diện Quân khu, Tỉnh đội. Tướng Lê
Phi Long nhớ lại: “Chúng tôi rất bực mình, nhưng anh Văn vẫn bình thản”.

Đêm ấy, đoàn nghỉ ở nhà khách Mỹ Khê, sáng hôm sau, theo chương trình, sẽ đến
đặt vòng hoa tại đài liệt sỹ trước khi dự lễ mừng chiến thắng. Nhưng đợi mãi,
không thấy ai phát thư mời và phù hiệu cho đoàn của “anh Văn”. Các sỹ quan đi
cùng hỏi thì được trả lời: “Ai không có giấy thì coi như không được mời”.

Lễ mừng Chiến thắng Đà Nẵng năm ấy được tổ chức trọng thể vì có Tổng bí thư Lê
Duẩn tới dự. Tướng Lê Phi Long kể: “Chúng tôi rất băn khoăn, liền xin ý kiến của
anh Tấn và anh Văn”. Trong đoàn có ý kiến đề nghị thôi không dự lễ nữa. Tướng
Giáp suy nghĩ rất lâu rồi nhẹ nhàng nói: “Chúng ta vào đây không phải vì lễ lạt
mà còn để viếng những đồng đội, đồng chí đã ngã xuống trên mảnh đất này. Đã tổ
chức viếng thì phải tổ chức trang trọng, chu đáo theo đúng nghi thức quân đội”.

Lập tức, tướng Lê Trọng Tấn ra lệnh cho Bộ Tư lệnh Quân khu V tổ chức một lễ
viếng riêng có đủ tiêu binh, quân nhạc và đích thân một vị trong Bộ Tư lệnh phải
tháp tùng. Sáng hôm sau, xung quanh đài liệt sỹ, dân chúng kéo đến rất đông.
Những người dân ấy không phải đến vì được triệu tập mà đến để nhìn tướng Giáp.

Trong lễ “kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam” tổ chức tại Hà Nội vào ngày
30-4-1985. Võ Nguyễn Giáp vẫn được ngồi trên “Đoàn Chủ tịch”, nhưng trong danh
sách mà báo Nhân Dân ngày 1-5-1985 đăng, ông được xếp đứng sau chín người, trong
đó có nhiều người từng là cấp dưới của ông trong chiến tranh như Văn Tiến Dũng,
Võ Chí Công, Chu Huy Mân, Đỗ Mười, Nguyễn Cơ Thạch,… Đây là thứ bậc dựa trên
chức vụ trong Đảng mà ông nắm giữ trong thời điểm 1985. Tên ông chỉ được đặt bên
cạnh hai chức danh: uỷ viên Trung ương Đảng, phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Từ sau khi tướng Giáp rời khỏi Bộ Quốc phòng, báo chí nhà nước không bao giờ gọi
ông là “đại tướng”. Nhưng, cũng trong suốt thời gian ấy, Võ Nguyên Giáp gần như
rất ít khi rời khỏi bộ quân phục của mình. Trong những chuyến công du hiếm hoi
mà ông được cử, Võ Nguyên Giáp luôn mặc bộ lễ phục cấp tướng sang trọng màu
trắng.

Ông vẫn sống trong biệt thự 30 Hoàng Diệu. Quân đội, ngay cả trong thời kỳ Lê
Đức Anh làm bộ trưởng Bộ Quốc phòng, vẫn giữ lực lượng vệ binh gác nhà ông.
Nhưng, cao hơn cả mọi nghi lễ là sự ngưỡng mộ mà các tướng lĩnh, quân đội, dân
chúng dành cho ông. Tên tuổi tướng Giáp càng bị biên tập khỏi các trang báo Nhân
Dân thì nhân dân lại càng nhắc đến ông trong đời thường của họ. Là một ông thầy
dạy sử, có lẽ tướng Giáp biết được vị trí trong lịch sử của mình. Ông đã đi qua
những tháng ngày bị xếp xuống hàng cuối cùng trên những khán đài, lặng lẽ và
sừng sững.

Sau Đại hội Đảng lần thứ VII, năm 1991, tướng Giáp chính thức rời khỏi chính
trường. Cho dù vụ “Năm Châu-Sáu Sứ”, theo ông Võ Viết Thanh, chỉ là một vụ án
được dựng lên, Bộ Chính trị đã chưa một lần minh oan như ông đề nghị. Mãi tới
năm 1994, trong lễ “kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ”, tên tuổi của ông
mới chính thức được nhắc lại trong một “diễn văn nhà nước”. Đó là bài diễn văn
của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đọc vào tối 6-5-1994: “Xin chào mừng Đại tướng Võ
Nguyên Giáp, thời đó là tổng tư lệnh Chiến dịch Điện Biên Phủ, người đã chấp
hành triệt để và sáng tạo quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị,
cùng Bộ Chỉ huy Chiến dịch, chỉ đạo trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ
giành toàn thắng”. Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại: “Trước đó, khi Bộ trưởng Quốc phòng
Đoàn Khuê lên Điện Biên Phủ kỷ niệm 40 năm, diễn văn của Đoàn Khuê không hề nhắc
một câu tới anh Giáp”.

Cho dù trong bài diễn văn được viết công thức và rào đón của ông Kiệt, phần nói
về tướng Giáp vỏn vẹn chỉ có năm mươi chín từ, nhưng chỉ cần cái tên tướng Giáp
được xướng lên cũng đủ làm cho Cung Văn hoá Việt-Xô oà vỡ. Thật khó biết điều gì
đang diễn ra trong lòng tướng Giáp, từ lâu ông đã có một gương mặt rất ít biểu
lộ. Nhưng những giọt nước mắt của những người có mặt hôm ấy thì không thể kềm
chế, chúng lăn rất nhanh trên má họ; trong khi, tiếng vỗ tay kéo dài.




Chú thích


(172) Nguyễn Thị Sứ sinh năm 1934 tại Kiên Giang, thường trú tại quận 5, Thành
phố Hồ Chí Minh. Từng tham gia lực lượng Thanh niên Tiền Phong nhưng sau năm
1954 chọn ở lại miền Nam.

(173) Khi chính quyền Ngô Đình Diệm lập ấp chiến lược, ba má ông Võ Viết Thanh
đã lớn tuổi, chống không vô ấp. Tối 26-8-1962, một toán lính đồn Lương Phú,
huyện Giồng Trôm, Bến Tre, đóng giả giải phóng quân vào nhà “mời hai bác ra gặp
giải phóng quân về”. Ông bà cảnh giác không đi, liền bị trói dẫn ra bờ sông cắt
cổ. Sáng hôm sau, Chính quyền Sài Gòn tung tin, “Gia đình có hai con đi tập kết,
hai con đi giải phóng quân mà Việt cộng còn về giết thế này, cho nên không ai ở
ngoài ấp chiến lược được”. Về cáo buộc bắt hai cán bộ quân báo, theo ông Võ Viết
Thanh: Chiều 30-4-1975, trinh sát bắt được hai người: Phan Mậu, nguyên trung
đoàn trưởng, Sư đoàn 5, đầu hàng Sài Gòn trong chiến dịch Mậu Thân; Lê Đức
Phượng, một tình báo viên được Cục II đánh vào năm 1954 nhưng sau đó khi bị lộ
đã phản bội. Ông Thanh, khi ấy là Chính trị viên một tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn
quân báo 316, chỉ đạo thả. Nhưng, ngày 2-5-1975, ông Thanh nói: “Lữ đoàn trưởng
đi giao ban Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh về, truyền đạt lệnh: Trong khi còn
tranh tối tranh sáng cần xử lý ngay những tên đã gây tội ác. Anh yêu cầu tôi cho
bắt lại hai đối tượng đã tha vào chiều 30-4. Tôi truyền lệnh cho đại đội trinh
sát rồi từ đó bị công việc cuốn đi, không kiểm tra lại việc này nữa”. Sau Đại
hội, ông Võ Viết Thanh cho lục lại toàn bộ hồ sơ, thì được Tư lệnh Quân khu Thủ
đô cho biết, Lê Đức Phượng vừa mới được Cục II cấp tốc lập hồ sơ công nhận liệt
sỹ. Theo ông Võ Viết Thanh: “Sau này, khi đối chất trong một cuộc họp của Bộ
Chính trị, Tư Văn phải công nhận, Phượng không phải là đại uý cũng không phải là
đảng viên. Tư Văn nói: Do có sự nhầm lẫn ở phòng chính sách”.

(174) Sau khi Võ Viết Thanh bị đưa ra khỏi danh sách ứng cử Ban chấp hành Trung
ương, ngày 24-6-1991, Lê Đức Anh viết bức thư thứ 2: “Kính gửi anh Linh, anh Tô,
Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Trước đây khi chuẩn bị nhân sự cho Đại hội VI, tôi đề
nghị với Bộ Chính trị Khoá V cho phép tôi được chuyên trách làm công tác tổng
kết kinh nghiệm chiến tranh, không làm việc gì khác. Bộ Chính trị lúc bấy giờ
không chấp nhận và nói tiếp tục làm thêm một khoá nữa. Theo sự phân công của
Đảng, tôi đã cố gắng chấp hành nghiêm túc quyết định của Đảng. Hiện nay tuổi đã
lớn mà vẫn chưa thực hiện được nguyện vọng cần thiết đó. Nay do công việc cần
thiết tôi có thể tiếp tục làm việc thêm vài năm nữa như nghiên cứu phối hợp
chiến lược quốc phòng-an ninh, quốc phòng an ninh với kinh tế trước tình hình
diễn biến rất phức tạp. Nếu Đảng phân công công việc cao hơn, nặng hơn không hợp
với sở trường của tôi, trong khi tuổi đã lớn, chắc chắn tôi sẽ không làm được,
có hại cho công việc của Đảng, của Tổ quốc. Xin Đảng cho phép tôi, phân công cho
tôi chuyên trách công tác tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và cùng với anh em
nghiên cứu nâng cao những kinh nghiệm đó ứng dụng vào tình hình mới, và xin được
rút khỏi danh sách đề cử vào Bộ Chính trị Trung ương khoá VII. Mong các anh chấp
nhận. Lê Đức Anh”(Đại tướng Lê Đức Anh, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân 2005,
trang 243). Lê Đức Anh ra viện khi Đại hội Đảng lần thứ VII bắt đầu. Ông Võ Viết
Thanh kể: “Giờ giải lao, đích thân Lê Đức Anh tìm tôi, rồi nắm lấy tay tôi kéo
ra một hàng ghế bên hành lang Hội trường. Ông nói: Việc xảy ra khi tôi đang bị
chảy máu dạ dày, phải nằm viện nên không biết. Chuyện Bảy Thanh thì tôi biết rõ
là không có vấn đề gì. Để từ từ rồi mình tính”. Ông Võ Viết Thanh nói: “Nghe ông
Lê Đức Anh nói vậy tôi cũng xúc động, nghĩ, Cục II làm như vậy có thể chỉ do mối
quan hệ giữa tôi với Tư Văn. Nhưng, khi tôi chuẩn bị rời Bộ Nội vụ về Sài Gòn,
anh Bùi Thiện Ngộ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, gọi tôi lên nói thì tôi mới giật mình.
Anh Ba Ngộ nói: Bảy Thanh ơi, tôi không biết Lê Đức Anh đối xử với anh thế nào
nhưng, sau Đại hội, ông ấy bảo tôi đừng để Bảy Thanh ở trong ngành mà nên chuyển
ngay Bảy Thanh sang Bộ Thương mại”.

(175) Năm 1983, sau gần bảy năm lặn lội với lực lượng Thanh Niên Xung Phong, ông
được ông Võ Văn Kiệt yêu cầu về công tác trong ngành Công an. Trong năm đó, ông
được bổ nhiệm làm Giám đốc Công an Thành phố. Năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI, ông chính thức trở thành uỷ viên Trung ương khi Nông Đức Mạnh,
Nguyễn Tấn Dũng, Trương Mỹ Hoa chỉ là uỷ viên dự khuyết. Trung tướng Võ Viết
Thanh là anh hùng Quân đội. Bị buộc phải ra đi ở một thời điểm mà không ai nghĩ
là còn có kẻ thù. Không chỉ gạt được tướng Giáp ra khỏi chính trường, vụ “Năm
Châu - Sáu Sứ” còn chặn được con đường của ông Võ Viết Thanh, người mà ông Võ
Văn Kiệt hy vọng sẽ giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ khi ông trở thành Thủ tướng.

(176) Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 tại thôn An Xá, xã Lộc Thuỷ, huyện
Lệ Thuỷ, Quảng Bình. Tướng Giáp kể: “Ông ngoại tôi vốn là một lãnh binh theo
nghĩa quân Cần Vương”. Những năm học ở Trường Quốc Học Huế, cậu Giáp thường tới
nhà cụ Phan Bội Châu đàm đạo và được cụ Phan cho mặc sức sử dụng kho sách của
mình. Giáp cũng chơi thân với thầy giáo Đặng Thai Mai. Năm ông mười sáu tuổi,
người Pháp đuổi học Nguyễn Chí Diểu. Giáp khởi xướng một cuộc bãi khoá để phản
đối. Vì sự kiện ấy Giáp cũng bị đuổi học, về làng. Anh Nguyễn Chí Diểu đến An Xá
tìm Giáp: “Chúng tôi đã lập Đảng Tân Việt”. Giáp bảo: “Tôi đi với anh”. Võ
Nguyên Giáp là người đã góp phần tích cực đưa Tân Việt tham gia Đông Dương Cộng
sản Đảng. Tháng 10-1930, Giáp bị bắt cùng với thầy Đặng Thai Mai và nhiều người
khác, trong đó có Nguyễn Thị Quang Thái, em gái nữ sĩ Nguyễn Thị Minh Khai. Năm
1929, Giáp cùng thấy Mai ra Hà Nội, vừa dạy sử ở trường Thăng Long, vừa tự học
lấy bằng cử nhân luật và kinh tế. Một trong những học trò của tướng Giáp, ông
Bùi Diễm, người đã từng là Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng Hoà năm 1965,
viết: “Những gì về ông Giáp hồi ấy thật đặc biệt, vì vậy mà hơn nửa thế kỷ sau,
tôi vẫn còn nhớ rõ rệt. Phần giảng dạy của ông về Nã Phá Luân rất ly kỳ… Hình
như ông đã in tất cả trong đầu và sử trở thành một phần trong con người ông. Ông
như chìm đắm vào thế giới của mình và ông lôi kéo học trò vào thế giới đó” (Bùi
Diễm, Trong Gọng Kìm Lịch Sử, Phạm Quang Khai xuất bản năm 2000, trang 21, 22,
23). Năm 1946, khi ông Đặng Thai Mai chuyển từ Sầm Sơn ra Hà Nội, Giáp tìm tới
thăm, lúc này cô con gái của thầy Mai, Đặng Bích Hà đã là một cô gái xuân mười
chín. Họ lấy nhau và có bốn người con. Sau 1954, cả gia đình tướng Giáp, kể cả
người con gái của ông và bà Quang Thái, Võ Hồng Anh, sống quây quần trong biệt
thự 30 Hoàng Diệu.

(177) Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Sự Thật 2002, trang 36

(178) Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Thị Quang Thái cưới nhau năm 1935. Năm 1940, khi
cùng Phạm Văn Đồng sang Vân Nam gặp Nguyễn Ái Quốc, Giáp chia tay với người vợ
trẻ khi họ vừa có Hồng Anh, con gái đầu lòng. Sau đó, Nguyễn Thị Quang Thái bị
Pháp bắt rồi chết ở trong tù vào năm 1944. Theo lời kể của Giáo sư Võ Hồng Anh,
con gái tướng Giáp: “Năm 1929, cha tôi lần đầu tiên nghe nhắc đến cái tên Nguyễn
Thị Quang Thái, cô em gái trẻ, thông minh và rất xinh của Nguyễn Thị Minh Khai.
Trong chuyến tàu cha tôi trở lại Huế, tới Vinh thì gặp mẹ tôi lên tàu, cùng với
một nữ sinh Đồng Khánh. Lúc đó mẹ tôi mặc áo dài, tóc để xoã, da trắng, gương
mặt sáng. Nhưng điểm gây ấn tượng với cha tôi nhất là đôi mắt”.

(179) tướng Giáp là người đội mũ phớt trong bức hình chụp “34 chiến sỹ này” nên
về sau Lê Đức Thọ đã gọi ông là “ông tướng mũ phớt”.

(180) Năm 1948, với tư cách là uỷ viên Thường vụ Trung ương, ông Thọ được cử vào
Nam, nơi ông Lê Duẩn đang là bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Trong một hội nghị do Xứ uỷ tổ
chức vào năm 1949, Lê Đức Thọ đã xuất hiện như một cấp trên, chỉ trích Xứ uỷ Nam
Bộ bằng những lời lẽ nặng nề. Theo ông Võ Văn Kiệt, người có mặt trong hội nghị
này: “Mặc dù phái đoàn (anh Lê Đức Thọ) có những đánh giá không sát với chiến
trường Nam Bộ, nhưng trước hội nghị, anh Ba vẫn nhận lấy trách nhiệm một cách
nghiêm túc. Phát biểu của anh Ba như tiếp thêm nguồn sinh lực và làm cho hội
nghị trở nên hào hứng khi anh phân tích có sức thuyết phục bằng tầm bao quát sâu
rộng và những lý lẽ được minh chứng bằng thực tiễn sinh động”. Con trai Tổng bí
thư Lê Duẩn, ông Lê Kiên Thành, nói rằng, khi mới vào Nam Bộ, ông Lê Đức Thọ là
cấp trên và ông cũng có ý định thay thế Lê Duẩn giữ chức bí thư Xứ uỷ, nhưng đã
bị ông Lê Duẩn thuyết phục hoàn toàn. Ông Lê Đức Thọ sau đó đã chủ động xin ở
lại làm phó cho Lê Duẩn.

(181) Lê Đức Thọ tên thật là Phan Đình Khải, sinh ngày 10-10-1911, tại xã Địch
Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Cha là Phan Đình Quế, làm hương trưởng, chánh
hương hội ở xã, từng được ban hàm cửu phẩm. Hai vợ chồng ông Phan Đình Quế sinh
được tám người con, trong đó có ba người theo cộng sản: Phan Đình Khải (Lê Đức
Thọ), Phan Đình Dinh (Đinh Đức Thiện), Phan Đình Đống (Mai Chí Thọ). Năm mười
lăm tuổi, khi đang học tại trường tiểu học tại Nam Định, Lê Đức Thọ đã tham gia
bãi khoá và dự lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh. Ba năm sau ông tham gia Đông
Dương Cộng sản Đảng, làm bí thư chi bộ học sinh. Tháng 11-1930, thì bị bắt, bị
kết án mười năm khổ sai và bị đày đi Côn Đảo. Ông được tha trước thời hạn vào
năm 1936. Nhưng, năm 1939, do có hai đảng viên phản bội, gần như tất cả các tổ
chức cộng sản ở bốn tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình đều bị vỡ, trên
500 nguời bị bắt, trong đó có ba anh em Phan Đình Khải. Theo Hoàng Tùng, một
người cùng quê, bị bắt chung, “Phan Đình Khải bị tra tấn rất dã man vẫn không
khai”. Sau khi ra khỏi nhà tù Sơn La, Lê Đức Thọ bắt đầu được giao phụ trách
công tổ chức và huấn luyện cán bộ (từ tháng 9-1944) và được chỉ định làm uỷ viên
Trung ương Đảng, trực tiếp phụ trách Xứ uỷ Bắc Kỳ. Ông Thọ là một trong số các
nhà lãnh đạo của Đảng dự hội nghị mở rộng Ban Thường vụ Trung ương đêm 9-3-1945,
hội nghị đề ra chủ trương “phát động một cao trào cách mạng đi tới cuộc tổng
khởi nghĩa”. Ông được cử vào Ban Thường vụ Trung ương tại hội nghị cán bộ toàn
quốc của Đảng ở Tân Trào, tháng 8-1945 và kể từ sau Cách mạng tháng Tám được
chính thức giao phụ trách công tác tổ chức của Đảng. Từ năm 1956, sau khi ông Lê
Văn Lương nhận án kỷ luật trong vụ cải cách ruộng đất, Lê Đức Thọ chính thức làm
trưởng Ban Tổ chức Trung ương

(182) Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Sự Thật 2002, tr 36

(183) Báo Nhân Dân số ra ngày 12-7-1956.

(184) Bài diễn văn ngày 9-7-1956 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có đoạn: “Tháng
7-1956 đã đến, cuộc tổng tuyển cử đúng kỳ hạn theo hiệp định Geneva quy định
đang bị đế quốc Mỹ và chính quyền miền Nam phá hoại. Nhưng, trong thời gian hai
năm qua nhân dân ta đã thu được những thắng lợi to lớn: miền Bắc được giải phóng
và bước đầu được củng cố, phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam được giữ
vững và rèn luyện, sự đồng tình quốc tế ngày càng vững thêm… Chủ trương của
chúng ta là thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình, và chúng ta nhận định
rằng trong điều kiện trong nước và thế giới hiện nay, sự nghiệp thống nhất nước
nhà của Việt Nam ta có khả năng hoàn thành bằng phương pháp hoà bình… Chúng ta
đã kháng chiến lâu dài để tranh thủ hoà bình, hoà bình được lập lại là một thắng
lợi của nhân dân ta. Hoà bình càng được củng cố lâu dài thì thắng lợi của ta
càng có điều kiện phát triển. Chúng ta kiên quyết đấu tranh lâu dài để thực hiện
thống nhất nước nhà. Đó cũng tức là cuộc thi đua hoà bình giữa chế độ chính trị
của miền Bắc và chế độ chính trị của miền Nam ở trong phạm vi một nước” (Báo
Nhân Dân số ra ngày 12-7-1956).

(185) Báo Nhân Dân số ra ngày 12-7-1956.

(186) Báo Nhân Dân số ra ngày 12-7-1956.

(187) Trong bài phát biểu trước cuộc mit tin ở Hà Nội ngày 9-7-1956, tướng Giáp
nói: “Trong tình thế hiện nay, chủ trương đó (thi đua hoà bình) là chủ trương
chính xác duy nhất. Nhận định trên hoàn toàn phù hợp với sự phân tích tình hình
thế giới của Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô, đại hội đã nêu ra
những hình thức mới tiến lên chủ nghĩa xã hội trong đó có đường lối hoà bình
phát triển không dùng đến vũ trang đấu tranh” (Báo Nhân Dân số ra ngày
12-7-1956).

(188) Văn Kiện Đảng Toàn Tập, tập 17-1956, trang 797-798.

(189 Sách đã dẫn.

(190) Báo Nhân Dân số ra ngày 12-7-1956.

(191) Sách đã dẫn.

(192) Nhiều tác giả, Tổng tập Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Sự Thật 2002, trang 35-36.

(193) Nhiều tác giả, Tổng tập Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Sự Thật 2002.

(194) Phạm Văn Trà, Đời Chiến Sĩ, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân 2009.

(195) Nhiều tác giả, Tổng tập Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Sự Thật 2002, trang 36.

(196) Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster 2003, trang 26

(197) Sách đã dẫn

(198 Hai đại đội Quân Giải phóng đã đọ súng với một lực lượng quân Việt Nam Cộng
hoà đông gấp bốn lần, có thiết vận xa M113, máy bay, pháo binh và cố vấn Mỹ. Kết
quả, phía Việt Nam Cộng hoà: sáu mươi chết, 109 bị thương; cố vấn Mỹ: 3 chết, 8 
bị thương. Phía Quân Giải phóng, ngay trong đêm rút lui an toàn về Đồng Tháp
mươi.

(199) Viện trưởng Viện Triết học, Hiệu phó Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc.

(200) Tháng 4-1963, ông Ung Văn Khiêm đã bị cho thôi chức Bộ trưởng Ngoại giao
sang làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

(201) Tháng 9-1963, Đại tá Lê Đức Anh được bổ nhiệm làm phó Tổng tham mưu trưởng
và vào “cuối mùa đông” năm đó ông được cử vào Nam. Theo ông Lê Đức Anh: “Trước
ngày ra đi ông Văn Tiến Dũng căn dặn: ‘Vào tới nơi anh báo cáo với hai anh
Nguyễn Văn Linh và Trần Văn Trà, bàn với các anh thực hiện Nghị quyết 15: Việc
thứ nhất, ra sức xây dựng lực lượng quân sự tại chỗ; thứ hai, miền Đông Nam Bộ
thì nên mở rộng ra hướng biển Đông; thứ ba, cố giành và khai thác nhân tài, vật
lực để phát triển cách mạng’. Sau đó, ông Lê Đức Anh sang gặp ông Lê Duẩn tại số
6 Hoàng Diệu, ông Lê Duẩn nói: ‘Ba ý kiến đó đúng. Nhưng thêm một điều quan
trọng nữa, là chú trọng xây dựng lực lượng cách mạng và hoạt động vũ trang ở
trong đô thị và vùng ven đô” (Đại tướng Lê Đức Anh, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân
dân 2005, trang 63). Khi ấy, ở Trung ương Cục ông Nguyễn Văn Linh đang là bí
thư; ở Bộ chỉ huy Miền, tướng Trần Văn Trà làm tư lệnh, cả hai đều nói: “Thế thì
chúng ta cứ làm theo ý của anh Ba Duẩn và anh Văn Tiến Dũng” (Đại tướng Lê Đức
Anh, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân 2005, trang 65).

(202) Theo Đại tướng Phạm Văn Trà: “Ngày 1-12-1963, tôi được thông báo về nhận
nhiệm vụ mới… Chúng tôi hành quân vào tập kết ở Tây Hồ, huyện Thọ Xuân, tỉnh
Thanh Hoá. Tại đây, các đồng chí Tô Ký, Đồng Văn Cống, quán triệt tình hình
nhiệm vụ, động viên và bố trí chuẩn bị lần cuối thật chu tất cho chuyến hành
quân xa” (Đại tướng Phạm Văn Trà, Đời Chiến Sĩ, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân
2009, trang 87).

(203) Giữa năm 1963, Sắc lệnh cấm treo cờ của các giáo phái, các nhóm tôn giáo
và các đảng phải chính trị của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã tạo ra một làn sóng
chống đối. Trong cuộc biểu tình tại Huế vào ngày 8-5-1963, binh lính đã nổ súng
vào đoàn người biểu tình. Ngày 11-6-1963, tại Sài Gòn, trước ngã tư Phan Đình
Phùng-Lê Văn Duyệt, hoà thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu. Bức ảnh chụp vị sư
già ngồi thiền trong khi lửa cháy được truyền đi khắp thế giới như một bằng
chứng về sự mất lòng dân của Ngô Đình Diệm. “Giọt nước tràn ly” khi ngày
21-8-1963, lực lượng của Ngô Đình Nhu bất ngờ khám xét hàng loạt chùa chiền, bắt
đi hơn 1.400 nhà sư.

(204) Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 35

(205) Ngày 2-11-1963: 6:20, ông Diệm gọi điện thoại cho tướng Trần Văn Đôn xin
đầu hàng và được an toàn tới phi trường để ra đi cùng với Ngô Đình Nhu; 6:45 
tướng Khiêm được ông Diệm cho biết nơi hai anh em ông đang trốn; 7:00 tướng Big
Minh sai Mai Hữu Xuân đi đưa ông Diệm về Bộ Tổng Tham Mưu; 8:30 hai anh em Diệm
và Nhu bị giết trong một chiếc xe M113, trên xe khi ấy có Đại uý Nguyễn Văn
Nhung, cận vệ tướng Big Minh. Không rõ ai đã ra lệnh giết hai ông Diệm - Nhu vì
sau đó ít lâu Đại uý Nhung đã chết và được công bố là “tự tử”.

(206) Mật danh các chiến trường miền Nam: B-2 gồm các tỉnh Nam Bộ; B-3 Tây
Nguyên. Các chiến trường Campuchia gọi là K; Lào gọi là C.

(207) tướng Giáp khẳng định với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara trong cuộc gặp
ngày 23-6-1997 tại Hà Nội. Năm 2005, tài liệu giải mật của Nhà Trắng cho thấy
Tổng thống Johnson biết là không có cuộc tấn công thứ hai vào ngày 4-8. Tuy
nhiên, sự kiện ấy đã không được Nhà Trắng báo cho Quốc hội và ngay cả Bộ trưởng
Quốc phòng cũng bất ngờ khi nghe tướng Giáp nói.

(208) Đại tướng Phạm Văn Trà kể: “Ngày 14-8-1964, đoàn chúng tôi chính thức lên
đường. Đoàn xe ô tô của Tổng cục Hậu cần đưa chúng tôi về Nam theo đường số 1.
Toàn đoàn trên dưới 160 anh em, hầu hết là sĩ quan cấp uý… Trước đó hơn một
tuần, không quân Mỹ đã ào ạt đánh phá Đồng Hới, Quảng Bình, Vinh - Cửa Hội, Nghệ
An, Lạch Trường, Thanh Hoá, Hòn Gai, Quảng Ninh… Bà con ở Vinh kể lại, ngày
5-8-1964, máy bay Mỹ ném bom trúng kho xăng Bến Thuỷ, mặc dầu xăng dầu ta chuyển
sơ tán từ trước, chỉ còn dầu cặn, nhưng khói lửa vẫn bùng cao hàng nghìn mét”
(Đại tướng Phạm Văn Trà, Đời Chiến sĩ, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân 2009,
trang 92).

(209) Theo Đại tá Lê Trọng Nghĩa, tướng Trần Quý Hai là người thân tín của Lê
Duẩn và Lê Đức Thọ.

(210) Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 42

(211) Lưu Văn Lợi & Nguyễn Anh Vũ, sách đã dẫn, trang 124.

(212) Mikhalowski, được nói là “đặt nhiều hy vọng vào cuộc gặp gỡ với Chủ tịch
Hồ Chí Minh”, ông nói: “Tôi được uỷ nhiệm của các đồng chí lãnh đạo chúng tôi
đến tìm hiểu ý kiến của các đồng chí về việc này… Tôi nghĩ rằng nếu Tổng thống
Mỹ thấy các đồng chí bác bỏ khả năng đàm phán thì chỉ còn con đường đẩy mạnh
chiến tranh” (Lưu Văn Lợi & Nguyễn Anh Vũ, sách dã dẫn, trang 127-128). Nhưng,
Hồ Chí Minh còn tỏ ra cứng rắn hơn cả Phạm Văn Đồng: “Tại sao Mỹ phải đi gõ cửa
khắp nơi? Chính Mỹ gửi quân đội Mỹ đến đây, bây giờ Mỹ phải đình chỉ xâm lươc,
như vậy vấn đề sẽ giải quyết. Mỹ phải cút đi!… Chúng tôi không muốn trở thành
người chiến thắng. Chúng tôi chỉ muốn Mỹ cút đi! Gut-bai (Goodbye)” (sách dã
dẫn, trang 128). Mikhalowski cố gắng: “Chiến tranh ghê gớm sẽ kéo dài năm năm,
mười năm. Tại sao không vận dụng chiên thuật chính trị để đạt được kết quả tương
tự? Rất có thể là Mỹ bây giờ cũng muốn rút lui theo một phương thức nào đó”
(sách dã dẫn, trang 129). Hồ Chí Minh: “Mỹ có mạnh hơn Pháp, nhưng ngay nay
chúng tôi cũng mạnh hơn trước kia… Khi chống Pháp, chúng tôi có một mình, bây
giờ có cả phe xã hội chủ nghĩa ủng hộ chúng tôi” (sách dã dẫn, trang 129).
Mikhalowski: “Nhưng phe xã hội chủ nghĩa của chúng ta không nhất trí. Chỉ có các
đồng chí là đổ máu. Gia phải trả sẽ rất cao” (sách dã dẫn, trang 129). Hồ Chí
Minh: “Nhân dân Việt Nam không sợ. Nếu đời chúng tôi không hoàn thành thì con
cháu chúng tôi sẽ hoàn thành” (sách dã dẫn, trang 129).

(213 Lưu Văn Lợi & Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger
tại Paris, Nhà Xuất bản Công an Nhân dân 2002, trang 147.

(214) Lưu Văn Lợi & Nguyễn Anh Vũ, sách đã dẫn, trang 147.

(215) Lưu Văn Lợi & Nguyễn Anh Vũ, sách đã dẫn, trang 148.

(216) Lưu Văn Lợi & Nguyễn Anh Vũ, sách đã dẫn, trang 149.

(217) Raymond Aubrac, 1914-2012, và vợ ông, bà Lucie, 1912-2007, là hai nhân vật
kiệt xuất trong cuộc Kháng chiến của người Pháp chống Phát xít Đức (1940-1944).
Trong thời gian lãnh đạo chính quyền ở Marseille, nửa cuối năm 1944, Raymond
Aubrac đã tận tình giúp đỡ giới “lính thợ” (ONS) người Việt ở vùng này, những
người mà về sau trở thành những hạt nhân đầu tiên của phong trào Việt kiều ở
Pháp. Mùa hè 1946, khi tới Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm gặp Raymond Aubrac.
Chỉ sau một lần tiếp xúc, chủ tịch Hồ Chí Minh và những người thân cận trong
phái đoàn (Vũ Đình Huỳnh, thư ký riêng, đóng vai ‘tuỳ viên quân sự’, Phạm Văn
Đồng, người sẽ cầm đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Hội nghị
Fontainebleau…) đã trở thành “khách” thường trú tại ngôi nhà của ông bà ở
Soisy-sous-Montmorency (cách Paris 16 km về phía bắc). Cũng trong thời gian này,
bà Lucie đã sinh hạ con gái út là Elisabeth (Babette) mà Hồ Chủ tịch nhận làm
cha đỡ đầu. Ngoài chuyến đi đến Hà Nội năm 1967, năm 1975, khi chiến tranh vừa
chấm dứt, Raymond Aubrac đã thuyết phục được McNamara trao cho chính phủ Việt
Nam toàn bộ các bản đồ các bãi mìn dọc theo “bức tường McNamara” (theo Nguyễn
Ngọc Giao).

(218) Lưu Văn Lợi & Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger
tại Paris, Nhà Xuất bản Công an Nhân dân 2002, trang 215.

(219) Phạm Văn Đồng đã nói cụ thể với hai sứ giả của Washington: “Có hai loại
vấn đề: thương lượng và giải pháp. Muốn có thương lượng, chúng tôi đứng trên lập
trường nguyên tắc của chúng tôi: phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền
Bắc mới có thể thương lượng. Trong quá trình thương lượng, chúng tôi biết chúng
tôi phải nói gì. Mỹ hãy chuẩn bị về phía họ!”. Aubrac: “Thế nào là việc ném bom
không điều kiện?”. Phạm Văn Đồng: “Tôi muốn họ ra một tuyên bố. Nhưng chúng tôi
không quá khó tính”. Marcovich: “Có lẽ là một việc ngừng ném bom trên thực tế,
không tuyên bố”. Phạm Văn Đồng: “Chúng tôi không khó tính về điểm này. Điều chủ
yếu là ngừng không điều kiện. Chúng tôi sẽ không nói chuyên dưới sự đe doạ của
bom đạn”. Marcovich nhắc lại điều mà một năm trước đó Sainteny đã nói: “Hoa Kỳ
không muốn chịu mất thể diện. Kissinger đã nói với chúng tôi: làm thế nào giúp
họ rút đi” (Lưu Văn Lợi & Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ -
Kissinger tại Paris, Nhà Xuất bản Công an Nhân dân 2002, trang 218).

(220) Lưu Văn Lợi & Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger
tại Paris, Nhà Xuất bản Công an Nhân dân 2002, trang 228.

(221) Lưu Văn Lợi & Nguyễn Anh Vũ, Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger
tại Paris, Nhà Xuất bản Công an Nhân dân 2002, trang 228-229.

(222) Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 42

(223) Vũ Kỳ, “Bác Hồ với Tết Mậu Thân Năm Ấy”, báo Văn Nghệ số Xuân năm 1998.

(224) Vũ Kỳ, “Bác Hồ với Tết Mậu Thân Năm Ấy”, báo Văn Nghệ số Xuân năm 1998.

(225) Vũ Kỳ, “Bác Hồ với Tết Mậu Thân Năm Ấy”, báo Văn Nghệ số Xuân năm 1998.

(226) Vũ Kỳ, “Bác Hồ với Tết Mậu Thân Năm Ấy”, báo Văn Nghệ số Xuân năm 1998.

(227) Báo Nhân Dân số ra ngày 7-1-2008.

(228) Vũ Kỳ, “Bác Hồ với Tết Mậu Thân Năm Ấy”, báo Văn Nghệ số Xuân năm 1998.

(229) Theo Vũ Kỳ: “Hai Bác cháu lại ngồi im lặng bên nhau, nghe tin tức, ca nhạc
và nghe ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Thời gian trôi đi chầm chậm. Thấy vẻ
Bác trầm ngâm đượm buồn… Từ ngày Bác trở về nước sau hơn ba mươi năm xa tổ quốc,
có năm nào Tết đến mà Bác không đến với đồng bào và chiến sĩ đâu… Chỉ có mùa
xuân này Bác phải xa tổ quốc. Bác bảo tôi: chú mở cái băng gì vui vui cho Bác
nghe với. Tôi biết Bác thương nhớ nhất các cháu nhỏ nên tôi chọn một băng có
nhiều bài hát thiếu nhi mở cho Bác nghe. Khi một giọng hát ngây thơ của một em
bé hát bài “Bé bé bồng bông… em đi sơ tán, mai về phố Đông”, tôi thấy Bác mỉm
cười. Có tiếng pháo nổ ran tiễn Đinh Mùi đón Mậu Thân. Cùng lúc, từ chiếc đài
bán dẫn, lời chúc Tết của Bác Hồ vang lên sang sảng:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

Tiến lên!

Toàn thắng ắt về ta!

Tiếng Bác Hồ ngân vang. Trong căn phòng vắng chỉ có hai người”. Bài thơ trên đây
được Hồ Chí Minh làm trong gần ba tháng khi đang ở Bắc Kinh và đã được thu thanh
khi ông về Hà Nội hồi cuối tháng 12-1967 (Vũ Kỳ, “Bác Hồ với Tết Mậu Thân Năm
Ấy”, báo Văn Nghệ số Xuân năm 1998).

(230) Đặng Kim Giang là một trong bốn chỉ huy quan trọng nhất của chiến dịch
Điện Biên Phủ, với vai trò chủ nhiệm cung cấp của mặt trận, ông đã đảm bảo mỗi
ngày năm mươi tấn gạo cho chiến dịch. Năm 1958, ông được phong quân hàm thiếu
tướng. Năm 1962, ông ra làm thứ trưởng Bộ Nông trường.

(231) Ông Nguyễn Kiến Giang, người bị bắt giam sáu năm và quản chế ba năm, nói:
“Cho đến bây giờ tôi cũng không biết là tôi có tội gì nữa. Người ta bảo là tôi
phản động, tay sai nước ngoài, thì cũng nghe nói thế thôi, chứ còn trên thực tế,
bị giam ở xà lim mấy năm, thêm mấy năm quản chế, khoảng gần mười năm, cho đến
khi trở về Hà nội với tư cách là một người công dân, tôi cũng không biết là tôi
có tội gì. Cho tới nay cũng không ai nói với tôi là tôi có tội gì nữa”.

(232) Ngày 27-1-1972, Ban Chấp hành Trung ương mới ra nghị quyết tước quân hàm
trung tướng của ông Nguyễn Văn Vịnh, khai trừ đảng tịch ông Vịnh, ông Ung Văn
Khiêm, Bùi Công Trừng và Lê Liêm. Ngày 13-10-1977, sau khi giữ đảng tịch, giữ
quân hàm thiếu tướng cho tướng Vịnh, Quyết định số 255 do chính Lê Đức Thọ ký,
viết: “Đồng chí Nguyễn Văn Vịnh biết Đặng Kim Giang là phần tử xấu có quan điểm
chống lại Nghị quyết 9 của Đảng vẫn quan hệ trao đổi một số quan điểm sai trái
về đường lối chống Mỹ, tiết lộ những tin tức cơ mật về quân sự, chính trị với
Giang. Giang đã sử dụng những tin ấy để hoạt động chống Đảng và cung cấp cho
người nước ngoài. Nhưng tác hại không lớn. Đồng chí Vịnh không có quan hệ về tổ
chức và hành động với nhóm chống Đảng của Đặng Kim Giang và không biết Giang
hoạt động chống Đảng có tổ chức như sai lầm của 3 uỷ viên Trung ương: Ung Văn
Khiêm, Lê Liêm, Bùi Công Trừng”.

(233) Từ năm 1973, ông Phạm Văn Hùng là thư ký ông Võ Văn Kiệt.

(234) Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Sự Thật 2002, tr 39.

(235) Theo ông Nguyễn Nhật Hồng, trưởng phòng B29, một phòng đặc biệt phụ trách
chi viện cho miền Nam: Trong năm 1967, Trung ương cho in 10.000 hòm tiền “Mặt
trận Dân tộc Giải phóng miền Nam”; vì số tiền này dự định phát hành trong năm
1968 nên có mật danh là “hàng 68”. Khi ấy, ở Trung ương Cục cũng đang tồn 14.000 
hòm tiền “Chánh phủ Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam”, mật danh là “hàng 65”.
Dự kiến, tuỳ theo tình hình, giải phóng ở cấp độ nào thì dùng “hàng” ở quy mô
ấy.

(236) tướng Giáp phát biểu với các tướng lĩnh làm công tác Tổng kết chiến tranh
ngày 9-2-1999 - Theo tướng Lê Phi Long.

(237) Lê Duẩn phát biểu tại Hội nghị Trung ương 14, tháng 12-1967: “Muốn thắng
nó, làm sập nó dữ, không phải đánh thường thường như bây giờ, mà phải chuyển qua
một giai đoạn mới, giai đoạn đó là chuyển qua tổng công kích, tổng khởi nghĩa”.
Ông giải thích: “Tổng công kích, tổng khởi nghĩa… (theo) quan niệm của Lênin:
khởi nghĩa ở đô thị là một cuộc cướp chính quyền, là giai đoạn đầu tiên của
chiến tranh cách mạng, không có cuộc khởi nghĩa nào rồi là xong đâu, như ta làm
Cách mạng Tháng Tám rồi, ta phải kháng chiến chín năm nữa”. Nhưng, ông nhấn
mạnh: “Cuộc khởi nghĩa ta nói đây là một giai đoạn cuối cùng, không phải giai
đoạn đầu, không phải là một cú, mà là một giai đoạn… Ta có lý luận quân sự,… có
những lực lượng quân sự khá mạnh, những chủ trương lớn và những mũi nhọn khá
mạnh đánh ngay vào tim nó; vùng dậy cả về quân sự, chính trị trong một thời
gian. Ở đây ta có nhảy vọt lên, nó có nhảy vọt xuống, ghê gớm lắm, không lường
thế nào cho hết đâu. Nếu Sài Gòn bị sập một cái, nửa triệu người, vài ba chục
vạn người cầm súng cho ta đánh nó thì lắm vấn đề lớn lắm, không lường hết được”
(Báo Nhân Dân số ra ngày 7-1-2008).

(238 Báo Nhân Dân số ra ngày 7-1-2008.

(239) Đại tá Tư Chu giải thích: “Theo kế hoạch chiến đấu Đợt Một Mậu Thân thì
các đơn vị Biệt động có nhiệm vụ xung kích, cố giữ các mục tiêu trong vòng một
giờ, sẽ có các tiểu đoàn bộ binh mũi nhọn của các phân khu tiến vào tiếp ứng để
đánh chiếm toàn bộ mục tiêu, tiêu diệt cơ quan đầu não của Mỹ-Nguỵ, đồng thời có
binh biến của một số đơn vị nguỵ quân, có nổi dậy của hàng vạn thanh niên và
quần chúng ở các quận nội đô để giành quyền làm chủ các địa bàn, mục tiêu ta
chiếm được. Trên thực tế, không có binh biến cũng như nổi dậy, bộ đội chủ lực
thì có nơi không vào kịp, hoặc không vào được, chỉ có các đơn vị biệt động đánh
vào 5 mục tiêu một cách đơn độc, có đơn vị phải chiến đấu cho đến người cuối
cùng”.

(240) Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Sự Thật 2002, tr 39.

(241) Ở Huế: Khoảng 2:40, một tiểu đoàn đặc công người Huế, 2 trung đoàn bộ binh
người miền Bắc và một tiểu đoàn hoả lực tràn vào chiếm Thành. Trong 6 ngày đầu
của cuộc tấn công, Đại tá Tỉnh trưởng Thừa Thiên Phạm Văn Khoa phải trốn trên xà
nhà của một bệnh viện. Quân Giải phóng đã trụ được 26 ngày và một số ngày trong
khoảng thời gian này, cờ xanh - đỏ - sao vàng đã được kéo lên cột cờ cao nhất ở
Huế. Nhưng, Huế đã bị tàn phá nặng nề bởi bom đạn của cả đôi bên: 14.000 thường
dân chết; 24.000 dân thường bị thương, chưa kể gần 3.000 lính Sài Gòn và lính
Mỹ; 627.000 người dân mất nhà mất cửa. Có nhiều người Huế đã bị bắt đi, bị thủ
tiêu. Huế, đã trở thành một biểu tượng khiến cho khi nói về Mậu Thân, người dân
miền Nam đã nghĩ ngay đến màu tang tóc. Ở miền Tây, theo Đại tướng Phạm Văn Trà:
“Tiểu đoàn chúng tôi, ngày xuất quân với 7 đại đội đủ quân, xấp xỉ một nghìn tay
súng, sau khi kết thúc đợt 1, chỉ còn trên một trăm cán bộ, chiến sĩ. Có tiểu
đoàn, khi đánh vào Cần Thơ bộ đội ngồi chật cả trăm xuồng, khi ra chỉ vài chục
chiếc, mỗi chiếc chở vài ba anh em. Đành rằng, trong chiến tranh, không phải lúc
nào cũng lấy việc ‘đếm xác’ của hai bên trên chiến trường để kết luận sự thắng
bại; nhưng để tổn thất lớn là điều chúng ta phải trăn trở, suy nghĩ; đặc biệt
đối với chúng tôi là những người cầm quân trên chiến trường… Tôi nhớ khi đó anh
em trong đơn vị đã truyền nhau mấy câu lục bát:

Vòng cung đi dễ khó về

Đạn chen đầu đạn, bom kề hố bom;

Hay là:

Tưởng là lên lộ đi xe

Ai ngờ trở lại không ghe, không xuồng.

Chủ nhân của mấy câu lục bát ấy, một phong viên mặt trận, bị phát hiện và chịu
nhận hình thức cảnh cáo”(Phạm Văn Trà, Hồi ký Đời Chiến sỹ, Nhà Xuất bản Quân
đội Nhân dân 2009, trang 142-143). Trên thực tế chiến trường, Cuộc Tổng công
kích và khởi nghĩa đã bị nghiền nát. Tài liệu kiểm điểm của Khu uỷ Khu IX, nơi
ông Võ Văn Kiệt làm Bí thư từ năm 1970, viết: Do“chăm bẵm vào khả năng giải
phóng hoàn toàn”, Khu uỷ đã tập trung toàn lực, tấn công vào đầu não đô thị.
Quân đội Mỹ và Sài Gòn, nhân cơ hội ấy, tiến hành “Bình định đặc biệt”,“Bình
định cấp tốc” ở vùng nông thôn, gom dân vào ấp, cán bộ đảng viên bị dạt ra khỏi
dân. Quân đội Sài Gòn đóng thêm 1000 đồn bốt. Trong số 250 xã Miền Tây Nam Bộ,
cuối năm 1968, có 50 xã, đảng viên phải ly hương; 40 xã khác, chỉ còn một hoặc
hai đảng viên. Các trung đoàn chủ lực cũng bị đánh dạt sâu về Trà Vinh, U Minh.
Trong khi số lượng du kích sụt, tân binh lại không tuyển được ngay cả trong
những “xã giải phóng”… Trong Chiến dịch Mậu Thân, ông Võ Văn Kiệt đã vào sâu tận
nội thành Sài Gòn, chiều mùng Một Tết, ông đã có mặt ở một xóm nhỏ gần đình Bình
Đông, Quận Tám. Tiền phương của Sài Gòn cũng nhận được những lệnh liên tiếp tập
kích vào đô thị để “giành thắng lợi tối đa”. Những người trực tiếp ở chiến
trường như ông đã phải chứng kiến sự hy sinh quá lớn. Ông nói: “Lúc đó tôi đau
đến mức nhiều lần bật khóc”. Hơn 11 vạn quân giải phóng đã hy sinh trên toàn
chiến trường, còn thương vong của dân chúng thì không thể nào tính được. Phần
lớn căn cứ địa Quân Giải phóng ở nông thôn đã trở thành “đất trắng”. Chưa bao
giờ quân Giải phóng ở trong tình trạng như vậy, có những sỹ quan chỉ huy cấp sư
đoàn cũng chịu không nổi, phải ra đầu hàng chính quyền Sài Gòn. Ngày 9-2-1999,
khi nói chuyện với các tướng lĩnh làm Tổng kết chiến tranh, tướng Giáp nói: “Có
đồng chí chỉ huy gửi điện cho tôi nói rõ tình hình bộ đội tan tác, ẩn nấp trong
rừng mặn ngập nước ở phía Đông Nam Sài Gòn, tướng không chỉ huy được quân nữa. Ở
Huế, anh Trần Văn Quang gửi tôi một bức điện dài 16 trang, xin rút. Tôi đồng ý
và viết điện trả lời. Sáng hôm sau giao ban thấy bức điện vẫn để nguyên trên
bàn, tôi hỏi tại sao chưa gửi thì anh Văn Tiến Dũng trả lời: ‘Việc này hệ trọng
phải đem ra bàn bạc trong tập thể Quân uỷ đã, mình anh quyết định sao được’. May
mà lúc đó ở dưới, anh em đã rút. Đồng chí Tư Chu, chỉ huy Biệt Động Sài Gòn,
cũng có kể cho tôi nghe thực cảnh bộ đội sau năm 1968. Thiệt hại to lớn quá. Giá
đắt quá! Về Huế thì anh Đặng Kinh, khi ấy là phó tư lệnh Mặt trận, biết quá rõ.
Sau này anh ấy ra Bộ báo cáo và để lại nhiều tài liệu quan trọng. Những băn
khoăn về Mậu Thân còn dai dẳng, thời gian cũng không thể che lấp được. Lịch sử
đang đợi những người còn sống phải làm rõ, nhất là những người có chức, có
quyền”.

(242) Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 47

(243) Sách đã dẫn.

(244) Sách đã dẫn.

(245) Xem Phụ lục: Đánh & Đàm.

(246) Võ Nguyên Giáp, Tổng Hành dinh trong mùa xuân Đại thắng, Nhà Xuất bản
Chính trị Quốc gia 2000, trang 48-49.

(247) Sách đã dẫn, trang 54.

(248) Sách đã dẫn, trang 55.

(249) Sách đã dẫn, trang 55.

(250) Sách đã dẫn, trang 55.

(251) Sách đã dẫn, trang 55.

(252) Mật danh của Khu IX.

(253) Các tướng lĩnh cho rằng Trần Quỳnh đã bịa đặt khi viết trong Hồi ký: “Mọi
việc quân sự, Lê Duẩn trực tiếp làm việc với Bộ tổng tham mưu, có khi làm việc
trực tiếp với Cục tác chiến. Nơi làm việc có khi là trong Bộ Quốc phòng, có khi
tại nhà riêng của Lê Duẩn, có khi tại khu nhà khách Trung ương Quảng Bá, có khi
là khu nghỉ mát Đồ Sơn. Sau đó anh em ở Bộ tham mưu, Cục tác chiến làm đề án
trình Quân uỷ, rồi Quân uỷ trình ra Bộ chính trị quyết định. Cách làm việc của
Lê Duẩn có tính cách gia đình, không biên bản không ghi âm. Lê Duẩn nói, anh em
ghi chép. Chính cách làm việc này để lại hậu quả là kẻ có dã tâm nhận ý kiến của
Lê Duẩn làm của mình”.

(254) Võ Nguyên Giáp, Tổng Hành dinh trong mùa xuân Đại thắng, Nhà Xuất bản
Chính trị Quốc gia 2000, trang 67.

(255) Trần Văn Trà, Hồi ký Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm, Nhà Xuất bản Văn
Nghệ TP HCM 1982.

(256) Henry Kissingger, Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang
493

(257) Quân lực Việt Nam Cộng hoà lúc đó ở trong tình trạng: “Không đủ để thay
thế các thiết bị hư hỏng hoặc mất mát; Giảm 50 phần trăm hiệu năng của số máy
bay đã hạ cánh thuộc 11 phi đội hàng đầu; Giảm 30 phần trăm sự hoạt động của các
tầu biển và 82 phần trăm đối với các tầu sông; Quân nhu y tế sẽ sử dụng hết vào
cuối tháng Năm năm 1975; Nhiên liệu cho lục quân sẽ cạn kiệt vào cuối tháng Tư
năm 1975; Vào cuối năm tài khoá 1975, Quân đội sẽ chỉ có một phần tư số dự trữ
đạn dược tối thiểu cần thiết để đối phó một cuộc tấn công lớn; Các máy bay và
thiết bị mặt đất không dùng đến sẽ bị hư hỏng nhanh chóng” (Henry Kissingger,
Ending the Vietnam War, Simon & Schuster, 2003, trang 496).

(258) Võ Nguyên Giáp, Tổng Hành dinh trong mùa Xuân Đại Thắng, Nhà Xuất bản
Chính trị Quốc gia 2000, trang 93.

(259) Võ Nguyên Giáp, Tổng Hành dinh trong Đại thắng Mùa Xuân, Nhà Xuất bản
Chinh trị Quốc gia 2000.

(260) Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2002, trang 664.

(261) Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2002, trang 665.

(262) Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2002, trang 666.

(263) Tiền thân là Mặt trận Quảng Đà, gồm Quân đoàn II, Quân đoàn IV, Sư 3 và
Quân khu V. Ngày 16-4-1975, lực lượng của “Cánh quân Duyên Hải” đã đánh vào Bộ
Tư lệnh Quân đoàn III Sài Gòn ở Phan Rang, bắt sống Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi
và Chuẩn tướng Không quân Phạm Ngọc Sang và lúc bấy giờ đã đánh vỡ tuyến phòng
thủ Sài Gòn từ xa, đưa một đạo quân gần bốn vạn người, cùng với 2.500 xe pháo
các loại trong đó có gần l00 xe tăng thiết giáp, 250 xe kéo pháo vào khu vực tập
kết. 264 Điện ngày 7-4-1975 của tướng Giáp gửi Lê Trọng Tấn:

“Mệnh lệnh

1- Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ từng
phút xốc tới mặt trận, giải phóng Miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng.

2- Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ.

Văn”.

(265) Trong cuốn Tổng tập Lê Duẩn, cả ông Lê Hữu Đức và bà Diệu Muội đều nhầm là
ngày 29-4-1975.

(266) Trong chiến tranh, Cục Tác chiến là cơ quan trực tiếp báo cáo tình hình
chiến trường và chuẩn bị các tài liệu, kể cả soạn thảo các nghị quyết cho Quân
uỷ và Bộ Chính trị, và các bức điện ký tên các nhân vật trong Bộ Chính trị. Theo
Trung tướng Cục Trưởng Tác chiến Lê Hữu Đức, trong suốt 55 ngày đêm của Chiến
dịch Hồ Chí Minh, chỉ có bức điện ngày 9-3-1975 là do chính tay ông Lê Duẩn
viết, “Tất cả những bức điện ký tên Anh Ba khác đều do cơ quan Tác chiến chúng
tôi dự thảo, anh duyệt và ký tên, cơ quan Tác chiến chuyển qua Cục Cơ yếu điện
đi”.

(267) Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 667.

(268) Cũng năm ấy, ông Phạm Hùng được cử thay thế Bộ trưởng Nội vụ Trần Quốc
Hoàn; Nguyễn Cơ Thạch chính thức làm Bộ trưởng Ngoại Giao thay thế Nguyễn Duy
Trinh; ông Tố Hữu được cử làm Phó Thủ tướng đặc trách kinh tế.

(269) Khi ấy là uỷ viên dự khuyết Bộ chính trị.

(270) “Vụ án Chống Đảng” mà Lê Đức Thọ tiến hành được trợ lý của Tổng bí thư Lê
Duẩn, ông Trần Quỳnh, kể: “Đặng Kim Giang khai, linh hồn của tổ chức là Võ
Nguyên Giáp. Họ liên lạc với Đại sứ Tchecbakov”. Đại sứ Tchecbakov được coi là
một “sĩ quan tình báo” của Liên Xô. Theo Trần Quỳnh thì đích thân Lê Đức Thọ và
Trần Quốc Hoàn đã báo cáo với Lê Duẩn về “vai trò của Võ Nguyên Giáp trong tổ
chức chống Đảng này”. Trần Quỳnh viết: “Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn đề nghị kỷ
luật những người cầm đầu: Khai trừ ra khỏi Đảng, cách chức, quản thúc một số,
nhưng cho hưởng nguyên các chế độ đãi ngộ… Riêng về Giáp kỷ luật được đề nghị là
khai trừ khỏi Bộ chính trị, Lê Duẩn không đồng ý. Lê Duẩn nói rằng chúng ta đang
cần đến sự giúp đỡ của Liên Xô trong công cuộc xây dựng Miền Bắc và nhất là
trong sự nghiệp giải phóng Miền Nam. Giáp là người của Liên Xô, nếu kỷ luật Giáp
sẽ động đến Liên Xô ảnh hưởng không nhỏ đến sự viện trợ của Liên Xô. Tôi đề nghị
cứ để Giáp ở lại trong Bộ chính trị. Ta sẽ có cách làm việc với Giáp làm cho sự
ở lại và có mặt của Giáp không gây ra những hậu quả có hại”.

(271) Chỉ có tờ Tổ quốc, cơ quan của Đảng Xã hội Việt Nam, vào dịp 7-5-1984 vẫn
phát hành một số đặc biệt nói về Điện Biên Phủ, trong đó ca ngợi tài năng và,
lần đầu tiên nói đến quyết định “kéo pháo ra” của tướng Giáp. Tuy tờ Tổ quốc là
của Đảng Xã hội, nhưng tổng biên tập, ông Hàm Châu vẫn là một đảng viên Đảng
Cộng sản Việt Nam, nên việc ca ngợi tướng Giáp đã khiến ông Hàm Châu bị Ban
Tuyên huấn của Đảng Cộng sản Việt Nam nhắc nhở. Theo ông Hàm Châu: Ông Phan
Quang, vụ trưởng báo chí của Ban Tuyên huấn Trung ương, gọi ông lên hỏi: “Vì sao
đã có chỉ thị không nhắc tên cá nhân anh Giáp mà Tổ quốc vẫn đưa?”. Chủ trương
không nhắc tên Võ Nguyên Giáp trong các bài kỷ niệm ba mươi năm chiến thắng Điện
Biên Phủ là một “chỉ thị miệng” chỉ được Lê Đức Thọ truyền đạt tới ba cơ quan
báo chí lớn: Nhân Dân, Quân đội Nhân dân và Thông tấn xã Việt Nam. Trong cuộc
gặp này, Lê Đức Thọ nói: “Từ nay đừng bao giờ nhắc đến tên cái ông tướng đội mũ
phớt nữa”. Ông Hàm Châu nói: “Thậm chí, Lê Đức Thọ còn định lấy ngày thành lập
đội du kích Bắc Sơn, 14-2-1941, thay vì ngày thành lập Đội tuyên truyền giải
phóng quân 22-12-1944 làm ngày thành lập quân đội”. Cho dù “chỉ thị miệng” này
ngay sau đó được các đồng nghiệp ở báo Nhân Dân, Quân đội Nhân dân truyền đi.
Nhưng, về lý thì không thể kỷ luật những người không nhận được lệnh này một cách
trực tiếp. Phan Quang chấp nhận giải trình của Hàm Châu. Ông Hàm Châu nói: “Thâm
tâm, chính Phan Quang cũng không đồng ý với chỉ thị của ông Lê Đức Thọ”.

(272) Nhân sinh nhật lần thứ 75 của Tổng bí thư Lê Duẩn, báo Nhân Dân số ra ngày
7-11-1982 đăng bài “Sáng tạo, một tấm gương lớn” của Thép Mới viết về cuộc đời
của Tổng bí thư Lê Duẩn. Sau khi nhắc đến Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Thép Mới coi
“Đề cương cách mạng miền Nam” như một loại sách “Bình Mỹ” mà Lê Duẩn đã “thai
nghén từ Biên bạch tới Sài Gòn” để sánh với sách “Bình Ngô” mà Nguyễn Trãi ngồi
ở “góc thành Nam, lều một gian” viết 600 năm trước. Dẫn lại một nhận xét về Lê
Duẩn của Hoài Thanh: “Mỗi lần anh phát biểu ý kiến, chúng ta đều thấy có gì mới
và sâu, soi sáng rất nhiều cho chúng ta”, Thép Mới viết: “Có sức nghĩ của những
con người là chỗ dựa cho mạch nghĩ của cả một thế hệ và là điểm tựa chắc chắn
cho cả mai đây”. Từ năm 1984, Ban Bí thư cử một nhóm viết tiểu sử và hồi ký cho
Tổng bí thư Lê Duẩn, nhóm gồm ba người: Thép Mới, Bùi Tín và Đống Ngạc, thư ký
riêng của Lê Duẩn. Nhóm được ông Lê Duẩn trực tiếp kể về mình tại nhà nghỉ Hồ
Tây hoặc tại Đồ Sơn. Cùng nghe có ông Hoàng Tùng, Bí thư Trung ương Đảng. Đến
buổi thứ 5 thì Bùi Tín xin rút. Loạt bài, Thời Thắng Mỹ (đăng 17 kỳ liên tiếp
mỗi tuần từ số báo Nhân Dân ra ngày 21-1-1985), về sau xuất hiện trên báo Nhân
Dân chỉ còn đứng tên Thép Mới.

(273) Trong phần nói về cuộc tập kết năm 1955, Thép Mới viết: “Đến giờ kéo neo
tàu chạy, anh Ba nắm tay anh Sáu (Lê Đức Thọ): ‘Anh ra thưa với Bác là tất cả
đồng bào, đồng chí trong này ngày đêm mong Bác sống lâu, mạnh khỏe. Anh cho tôi
gửi lời chào Bác, anh Trường Chinh và tất cả các anh ngoài đó. Tình hình này thì
dễ đến mười tám, hai mươi năm nữa, anh em ta mới lại gặp nhau”. Lịch sử Nam-Bắc
sau đó đã bị phân chia đúng 20 năm: 1955-1975 như… “tiên tri” của Lê Duẩn.

(274) Thép Mới, Thời Thắng Mỹ, đăng 17 kỳ liên tiếp mỗi tuần từ số báo Nhân Dân
ra ngày 21-1-1985.

(275) Thép Mới, sách đã dẫn.

Chương 16 

Ngày 28-4-1989, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch cùng với Bộ
trưởng Thương mại “hai nước anh em”, Lào và Campuchia, đến Bangkok dự Hội
thảo “Đông Dương: từ chiến trường chuyển sang thị trường”(276). Ở trong
nước, từ các nhà lãnh đạo vĩ mô, các trường đại học, cho đến từng cơ sở kinh
doanh, bắt đầu tìm kiếm tài liệu để chuẩn bị sự hiểu biết cho thời kỳ chuyển
đổi. Cho dù những trải nghiệm ban đầu bao gồm cả những đổ vỡ, nhưng những gì
mà kinh tế thị trường kiến tạo đã làm thay đổi đến từng ngóc ngách đời sống
và toàn bộ bộ mặt xã hội Việt Nam. Tái lập hoà bình

Người Thái, Malaysia và Singapore cũng đã từng có lợi ích khi cung cấp hậu
cần cho Chính phủ Liên hiệp 3 phái Campuchia chống Việt Nam. Tuy nhiên, một
Đông Dương đối đầu không phải là lựa chọn của các quốc gia lân cận. Không
chỉ có nguy cơ chiến sự, từ cuối thập niên 1970, người tị nạn Việt Nam tràn
ngập Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines…

Ông Võ Văn Kiệt kể: “Năm 1987, khi tôi thăm chính thức Malaysia(277), Thủ
tướng Mahathir đã tiếp với thái độ rất giận dữ. Ba lần ông lớn tiếng khẩn
thiết đề nghị Việt Nam phải giải quyết dứt điểm vấn đề người tị nạn. Tôi đợi
ông dứt lời rồi nói rằng chúng tôi cũng đau lắm. Chúng tôi chiến đấu với
niềm tin là để giành độc lập. Khi chiến tranh kết thúc, có độc lập, mà người
Việt không thể ngồi lại với nhau, người Việt vẫn bỏ nước ra đi, thì nỗi đau
ấy còn ghê gớm hơn sự chia rẽ của chiến tranh”.

Khi ấy, đang có 282.000 thuyền nhân Việt Nam ở Malaysia nơi tổ chức cộng sản
chịu ảnh hưởng của Bắc Kinh đang làm loạn. Đại sứ Việt Nam tại Indonesia và
Malaysia, ông Trần Huy Chương, thừa nhận: “Chính quyền Malaysia lo sợ cộng
sản Việt Nam trà trộn trong những người Việt tị nạn móc nối với lực lượng
cộng sản theo Mao đang hoạt động trên đất nước họ”.

Tháng 2-1990, khi đến Davos, Thuỵ Sỹ, dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới, ông Kiệt
ngạc nhiên thấy sự phồn vinh của một quốc gia phương Tây. Ông thừa nhận,
trước đây khi đến Liên Xô và các nước Đông Âu, thấy sự phát triển của họ,
ông đã tưởng như đó là ước mơ của mình. Nhưng Thuỵ Sỹ so với Đông Âu hay
Liên Xô mà ông biết chỉ là một trời, một vực. Ông hỏi người phiên dịch, bà
Tôn Nữ Thị Ninh: “Điều gì giúp họ giàu có thế?”. Bà Ninh nói: “Thưa anh, đấy
là ân huệ của hoà bình”.

Năm 1991, các nhà lãnh đạo mới của Việt Nam như Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn
Kiệt đều thống nhất với nhau, cho dù quá khứ thế nào thì Việt Nam vẫn phải
làm bạn với ASEAN. Ngày 28-10-1991, trong cuộc hội đàm tại Bangkok với Thủ
tướng Thái Lan Anand Panyarachun, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt
hoàn toàn chia sẻ với người Thái ý tưởng “biến Đông Dương thành một thị
trường”(278). Khi Đông Dương vẫn còn là một chiến trường thì không chỉ có
Việt Nam mà các quốc gia lân bang cũng không thể nào hưởng “ân huệ hoà bình”
trọn vẹn.

Trong khi Hà Nội có nhiều nỗ lực để bình thường hoá quan hệ với các quốc
gia, nhiều tổ chức, cá nhân cũng tích cực nhắc nhở Hà Nội và cộng đồng quốc
tế quan tâm tới số phận của những quan chức Việt Nam Cộng hoà đang bị cải
tạo trong các trại. Năm 1977, ở Mỹ, bà Khúc Minh Thơ lập “Hội Gia đình tù
chính trị Việt Nam”. Chồng bà Thơ, Đại tá Nguyễn Văn Bê, lúc ấy đang ở trong
trại cải tạo. Hội của bà Thơ đã vận động giới lập pháp, hành pháp Hoa Kỳ,
vận động Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc và cả Đức Giáo hoàng, gây sức ép để Việt
Nam thả chồng con của họ. Số phận những người đã từng làm việc cho đồng minh
Mỹ ở Sài Gòn bắt đầu được mặc cả trên bàn đàm phán(279).

Tại một cuộc họp của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tướng
Nguyễn Hữu Hạnh đã đưa vấn đề giam giữ quá lâu những người một thời là đồng
đội của ông ra chất vấn. Theo tướng Hạnh thì Chủ tịch Mặt trận lúc ấy là ông
Nguyễn Hữu Thọ, sau đó đã gặp riêng, đề nghị ông chuyển ý kiến “phát biểu
miệng” ấy thành một tham luận đọc trong Đại hội lần thứ III của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, diễn ra tại Hà Nội năm 1988.

Cho dù được Cách mạng “móc nối” rất sớm, tướng Hạnh đã khôn ngoan né tránh
việc “ra bưng làm ngọn cờ” khi mà cuộc chiến chưa ngã ngũ. Vào ngày
27-4-1975, Sài Gòn đã bị bao vây bởi “năm cánh quân”, ông mới vội vã lên Sài
Gòn làm điều mà ông tự mô tả là tác động để Tổng thống Dương Văn Minh sớm đi
đến quyết định đầu hàng. Năm 1975, trong khi, biết bao sỹ quan, binh lính
Sài Gòn phải đi cải tạo, phải mất vợ, mất nhà, ông Hạnh được Chính quyền mới
cấp cho một căn biệt thự ở quận Nhất, thay thế căn nhà của ông ở Thủ Đức đã
bị “Cách mạng 30-4 tiếp quản”. Được lời của ông Nguyễn Hữu Thọ, tướng Nguyễn
Hữu Hạnh lại “chớp thời cơ”, ghi chút ít công lao với những đồng đội cũ.

Sau khi cho rằng “nhiệm vụ Đại đoàn kết toàn dân để xây dựng đất nước là một
vấn đề bức thiết”, tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhắc lại sự kiện ngày 2-5-1975, tại
dinh Độc Lập, Thượng tướng Trần Văn Trà nói với ông Dương Văn Minh: “Giữa
chúng ta không có kẻ thắng người thua chỉ có dân tộc Việt Nam thắng Mỹ”.
Theo tướng Hạnh, các gia đình miền Nam nghe “câu nói hết sức thâm tình” ấy
đã “động viên chồng con đi trình diện học tập”. Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nói
tiếp: “Trong những ngày sau đó, Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát với danh nghĩa Thủ
tướng Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã phổ biến
một văn kiện trong đó qui định thời gian đi học tập, lâu nhất là ba năm. Các
trại cải tạo đã cho học tập văn kiện này và anh em vui mừng đón nhận
nó”(280). Nhưng, đến năm 1989, nhiều tướng lĩnh, sỹ quan, viên chức Việt Nam
Cộng hoà vẫn còn bị Chính quyền giam giữ.

Tháng 1-1989, sau nhiều năm yêu cầu, lần đầu tiên Hội Chữ thập đỏ Quốc tế
được gửi quà từ Mỹ tới các trại giam ở Việt Nam. Tháng 4-1989, một phái đoàn
ngoại giao Mỹ đã đến Hà Nội thảo luận về vấn đề ODP, vấn đề “Con lai” và “Tù
cải tạo”. Ngày 30-7-1989, tại Hà Nội, Phụ tá Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ,
Robert Funseth, và Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Vũ Khoan ký thoả hiệp về
việc “Định cư tại Mỹ những người tù cải tạo”.

Cũng trong thời gian ấy, ở Sài Gòn, dọc theo đường Lê Duẩn, đặc biệt là phần
công viên kéo dài từ Nhà thờ Đức Bà tới Dinh Độc Lập, tràn ngập những người
vừa từ các trại cải tạo trở về mà chưa biết làm gì. Họ đứng đó để hóng hớt
chút ít thông tin rò rỉ ra từ Sở Ngoại vụ về các chương trình đi định cư ở
Mỹ.

Ngày 13-1-1990, 55 người Việt đầu tiên được xuất cảnh theo chương trình HO.
Tới cuối năm 1992, khoảng 380.000 người Việt Nam đã đến Mỹ bằng đường hàng
không theo diện HO, ODP, RD và theo diện con lai Mỹ. Trước năm 1975, cộng
đồng Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 200.000 người, trong đó, khoảng 40.000 
người do người Pháp đưa đi kể từ Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Ở thời
điểm 30-4-1975, gần 140.000 người được đưa tới Mỹ; 52.000 người khác được
đưa sang Pháp; 7.000 người tới Canada; 2.700 người tới Úc… Cộng đồng người
Việt, những năm sau đó đã tăng lên con số triệu, chủ yếu rời Việt Nam bằng
vượt biên.

Trong khi, nhiều người trong nước vẫn mong mỏi thoát ra, nhất là gia đình
của những người vừa được tha từ các trại cải tạo, thì sự trở về thăm quê của
hàng nghìn Việt kiều cũng có thể coi như những chỉ dấu hoà bình.

Tết Kỷ Tỵ 1989, có hơn 5.000 Việt kiều về Việt Nam. Việt kiều về quê làm cho
lượng khách quốc tế tăng đột biến đến mức nhiều người phải đợi hết tháng
3-1989 mới có vé máy bay đi từ Tân Sơn Nhất. Sáu tháng đầu năm 1989, con số
Việt kiều về nước lên tới 7.500 người, bằng cả năm 1988. Một nửa số đó về
Việt Nam từ Mỹ.

Trong Bộ Luật hình sự được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 1985, hành vi
vượt biên và tổ chức vượt biên bị xếp vào hàng “các tội xâm phạm an ninh
quốc gia”, thậm chí có thể bị coi là “chống lại chính quyền nhân dân”. Năm
1989, cũng những người Việt ấy từ Mỹ, từ Úc trở về được coi là “Việt kiều
yêu nước”.

Một trong số đó là ông Nguyễn Thanh Hoàng, người vượt biên năm 1980 khi đang
làm cho Bộ Xây dựng. Năm 1989, vài người bạn của ông lúc bấy giờ đã là quan
chức trong Bộ sang Úc công tác khuyên ông về. Ông Hoàng nói: “Năm 1990, tôi
quyết định về thăm nhà. Khi đó, tôi vẫn còn nhiều mặc cảm, không ngờ ở sân
bay, những người bạn của tôi, giờ đó đang giữ những chức vụ quan trọng trong
chính quyền đưa xe ra tận sân bay đón”.

Ở nhiều địa phương, trong khi ngoài cửa sông, công an vẫn vây bắt vượt biên,
trong trụ sở hoặc trong nhà hàng, chính quyền làm tiệc đãi “Việt kiều yêu
nước”. Không cần rút ra những tờ đôla xanh, hình ảnh những Việt kiều ăn mặc
bảnh bao, hồng hào, trở nên nổi bật giữa những người Việt đồng hương ốm yếu,
xanh xao và ít nhiều mặc cảm. Trước “nhân tình, thế thái” ấy, dân gian có
thơ rằng:

“Việt Minh, Việt Cộng, Việt kiều,

trong ba Việt ấy, Đảng yêu Việt nào

Việt Minh tuổi đã hơi cao

Việt Cộng ốm yếu xanh xao, gầy mòn

Việt kiều như gái còn son

Đảng yêu đảng quý như con trong nhà…”(281).

Không chỉ cụng ly với những người vượt biên, con gái Thượng tướng Trần Văn
Trà, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, chị Nguyễn Xuân Hồng, đã kết hôn với
một người vượt biên, anh Nguyễn Thanh Hoàng vào cuối năm 1991.

Nguyễn Thanh Hoàng là người vượt biên đến Úc năm 1980. Không như hàng ngàn
Việt kiều khác chỉ trở lại thăm quê rồi đi, Nguyễn Thanh Hoàng đã mang về
các nhà đầu tư người Úc. Luật Đầu tư nước ngoài được Quốc hội thông qua từ
tháng 12-1987, nhưng gần như rất ít được chú ý trong những năm cuối thập
niên 1980. Phải đến khi những chính sách đổi mới được trình bày rõ ràng hơn
và phải đến khi những người vượt biên dám trở về, đầu tư nước ngoài mới bắt
đầu khởi động.

Một cải cách về thủ tục visa do Bộ Nội vụ chủ trương lúc đó cũng đã thúc đẩy
nhanh thêm tiến trình mở cửa của Việt Nam. Cho tới năm 1988, một người Việt
Nam muốn đi xuất cảnh, phải trải qua một quy trình xin phép: nộp hồ sơ, đơn
xin ở xã, phường; đợi xã, phường đưa lên quận, huyện; chờ quận, huyện chuyển
lên công an tỉnh, thành; tỉnh, thành chuyển lên Tổng cục An ninh; Tổng cục
An ninh phải trình lãnh đạo Bộ. Qua rất nhiều thủ tục và không thể biết rõ
mất bao nhiều thời gian, người ra đi mòn mỏi chờ thủ tục.

Công an và những người làm các dịch vụ liên quan như du lịch, hàng không
giàu lên nhờ sự nhờ vả và đặc biệt, nhờ biết trước các đối tượng được phép
xuất cảnh để từ đó mua lại nhà của họ với giá bán đổ, bán tháo. Trong khi
đó, người nước ngoài và Việt kiều từ các nước không có cơ quan ngoại giao
Việt Nam muốn về nước phải nằm chờ ở Thái Lan xin visa. Các quan chức cấp
visa ở Bangkok trở nên hết sức quan cách trong giai đoạn này và đặc biệt,
ngành du lịch Thái giàu lên nhờ một lượng lớn Việt kiều phải nằm chờ quá lâu
ở Bangkok.

Ông Võ Viết Thanh nói: “Tôi nghĩ, tại sao Bộ Nội vụ lại mất công đi thẩm tra
lý lịch, xét duyệt những người muốn đi xuất cảnh. Nếu đó là những người
chống đối thì việc họ ở lại Việt Nam lại khiến cho mình khó xử hơn là để họ
đi ra nước ngoài”. Ông Thanh gặp Bộ trưởng Mai Chí Thọ đề nghị: Ai muốn xuất
cảnh thì cho họ làm hộ chiếu phổ thông và tự liên hệ xin visa. Nếu họ đến
những quốc gia chưa có quan hệ ngoại giao thì Bộ Nội vụ và Ngoại giao sẽ tổ
chức các trung tâm dịch vụ xuất nhập cảnh để xin visa cho họ. Với những
người đến Việt Nam từ các nước chưa có cơ quan lãnh sự Việt Nam cũng sẽ được
xin visa tại các sân bay quốc tế. Bộ trưởng Mai Chí Thọ gật đầu.

Ông Võ Văn Kiệt đồng ý ngay. Ông Kiệt khi ấy đang tạm Quyền Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng đề nghị ông Thanh trao đổi thêm với Phó Chủ tịch kiêm Bộ
trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch. Ông Thạch nghe ông Thanh trình bày thì
thở phào: “Tôi làm ngoại giao đã lâu mà chưa bao giờ nhận được một đề nghị
mở ra như thế này từ phía An ninh”.

Từ giữa năm 1988, những người nằm trong diện được bảo lãnh hoặc được ra đi
theo các chương trình HO, ODP… bắt đầu được làm passport. Những người đến
Việt Nam không còn phải chờ đợi ở Bangkok vì lý do xin visa nữa. Ngành Công
an cũng thu rất lớn từ dịch vụ này: 20% để lại cho Bộ, 80% nguồn thu nộp vào
ngân sách.

Nhưng, ông Võ Viết Thanh nói: “Cục II báo cáo Bộ Chính trị: cấp hộ chiếu phổ
thông và cấp visa tại phi trường là một mắt xích nằm trong kế hoạch diễn
biến hoà bình của Mỹ”. Chánh Văn phòng Trung ương Hồng Hà gọi ông Võ Viết
Thanh lên nói: “Đồng chí Tổng bí thư được nghe báo cáo, chủ trương của Bộ
Công an mà anh chỉ đạo cho nhập cảnh tại phi trường và ồ ạt cấp hộ chiếu phổ
thông, trong đó có những đối tượng chính trị không tốt. Anh về báo cáo lại
với lãnh đạo Bộ, cân nhắc ý kiến của đồng chí Tổng bí thư”. Ông Võ Viết
Thanh trả lời: “Đây chỉ là đối sách chứ không phải chính sách nên chúng tôi
đã không muốn làm phiền Ban Bí thư. Vì Bộ đã ra văn bản thi hành nên nếu
Tổng bí thư chỉ thị phải đình chỉ thì xin Văn phòng ra văn bản, chúng tôi sẽ
chấp hành”. Ông Hồng Hà không nói gì. Ông Thanh nói: “Tôi về không báo lại
cho lãnh đạo Bộ vì báo cáo chắc chắn lại có nhiều ý kiến rắc rối. Chờ, cũng
không thấy Văn phòng Trung ương ra văn bản”. Lạm phát và Nước hoa Thanh
Hương

Ở Sài Gòn, kể từ năm 1987, hàng loạt cơ sở sản xuất kinh doanh bắt đầu lặng
lẽ bung ra, những dịch vụ từng bị coi là “tàn dư của Mỹ-Nguỵ” như vũ trường
Maxim, Qeenbee, Liberty… cũng được làm ăn trở lại. Liền theo đó, các quán
“bia ôm”, “xông hơi, xoa bóp” mà báo chí nói là “mãi dâm trá hình”, lần lượt
mọc lên. Sự hăm hở trở lại làm ăn của người dân đã làm thay đổi bộ mặt đất
nước, đồng thời cũng làm xuất hiện những vấn đề mà báo chí gọi là “mặt trái
của kinh tế thị trường”. Mặt trái cụ thể nhất mà người dân phải đối diện
trong giai đoạn này là những vụ đổ bể tín dụng và huê hụi.

Nền kinh tế lúc ấy vẫn tiếp tục rơi xuống đáy, “giá-lương-tiền” vẫn là “nỗi
hoảng sợ hàng ngày” của người dân trong khi Chính phủ chỉ lấy phát hành tiền
là giải pháp cứu nền kinh tế. Bất đồng ý kiến vẫn diễn ra gay gắt giữa các
chuyên gia chống lạm phát, giữa những người ủng hộ khuynh hướng thị trường
và những người sợ hãi trước lạm phát, muốn quay lại thời quan liêu bao cấp.

Năm ấy nạn đói xảy ra. Báo cáo của Bộ trưởng Thương mại Hoàng Minh Thắng cho
thấy, tuy sản lượng lương thực có giảm, nhưng ở nhiều tỉnh miền Nam, lúa gạo
vẫn dư thừa, vấn đề là từ Nam ra Bắc khi ấy đang có hơn tám mươi trạm kiểm
soát liên tỉnh được ba mươi tám tỉnh, thành phố lập nên trên các tuyến giáp
ranh. Không chỉ ngăn cản lương thực lưu thông, các trạm kiểm soát được thiết
lập ở khắp nơi, các rào chắn được lập nên để chặn từng con gà đưa từ làng
này sang làng khác.

Tiến sỹ Nguyễn Văn Nam, trợ lý của ông Đỗ Mười, nhớ lại: “Người dân không có
quyền đưa một cái phích nước từ Hà Nội xuống Hải Dương”. Theo Bộ trưởng Lê
Văn Triết, câu chuyện “ông Đỗ Mười bị trạm Tân Hương, Tiền Giang thu mười ký
gạo mang theo trên xe” đã được đưa ra nói trong các cuộc họp của Hội đồng Bộ
trưởng. Trong một phiên họp có ông Đỗ Mười dự, theo ông Triết, ông Võ Văn
Kiệt kể câu chuyện: Một bà mẹ miền Tây đưa thịt heo lên cho con đang sống ở
Sài Gòn. Để tránh ngăn sông cấm chợ, thay vì đưa thịt tươi, bà đã phải kho.
Vậy mà nồi thịt kho của bà mẹ vẫn bị chặn lại. Tức quá, bà đập nồi ngay giữa
đường rồi la lên: “Tụi bây ăn đi”. Những câu chuyện có thật này đã thuyết
phục Phạm Hùng, Đỗ Mười và Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Ngày 11-3-1987, Phó
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt ký Quyết định “Bãi bỏ các trạm kiểm
soát trên tất cả các tuyến giao thông trong nước”(282).

Hội nghị Trung ương 2, khoá VI, ủng hộ xoá tình trạng “ngăn sông, cấm chợ”,
tuy nhiên, theo Giáo sư Đào Xuân Sâm, lại “tiêu biểu cho một bước lùi về
quan điểm so với Đại hội Đảng lần thứ VI”. Mặc dù, ngày 1-4-1987, khi khai
mạc Hội nghị Trung ương 2, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã chỉ trích những
người bảo vệ quan liêu bao cấp: “Họ chỉ biết huênh hoang nói những điều cao
xa, lý thuyết trừu tượng về cách mạng, về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, nhưng
không thể bắt tay giải quyết được một công việc thực tế cụ thể nào cho ra
hồn”. Nhưng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, bế mạc vào ngày 9-4-1987, vẫn
“lấy kế hoạch hoá làm trung tâm”. Khi ấy, vừa cháy kho hàng dự trữ ở Hải
Phòng, nhu yếu phẩm khan hiếm, quan điểm kiểm soát thật chặt lại càng xuất
hiện. Cho dù Hội nghị Trung ương 2 đề ra “mục tiêu bốn giảm: giảm bội chi
ngân sách, giảm tốc độ tăng giá, giảm lạm phát, giảm khó khăn đời sống”,
trên thực tế đã trở thành “bốn tăng”.

Ngày 17-5-1987, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thăm Liên Xô. Sau chuyến đi này,
ngày 18-6-1987, Ban Bí thư có Chỉ thị 08, đặt vấn đề: “Hợp tác quốc tế về
kinh tế, nhất là với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, để có thêm
điều kiện góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế cấp bách”. Sau đó, đoàn
chuyên gia cao cấp của Liên Xô về chống lạm phát, theo lời mời của Bộ Chính
trị Việt Nam, đến Hà Nội; trưởng đoàn là Thứ trưởng Bộ Tài chính Liên Xô
Orlov.

Cuối năm 1988, Bộ Chính trị tổ chức một cuộc họp để nghe nhóm nghiên cứu
trong nước và nhóm của chuyên gia Liên Xô trình bày phương án của mình. Theo
Giáo sư Đào Xuân Sâm, các chuyên gia Liên Xô, đứng đầu là Orlov, đã yêu cầu
phải “xiết lại kỷ cương giá, phát hành đồng tiền có bản vị và thu mua phân
phối thống nhất” - tức là tái lập cơ chế bao cấp. Orlov cảnh báo rằng: “Thả
nổi giá theo cơ chế thị trường là rất nguy hiểm cho chủ nghĩa xã hội”.

Nhưng, phương án của các chuyên gia Liên Xô yêu cầu phải có 500 triệu Rub
hoặc USD để thu mua hàng hoá, trong khi toàn bộ ngân quỹ của Việt Nam vào
thời điểm 1987-1988 chỉ còn khoảng 20 triệu đôla. Ông Giá kể: “Khi mời
Orlov, ta cũng hy vọng có thể kéo theo được nguồn lực của Liên Xô, kể cả
việc nhờ họ in tiền giùm. Nhưng, khi chúng tôi sang đấy để nhờ in một lượng
tiền giấy mệnh giá 50 và 100 nghìn đồng nhằm phòng khi chống lạm phát thất
bại thì có sẵn tiền mệnh giá lớn lưu hành, họ lại bảo chúng tao in tiền cho
mình còn không kịp”. Theo Giáo sư Đào Xuân Sâm: “May mắn cho Việt Nam là
chính Liên Xô đã từ chối viện trợ khoản tiền mà họ nói là cần thiết để chống
lạm phát, nếu không rất có thể Việt Nam đã quay lại với thời kỳ quan liêu
bao cấp”.

“Chân tường” chứ không phải “lý luận về chủ nghĩa xã hội” quyết định sự lựa
chọn lối thoát cho nền kinh tế. Ý kiến của các chuyên gia Việt Nam bắt đầu
được lắng nghe. Cùng với lực lượng hùng hậu các chuyên gia từ Viện Quản lý
Kinh tế Trung ương, Uỷ ban Vật giá, Ngân hàng Nhà nước và các bộ đã được tập
hợp từ trước đó, Hội đồng Bộ trưởng còn nghe các phương án được nhóm các
chuyên gia Việt kiều, đứng đầu là Tiến sỹ Vũ Quang Việt, do Bộ trưởng Ngoại
giao Nguyễn Cơ Thạch mời. “Nhóm thứ Sáu”, do ông Võ Văn Kiệt mời, gồm các
chuyên gia và quan chức từng làm việc tại Sài Gòn trước ngày 30-4-1975 như
Huỳnh Bửu Sơn, Lâm Võ Hoàng, Trần Bá Tước, Trần Trọng Thức, Phan Tường Vân,
Phan Chánh Dưỡng… Quan điểm chống lạm phát bằng “thị trường hoá, xoá định
lượng” được nhóm của Tiến sỹ Vũ Quang Việt đưa ra và được ông Nguyễn Cơ
Thạch, Võ Văn Kiệt bảo vệ một cách kiên định. Tuy nhiên, người đóng vai trò
quyết định trong việc lựa chọn giải pháp chống lạm phát vào đầu năm 1989 là
ông Đỗ Mười.

Theo ông Trần Xuân Giá: “Khi còn làm thường trực Ban Bí thư, ông Đỗ Mười đã
lắng nghe các chuyên gia. Tháng 6-1988, ngay sau khi được bầu làm chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng, ông triệu tập tôi, Phan Diễn, lúc đó là phó Văn phòng
Hội đồng Bộ trưởng, Hồ Tế, thứ trưởng Bộ Tài chính trực tiếp làm việc cạnh
ông như một nhóm đặc nhiệm. Chống lạm phát là một quá trình chuẩn bị lâu
dài, chúng tôi được cử đi nhiều nước, gặp nhiều tổ chức quốc tế để tham khảo
ý kiến. Thực ra, lúc đầu cũng muốn dựa vào Liên Xô. Nhưng, chuyên gia Orlov
lúc ấy cũng nói: Liên Xô chỉ có kinh nghiệp chống lạm phát từ thập niên
1920, khi Lenin còn sống”.

Sau khi nhận ra không còn có thể trông cậy vào Liên Xô, Việt Nam bắt đầu tìm
kiếm sự giúp đỡ từ các nước phương Tây và các tổ chức như Ngân hàng Thế
giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Nhưng, theo ông Trần Xuân Giá: “Cũng không thể
học phương Tây vì giải pháp mà họ đưa ra không có cách nào thực hiện được.
Người Đức đề nghị phải phá giá đồng Việt Nam từ 2.800 đồng/USD xuống còn
20.000 đồng/USD. Giải pháp của Ngân hàng Thế giới cũng đề nghị phá giá tới
16.000 đồng/USD. Để thực hiện theo các phương án này cần có năm tỷ USD trong
khi ngân sách quốc gia gần như trống rỗng”. Tình thế bắt buộc phải tự dựa
vào chính bản thân mình.

Một trong những chuyên gia chống lạm phát giai đoạn này, Tiến sỹ Nguyễn Văn
Nam, kể: “Ông Đỗ Mười là con người hành động, khi đó ông chưa chú ý lắm tới
lý luận. Nhờ thế, ông vượt qua mặc cảm khi chọn một phương án bị chỉ trích
là không chủ nghĩa xã hội. Ông Mười cũng tập hợp các chuyên gia, ông nói với
chúng tôi: ‘Thôi nhé, nghe quan chức mãi rồi mà không có lối ra, các anh mời
cho tôi các nhà khoa học’. Một nhóm hai mươi người gồm Chế Viết Tấn, Trần
Đức Nguyên, Đào Xuân Sâm, Võ Đại Lược, Hà Nghiệp, Lê Đức Thuý, Nguyễn Văn
Nam… được hình thành. Ông ngồi hai ngày với chúng tôi. Chúng tôi thì nhất
quyết thuyết phục ông rằng giải pháp để chống lạm phát mà các chuyên gia
Việt Nam đưa ra là dựa trên chính sách kinh tế mới của Lenin. Đã là của
Lenin thì ông Đỗ Mười tin tưởng”. Theo ông Trần Xuân Giá, những ngày ấy đi
đâu ông Đỗ Mười cũng nói đi nói lại: “Lạm phát, nói nôm na một câu là in
tiền nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế”. Rồi ông giải thích: “Tôi già
rồi, vừa làm vừa học, phải nói ra miệng thì mới nhớ được”.

Trên cơ sở nghiên cứu của các chuyên gia Việt Nam, một phương án đã được
chấp bút bởi ông Lê Đức Thuý, theo đó: Đình chỉ in tiền, các ngân hàng bắt
đầu phải vay lấy mà cho vay, ngân sách phải thu lấy mà chi chứ không còn dựa
vào việc phát hành tiền nữa. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm được nâng lên 12%
theo lý thuyết “cưỡi sóng”, cao hơn mức lạm phát 10-11%/ tháng. Nâng giá
đôla bằng thị trường tự do 5.000 đồng/USD. Cho kinh doanh vàng bạc tự do.
Tháo khoán cho hàng phi mậu dịch, người Việt Nam đi nước ngoài được mang
hàng về thoải mái (trước đó mỗi người chỉ được mang một tủ lạnh, hai nồi áp
suất, hai bàn là…). Phương án này không dễ tìm được sự đồng tình, ngay cả
với một người trong nhóm đặc nhiệm là ông Trần Xuân Giá.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Văn Nam: “Ông Thuý mang phương án này sang trình bày bên
Vật giá, Ngân hàng, liền bị hai cơ quan này phản đối. Ông Võ Đại Lược sang
trình bày bên Bộ Tài chính, cũng bị các chuyên gia bên Bộ Tài chính cười
nhạo. Đưa ra Hội nghị Trung ương, ông Nguyễn Văn Linh không ủng hộ “nghị
quyết hoá”. Hà Nghiệp dự thảo một nghị quyết khác để Bộ Chính trị thông qua,
ông Linh cũng bảo không cần. Nhưng ông Đỗ Mười vẫn quyết định. Đầu tiên, ông
cho làm thí điểm ở Hải Phòng. Thí điểm thành công, ngày 16-3-1989, mới công
bố cho áp dụng trên cả nước”.

Ngày 20-3-1989, Trung ương Đảng họp kỳ thứ 6 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trung ương đồng ý với cơ chế một giá nhưng vẫn dè dặt đòi để Nhà nước định
giá những vật tư quan trọng. Ba tháng sau, lạm phát giảm thấy rõ: ngày
1-6-1989, Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất có kỳ hạn ba tháng từ 12% xuống còn
9%; ngày 1-7-1989, hạ tiếp còn 7%/ tháng; lạm phát những tháng cuối năm 1989 
chỉ còn 2,4%/tháng. Ngày 30-6-1989, trong phiên họp bế mạc Kỳ họp thứ 5,
Quốc hội khoá VIII thông qua Nghị quyết: “Nhất trí xoá bỏ quan liêu bao cấp,
không vì khó khăn mà quay lại cơ chế cũ”.

Cũng trong thời gian ấy, tác dụng nhanh chóng của chính sách “Khoán 10”
trong nông nghiệp, làm cho nông dân phấn khởi, lương thực thực phẩm bắt đầu
có dư thừa cũng đã giúp cho Hội đồng Bộ trưởng và ông Đỗ Mười tự tin hơn khi
quyết định xoá bao cấp và cho tự do lưu thông để chống lạm phát.

Nguyên tắc lãi suất huy động vốn cao hơn tỷ lệ mất giá của đồng bạc đã giúp
Chính phủ chống lạm phát thành công. Nhưng, các nhà doanh nghiệp khó có thể
kiếm lời trên 12% để trả lãi cho ngân hàng hằng tháng. Hàng chục hợp tác xã
tín dụng, hàng trăm tổ hợp sản xuất, hàng nghìn xí nghiệp đã vỡ nợ vì huy
động vốn với lãi suất cao theo lý thuyết “cưỡi sóng” của các chuyên gia.
Trong đó có hãng nước hoa Thanh Hương của “nhà tỷ phú trẻ” Nguyễn Văn Mười
Hai, Andaco của Huỳnh Là, Xacogiva của Phạm Công Tước…

Nguyễn Văn Mười Hai, sinh năm 1960, bắt đầu sản xuất xà bông từ năm 1985 
bằng nguồn vốn 6 cây vàng góp từ những người trong gia đình. Năm 1988, sau
khi Hội đồng Bộ trưởng có Nghị định 27 và 28 cho phép các nhà sản xuất được
huy động vốn trong dân, Nguyễn Văn Mười Hai cho thành lập “tổ hợp sản xuất
nước hoa Thanh Hương” rồi nhận tiền gửi rộng rãi với lãi suất có khi lên tới
15% /tháng. Mức lãi cao này đã khiến cho “hãng nước hoa Thanh Hương”, tên
gọi từ khi cơ sở này bắt đầu quảng cáo huy động vốn, bị mất cân đối nghiêm
trọng.

Tính đến ngày 20-1-1989, tổng số huy động vốn của “hãng nước hoa Thanh
Hương” là 5,2 tỷ đồng, trong khi số lãi phải trả lên đến 5,4 tỷ. Thay vì
thừa nhận tình trạng phá sản, “nhà tỷ phú trẻ” này đã đẩy nhanh nhịp độ huy
động vốn rồi “lấy tiền của người gửi sau trả lãi cho người gửi trước”. Từ
20-1-1989 tới 17-1-1990, Thanh Hương đã huy động thêm 90 tỷ. Trước tháng
1-1990, mỗi tháng, Thanh Hương chỉ bán được một lượng sản phẩm trị giá 30 
triệu đồng, trong khi có ngày, lãi suất thực trả cho người gửi tiền lên tới
hơn 800 triệu.

Ngày 10-3-1990, khi khám nhà, “bắt khẩn cấp” Nguyễn Văn Mười Hai, công an
phát hiện một lượng tiền mặt lên tới 15,5 tỷ đồng, một lượng vàng thoi nặng
149,88 ký; ngoài ra, Mười Hai còn có 18 căn nhà và 20 chiếc xe hơi, trong đó
có những chiếc Mercedes mà ở Việt Nam chưa ai từng có. Khối tài sản trên đây
không phải có được nhờ bán nước hoa Thanh Hương. Số tiền Nguyễn Văn Mười Hai
“huy động” từ 160 nghìn người lên đến 154,7 tỷ đồng, tương đương với 77 
nghìn lượng vàng tính theo giá năm 1990, trong khi tổng số nước hoa Thanh
Hương mà Nguyễn Văn Mười Hai bán được chỉ là 1,193 tỷ.

Nhưng con số không nói hết những bi kịch nạn nhân của Nguyễn Văn Mười Hai.
Với lãi suất hằng tháng từ 12 đến 14% cộng thêm 1% trả bằng nước hoa, trong
khi lãi suất cao nhất của ngân hàng, từ ngày 1-7-1989 chỉ còn 7%, Thanh
Hương đã khiến cho nhiều người mang tiền đến gửi như “thiêu thân”. Một số cơ
quan nhà nước thì mang công quỹ, nhiều cán bộ hưu trí thì mang hết tiền tiết
kiệm trong suốt bao nhiêu năm, nhiều người còn vay tiền của người thân với
lãi suất thấp hơn gửi cho Nguyễn Văn Mười Hai.

Có trường hợp như bà Triệu Thị Hiếu, sau khi bán nhà được 92 triệu đồng ở
miền Bắc, vào Sài Gòn thay vì mua nhà ngay lại nghe bạn bè khuyên, đem gửi
cho Nguyễn Văn Mười Hai chỉ ba ngày trước khi ông ta bị bắt. Bà Hiếu nói với
Toà án ngày 15-10-1990: “Khi công an bắt, tôi còn nhìn thấy ba bao tiền của
tôi gửi cho Nguyễn Văn Mười Hai, tất cả còn nguyên”.

Cũng với phương thức tương tự, Giám đốc xí nghiệp Andaco, ông Huỳnh Là, một
người bị mù bẩm sinh, đã huy động tiền gửi của dân 21 tỷ đồng; “đại gia” Lâm
Cẩu, giám đốc Xí nghiệp sản xuất phụ tùng xe máy Đại Thành, huy động 50 tỷ
và Xí nghiệp nồi cơm điện Covina huy động 12 tỷ. Cũng trong quý II-1990,
Giám đốc Phạm Công Tước của Xacogiva - một “nhà tỷ phú” mới mấy tháng trước
đó được Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tới thăm - bỏ trốn sau khi huy động 44 
tỷ đồng với lãi suất 12%/tháng.

Sự đổ bể của các hợp tác xã tín dụng và các tổ chức huy động vốn trong dân
đã làm cho tình hình xã hội trở nên căng thẳng. Rất nhiều nạn nhân của các
tổ chức này là cán bộ hưu trí và đặc biệt, phần lớn trong số họ là sỹ quan
quân đội. Thời gian ấy có hơn 600 nghìn bộ đội vừa mới xuất ngũ từ các chiến
trường Campuchia và biên giới phía Bắc. Trong số đó, hàng chục nghìn sỹ
quan, đặc biệt là sỹ quan từ cấp thiếu tá đến đại tá lãnh được một khoản
tiền khá lớn và nhiều người trong số họ thấy lãi cao thì đưa đi gửi.

87% số vụ đổ bể tín dụng xảy ra từ vĩ tuyến 17 trở vào; 13% từ các tỉnh miền
Bắc. Ở Khánh Hoà người dân đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình và Chính quyền
Sài Gòn đã ra lệnh đình bản số báo Lao Động Chủ Nhật có đăng tin nhiều quan
chức có sổ khống, tức là không gửi tiền mà vẫn được “chia lãi” ở hãng nước
hoa Thanh Hương vì sợ dân chúng tức giận.

Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng Trần Xuân Giá nhớ lại: “Khi Hội đồng
Bộ trưởng vào họp ở Sài Gòn, Phó Chủ tịch Trần Đức Lương được cử ở lại Hà
Nội trực. Hôm đó, có khoảng 50 người đến Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng yêu
cầu Chính phủ phải có trách nhiệm với sự đổ vỡ tín dụng này. Lần đầu tiên có
việc một đám đông lên tới 50 người tụ tập trước cổng Đỏ. Sự việc được ông
Lương khẩn báo vào Sài Gòn, Chủ tịch Đỗ Mười chỉ đạo: Cứ hẹn với dân để thứ
Sáu Chính phủ ra Hà Nội sẽ có giải pháp. Ông Trần Đức Lương đã có một quyết
định vô cùng ngu ngốc là yêu cầu ông Nguyễn Văn Báu, Phó chủ nhiệm Văn
phòng, làm một tờ Thông báo có đóng dấu hẳn hoi ra dán ở cửa nói rằng, hẹn
mọi người thứ Sáu sẽ giải quyết. Tờ giấy có giá trị như một lệnh triệu tập”.

Sáng thứ Sáu, vườn hoa trước cổng Đỏ của Hội đồng Bộ trưởng đầy kín người.
Ông Đỗ Mười phải triệu tập một cuộc họp khẩn cấp với các cấp phó và đưa ra
câu hỏi: Nên giải quyết thế nào? Ông Nguyễn Khánh nói: Anh Mười không nên
xuất hiện, không ai biết sự nổi giận của nhân dân tới đâu! Điều này rất dễ
nhất trí, nhưng khi chọn người ra nói chuyện với dân thì ông Đồng Sĩ Nguyên
nói: Tôi chỉ phụ trách về giao thông vận tải; ông Trần Đức Lương: Tôi chỉ lo
công tác khoa giáo. Thế là ông Đỗ Mười nói: Chú Giá vừa nắm rõ công việc lại
vừa có thể thay mặt Chính phủ, chú ra tiếp dân”.

Hàng nghìn người biểu tình mà trong đó có rất nhiều quân nhân mang theo cả
súng với nỗi tuyệt vọng to lớn sau khi khoản tiền dành dụm cả đời của họ đã
“đổ” theo các hợp tác xã tín dụng. Khi ấy, Chính quyền vừa thành lập hai đại
đội cảnh sát dã chiến. Văn phòng chọn mười người trong số họ, mặc thường
phục đi theo bảo vệ ông Trần Xuân Giá. Ông Giá ra ngôi nhà số 3 Mai Xuân
Thưởng, trước cửa Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng, rồi bắc loa nói: “Bà con
đông quá, tôi không thể tiếp một lúc được, xin mời cứ 50 người một, lần lượt
vào”.

Trong 50 người đầu tiên, có tới 40 vị đại tá. Nhiều vị vừa vô phòng là rút
súng đặt cạch lên bàn. Ông Giá cố giữ bình tĩnh: “Tôi mà rơi vào hoàn cảnh
các anh thì tôi cũng phải làm gì đó để đòi quyền lợi. Nhưng chúng ta đâu
phải kẻ thù mà các anh đưa súng ra. Các anh dùng súng, tôi cũng dùng súng
thì giải quyết được gì!”. Nghe tới đó, có nhiều tiếng nói từ phía sau: “Cất
súng! Cất súng!”. Ông Giá tiếp: “Chính phủ dứt khoát không bao giờ để cho
dân thiệt. Bà con yên tâm, Chính phủ sẽ công bố kế hoạch giải quyết cho bà
con sau”. “Sau là bao lâu?”. “Tôi chưa thể nói chính xác thời gian nhưng
chắc chắn là rất sớm”.

Từ hơn 9 giờ sáng, ông Giá liên tục phải trả lời sự giận dữ của dân chúng.
Nhưng, rất may là ông không phải tiếp tất cả họ. Nghe hứa “Chính phủ không
bao giờ để dân thiệt”, nhiều tốp 50 đã vỗ tay khi vừa ra khỏi cửa phòng tiếp
dân, đám đông chưa thực sự hiểu điều gì xảy ra cũng vỗ tay. Số này trở thành
người tuyên truyền cho những người ở ngoài, một số người không đợi đến lượt
mình mà tự động ra về, khoảng 3 giờ chiều thì xử lý được. Theo ông Trần Xuân
Giá, Hội đồng Bộ trưởng sau đó đã phải lấy từ ngân sách 137 tỷ chi trả cho
nạn nhân của các vụ đổ bể tín dụng trong cả nước. Những bước đi đầu tiên

Tháng 9-1988, cô gái 17 tuổi Bùi Bích Phương đăng quang cuộc thi Hoa hậu đầu
tiên của Việt Nam thống nhất do báo Tiền Phong tổ chức. Tháng 1-1989, Trung
tâm Quảng cáo Trẻ chọn 7 cô gái xinh đẹp làm nghề người mẫu. Tháng 2-1989,
báo Tuổi Trẻ đăng “ý kiến bạn đọc” đề nghị các cô giáo nên mặc áo dài. Tháng
5-1989, Đỗ Thị Kiều Khanh nhận danh hiệu Hoa hậu Áo dài tại cuộc thi do báo
Phụ Nữ Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức. Cũng trong tháng 5-1989, Lý Thu Thảo
nhận danh hiệu Hoa hậu Việt Nam của Thành Đoàn.

Một trăm nghìn postcard in hình Kiều Khanh bán hết ngay sau cuộc thi. Cuối
năm 1989, lịch các hoa hậu bắt đầu trở thành vật phẩm được ưa chuộng nhất.
Đặc biệt, sau sự đăng quang của Kiều Khanh, phong trào khôi phục lại những
chiếc áo dài từng làm tăng thêm nét duyên dáng của những phụ nữ miền Nam
trước năm 1975 bắt đầu lan rộng.

Những cuộc thi hoa hậu tưởng như phù phiếm này lúc ấy lại chứa đựng những
tín hiệu cho thấy Việt Nam bắt đầu bước từ tình trạng giặc giã, lam lũ, tới
những nhu cầu cao hơn về tinh thần. Hình ảnh hoa hậu Kiều Khanh có mặt trong
các sự kiện của hợp tác xã Tín dụng Hoà Hưng và các người mẫu, tuy chỉ xuất
hiện trên sân khấu, đã đánh dấu bước chuyển của nền kinh tế từ tự cung tự
cấp sang kinh tế thị trường.

Cho dù phải trả giá không rẻ, điều may mắn là ở thời điểm này, Việt Nam đã
không quay lưng với kinh tế thị trường. Đại hội Đảng lần thứ VI, tháng
12-1986, cho phép phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhưng mấy năm sau đó
vẫn là thời gian tìm đường. Mãi tới ngày 21-12-1990, ngày Quốc hội thông qua
Luật Công ty, địa vị pháp lý của kinh tế tư nhân mới bắt đầu chính thức được
xác lập(283).

Trước đó, doanh nghiệp nhà nước đã được tự hạch toán kinh doanh; các nhà sản
xuất tư nhân đã có thể uỷ thác qua các công ty xuất nhập khẩu để mua về vật
tư, nguyên liệu. Từ một thực thể đóng kín, từ cuối thập niên 1980, nền kinh
tế Việt Nam bắt đầu chịu tác động của nhiều nhân tố bên ngoài. Cơ chế thị
trường không còn chỉ là những thuật ngữ được tranh cãi bởi các nhà lãnh đạo.
Tuy đầu tư nước ngoài chưa đáng kể(284), nhưng những nhân tố ban đầu đó đã
như từng mảng sơn mới trên những bức tường rêu phong. Kinh tế tăng trưởng,
mức sống khá dần(285).

Trong suốt thời gian làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông Đỗ Mười chỉ có thể
điều phối một lượng ngoại tệ tổng cộng 123 triệu USD. Ông tự hào đã bàn giao
lại cho ông Võ Văn Kiệt gần 200 triệu. Theo ông Trần Xuân Giá, Chủ nhiệm Văn
phòng Hội đồng Bộ trưởng: “Số tiền tăng thêm này có được nhờ phát hành 200 
tỷ đồng giao cho ông Chu Tam Thức đi mua gạo xuất khẩu. Ông Thức đi hai
tháng, mang về được 59,5 triệu USD, thấp hơn con số 61 triệu mà ông Đỗ Mười
kỳ vọng. Ngoài ra còn có 50 triệu vay của Nisho Iwai. Nisho Iwai cho vay
khoản tiền này, sau khi Hội đồng Bộ trưởng quyết định lấy dinh thự 12 Thuyền
Quang cho Nisho Iwai thuê với giá 12.000 USD/tháng”. Dinh thự này trước đó
được dành cho quan chức cỡ Ban Bí thư và Phó Thủ tướng Liên Xô ở mỗi lần
sang Việt Nam(286).

Trong thập niên 1980, Việt Nam chủ yếu buôn bán với các nước trong Hội đồng
Tương trợ kinh tế (CMEA), xuất một, nhập về ba khiến cho nợ nần chồng chất.
Tính đến cuối thập niên 1980, tổng viện trợ của các nước CMEA cho Việt Nam
đạt tới mức 1,5 tỷ USD, giữa năm 1989, Việt Nam vẫn hy vọng Liên Xô tiếp tục
duy trì khoản viện trợ này trong vòng 5 năm tiếp theo, nhưng tất cả đã bị
cắt đột ngột vào năm 1990. Trong khi đó, nhu cầu ngoại tệ để nhập những mặt
hàng thay thế nguồn nhập khẩu từ các nước CMEA phải lên tới 1 tỷ USD mỗi
năm. Nhưng, cũng nhờ sự sụp đổ của khối CMEA mà Việt Nam mới tích cực tìm
bạn hàng ở những khu vực khác(287). Xuất khẩu sang những thị trường mới tăng
vọt từ 463 triệu USD, năm 1988, lên 978 triệu USD, năm 1989; chủ yếu nhờ hai
mặt hàng: dầu mỏ và gạo(288).

Cuối tháng 8-1991, Trung tâm buôn bán ngoại tệ đầu tiên của Việt Nam đã được
mở tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm có 40 thành viên là các cơ quan nhà
nước, trong đó có 7 ngân hàng thương mại và 33 tổ chức ngoại thương, các
công ty nhập khẩu vàng bạc và những công ty thực hiện các dịch vụ về kiều
hối. Cùng với sự xuất hiện của trung tâm này, tất cả các giao dịch về ngoại
tệ đều được thực hiện với tỷ giá hình thành ở đó và mức chênh lệch tối đa
của tỷ giá bán ra chỉ được cao hơn tỷ giá quy định là 0,5%. Đồng đôla bắt
đầu được định giá 10.500 đồng tại Trung tâm giao dịch ngoại hối vào đầu
tháng 10-1991.

Trong hai năm 1989 - 1990 có khoảng 450 nghìn lao động ở các xí nghiệp quốc
doanh bị giảm biên chế hoặc nghỉ hưu mà không tìm được công việc làm mới.
Theo ước tính của Bộ Lao động và báo cáo tình hình xí nghiệp, con số này
chiếm 78% trong tổng số 570 nghìn công nhân dư thừa vào đầu năm 1988. Trong
năm 1991, có thêm 150 nghìn công nhân từ các xí nghiệp quốc doanh bị giảm
biên chế. Những nỗ lực “tinh giản biên chế” nhằm giảm 20% số viên chức nhà
nước cũng làm mất việc thêm khoảng 250 nghìn người. Khi ấy, hơn 600 nghìn bộ
đội cũng vừa giải ngũ theo chính sách phục viên. Đội quân thất nghiệp đông
lên chưa từng thấy(289).

Thị trường cũng nhanh chóng tạo ra khoảng cách giữa nông thôn - thành thị và
giữa các vùng trong cả nước. Năm 1992-1993, thu nhập bình quân đầu người ở
thành thị cao gấp đôi khu vực nông thôn. Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên,
trung du phía Bắc, khu Bốn cũ có thu nhập thấp hơn mức bình quân của cả
nước. Giai đoạn 1991-1995, tỷ lệ tăng trưởng GDP tại Hà Nội và Sài Gòn cao
gấp từ 1,5-2 lần so với mức bình quân của cả nước(290). Làn sóng di cư còn
tiếp tục làm thay đổi một cách sâu sắc đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá
của Việt Nam.

Tuy giáo viên chưa phải là đối tượng ưu tiên tinh giản biên chế trong giai
đoạn này, nhưng kinh tế thị trường đã tác động một cách không cưỡng lại được
đối với ngành giáo dục. Mức lương khởi điểm của một giáo viên phổ thông cơ
sở, có chất lượng vào tháng 6-1991 là 45.000 đồng/tháng, tương đương với
5,35 đôla Mỹ theo tỷ giá thị trường. Mức lương cao nhất của thang lương cho
một giáo viên phổ thông cơ sở kỳ cựu 30 năm trong nghề là 63.000 tương đương
với 7,5 USD/tháng. Để sống được, hầu hết giáo viên cấp 1 dạy nửa ngày, còn
nửa ngày phải làm việc khác để tăng thu nhập. Một đội ngũ rất lớn, giáo viên
năng động đã lần lượt bỏ nghề ra kinh doanh hoặc tìm kiếm những công việc có
thu nhập tốt hơn trong các ngành khác.

Nhà nước chưa thể làm gì để ngăn chặn làn sóng này. Tổng mức chi tiêu của
Chính phủ cho giáo dục trong năm 1990 chỉ hơn 1 USD/đầu người; trong khi đó,
con số này ở Trung Quốc cùng thời là 6,5 USD, ở Ấn Độ là 11,15 USD. Đặc
biệt, các giáo viên tiếng Anh ở trong các trường đại học nhanh chóng kiếm
được những công việc có thu nhập cao gấp hàng trăm lần so với lương trong
ngành; ngược lại, bộ môn tiếng Nga gần như bị xoá sổ do không còn sinh viên
đăng ký học. Phần lớn giáo viên tiếng Nga bỏ nghề hoặc chuyển sang học thứ
ngôn ngữ thời thượng: tiếng Anh.

Để có thể thực hiện các chương trình cải cách, Việt Nam cần có những khoản
viện trợ mới. Nhưng để có viện trợ mới, Việt Nam đứng trước đòi hỏi cấp
thiết phải thanh toán những khoản nợ nước ngoài. Tính đến cuối năm 1990,
tổng số nợ của Việt Nam lên đến 8,3 tỷ USD, gần bằng GDP, trong đó có 3,2 tỷ
nợ bằng ngoại tệ mạnh, phần còn lại là khoản nợ bằng đồng Rúp chuyển đổi.
Đây là khoảng thời gian mà UNDP đóng một vai trò quan trọng trong việc viện
trợ cho quá trình đổi mới và vận động nhằm khôi phục lại các chương trình
viện trợ song phương và đa phương cho Việt Nam. Trong các năm 1989, 1990,
Chính phủ phải “vay” từ các ngân hàng quốc doanh những khoản tín dụng lên
tới 3.400 tỷ đồng để chi tiêu.

Chính kinh tế thị trường và chính sách tự do giao thương đã giải quyết những
gánh nặng này thay vì những đồng tiền được đưa ra từ ngân sách. Chính sách
hộ khẩu vẫn được duy trì trong suốt thập niên 1990. Nhưng nếu như thời bao
cấp, cuốn sổ hộ khẩu luôn đi kèm với sổ gạo, việc làm, quyền mua xe, mua
nhà, thuê nhà và quyền học hành của con cái, thì ở thời điểm ấy thị trường
có thể giải quyết gần như tất cả. Thị trường còn xử lý một cách lặng lẽ sự
phân bố không đồng đều về dân cư giữa các vùng kinh tế(291). Cùng với sự
phát triển của kinh tế tư nhân, Sài Gòn, Hà Nội trở thành thị trường lao
động lớn nhất để giải quyết phần lớn số lao động dư thừa vừa bị “giảm biên”
từ khu vực Nhà nước(292).

Chứng kiến sự thay đổi tới từng gốc rễ kể từ khi để cho người dân được tự do
làm ăn mới thấy hết những mất mát mà Việt Nam phải gánh chịu thời kinh tế tư
nhân bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Lược sử kinh tế tư nhân

Cuối thế kỷ 19, ở miền Nam đã có những đại điền chủ với ruộng đất “thẳng
cánh cò bay” như Huyện Sĩ, như Tổng Đốc Phương… Người được xếp hạng giàu thứ
tư, thân phụ của “Công tử Bạc Liêu”, ông Trần Trinh Trạch, cũng sở hữu 74 sở
điền, với 110.000 hecta đất trồng lúa, gần 100.000 hecta ruộng muối. Sau năm
1907, từ cuộc vận động Duy Tân của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào
khuếch trương thương nghiệp đã làm xuất hiện nhiều thương nhân vừa buôn bán
vừa đầu tư công nghệ.

Dưới thời Pháp thuộc: “Ở Hà Nội có hiệu Đồng Lợi Tế bán hàng nội hoa, hiệu
Hồng Tân Hưng làm đồ sơn, hãng Quảng Hưng Long do nhiều nhà buôn hùn vốn,
hiệu Đông Thanh Xương chế tạo xuyến bông đại đoá và do các nhà nho Hoàng
Tăng Bí và Nguyễn Quyền quản lý… Ở Nghệ An, Ngô Đức Kế tổ chức Triều Dương
thương quán, còn ở Quảng Nam, công ty Quản trị hiệp thương phát triển từ năm
1907 với một số vốn khoảng chừng 200.000 đôla; công ty mua lâm thổ sản đem
đi bán ở Hà Nội, Sài Gòn, Hương Cảng, rồi lại mua hàng ở các nơi đó về. Ở
Phan Thiêt, công ty buôn bán Liên Thành, thành lập năm 1908, xuất cảng
đường, quế, tơ và sẽ mở thêm hai chi điếm lớn ở Sài Gòn và Hội An”(293).

Khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, một số những hội buôn này lợi dụng hàng hoá
bên Pháp không chở sang được để phát triển hoạt động của họ: “Hãng Quảng
Hưng Long thành công trong lãnh vực xuất nhập cảng, mặc dầu các quyền lợi
của người Âu rất mạnh mẽ trong lãnh vực nay; công ty Vũ Văn An chuyên môn
buôn bán các loại tơ luạ đắt giá; Nguyễn Hữu Thụ tức Sen, trước làm chủ hãng
xe ở Hải Phòng, trở thành chủ hãng tàu thuỷ chạy giữa Hương Cảng và Hải
Phòng trong những năm Thế chiên. Đồng thời, nhiều nhà máy in được mở, như
nhà máy in của Ngô Tử Hạ, Lê Văn Phúc ở Hà Nội, Bùi Huy Tín ở Huế”(294).

Một trong những doanh nhân tiêu biểu lúc bấy giờ là Bạch Thái Bưởi. Tháng
4-1916, Bạch Thái Bưởi lập ra “Giang hải luân thuyền Bạch Thái công ty” ở
Hải Phòng. Đến năm 1919, Bạch Thái Công ty đã sở hữu hơn 30 chiếc thuyền,
chưa kể các thuyền phụ; 20 sà lan; 13 chiếc cầu tàu đứng, 16 chiếc cầu tàu
nổi. Tàu nhỏ nhất chở được 55 người; tàu lớn nhất, chạy tuyến Hà Nội - Nam
Định, chở được 1.200 người. Năm 1920, Bạch Thái Bưởi còn định mua tàu 3.000 
tấn từ Mỹ để vươn sang Âu, Mỹ. Ông tuyên bố: “Trước kia ta cạnh tranh với
các Hoa thương trên mặt sông, từ nay trở đi ta lại cạnh tranh với các tàu bè
trên mặt biển”(295). Rất tiếc là khát vọng của Bạch Thái Bưởi không thành.
Năm 1925, sau khủng hoảng kinh tế thế giới, ông đã phải bán tất cả số tầu
của mình cho người Pháp.

Trong những thập niên sau đó, một số doanh nhân người Việt tiếp tục thành
công trong những ngành kỹ nghệ tưởng chỉ có người “Tây” độc chiếm. Ông Ngô
Tử Hạ đầu tư vào ngành in và trở thành “nhà tư bản ngành in và bất động sản
hàng đầu xứ Đông Dương”. Ông Nguyễn Sơn Hà lập hãng sơn, chế ra loại sơn
Résistanco, cạnh tranh được với các loại sơn của Pháp trên cả các thị trường
Lào, Campuchia và Thái Lan. Từ một điền chủ có 18.000 hecta ruộng, ông
Trương Văn Bền mở hãng xà bông “Trương Văn Bền và các con”, cho ra đời bánh
“xà bông cô Ba”, đánh bại các loại xà bông nhập cảng, thâu tóm thị trường
Đông Dương rồi xuất sang Hương Cảng, châu Phi, Tân Đảo…

Năm 1926, một số nhà tư bản và địa chủ ở Sài Gòn đã góp vốn thành lập Việt
Nam Ngân hàng, Societe Annamite de Credit. Tuy vậy, kinh doanh của tư bản
Việt Nam chỉ có thể thu hep trong phạm vi tiểu công nghiệp và tiểu thương
mại; trong suốt thời Pháp thuộc, những xí nghiệp tư bản Việt Nam dùng trên
200 công nhân vẫn còn rất hiếm(296).

Ở miền Bắc, trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến 1958, tư bản tư doanh và
cá thể vẫn được Chính phủ Hồ Chí Minh cho làm ăn. Chính họ là lực lượng giúp
khôi phục nền kinh tế miền Bắc bị tàn phá nghiêm trọng sau chín năm Việt
Minh “trường kỳ kháng chiến”(297). Nhưng vai trò của họ chỉ được khai thác
trong một thời gian ngắn.

Năm 1954 từ nơi tản cư trở về, gia đình ông Trịnh Văn Bô không còn một căn
nhà nào để ở, cho dù trước đó, ông sở hữu biệt thự nổi tiếng 48 Hàng Ngang
và nhiều dinh thự khác như 34 Hoàng Diệu, 24 Nguyễn Gia Thiều, 56-58 Tràng
Tiền… Ông Trịnh Văn Bô (1914-1988) là một doanh nhân Việt Nam nổi tiếng giữa
thế kỷ 20. Cha ông, ông Trịnh Văn Đường và cha vợ ông, ông Hoàng Đạo Phương,
đều là những nhà nho cùng thời với cụ Lương Văn Can, từng đóng góp rất nhiều
cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.

Ông Trịnh Văn Bô cùng vợ là bà Hoàng Thị Minh Hồ, trong 10 năm, kinh doanh
thành công, đưa tài sản của hãng tơ lụa Phúc Lợi tăng lên 100 lần so với
ngày thừa kế hãng này từ cha mình. Tơ lụa do Phúc Lợi sản xuất được bán sang
Lào, Campuchia, Thái Lan, được các thương nhân Pháp, Anh, Thuỵ Sĩ, Thuỵ
Điển, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản tìm kiếm.

Từ năm 1944, gia đình ông nằm trong sự chú ý của những người cộng sản. Ngày
14-11-1944, hai vợ chồng ông bà cùng người con trai cả đồng ý tham gia Việt
Minh. Vài tháng sau, ông bà đã mang một vạn đồng Đông Dương ra ủng hộ Mặt
trận Việt Minh và từ đó, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở thành một nguồn cung
cấp tài chánh to lớn cho những người cộng sản. Đến trước Cách mạng tháng
Tám, gia đình ông đã ủng hộ Việt Minh 8,5 vạn đồng Đông Dương, tương đương
212,5 cây vàng. Khi những người cộng sản cướp chính quyền, ông bà Trịnh Văn
Bô được đưa vào Ban vận động Quỹ Độc lập(298).

Ngày 24-8-1945, khi Chính phủ lâm thời về Hà Nội, Hồ Chí Minh, Trường Chinh,
Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Tùng đều đã ở hoặc qua lại
ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ba đêm đầu Hồ Chí Minh ngủ trên giường của ông bà
Trịnh Văn Bô, sau đó, ông xuống tầng hai, ngủ trên chiếc giường bạt còn các
nhà lãnh đạo khác thì kê ghế da hoặc rải chiếu ngủ. Ở tầng trệt, cửa hàng
vẫn hoạt động bình thường, ngay cả bảo vệ của Hồ Chí Minh cũng không xuống
nhà để tránh gây chú ý. Mọi việc ăn uống đều do bà Trịnh Văn Bô lo, thực
khách hàng ngày ngồi kín chiếc bàn ăn 12 chỗ.

Trong suốt từ 24-8 cho đến ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh hiếm khi ra
khỏi nhà 48 Hàng Ngang. Mỗi buổi sáng, cứ sau khi ông tập thể dục xong, bà
Trịnh Văn Bô lại đích thân mang thức ăn sáng lên. Bà nhớ, có lần Hồ Chí Minh
đã giữ bà lại và hỏi: “Cô bao nhiêu tuổi mà có được gia tài lớn thế này?”.
Năm ấy bà 31 tuổi, dù có 4 đứa con nhưng vẫn còn xinh đẹp. Hồ Chí Minh ở lại
đây cho đến ngày 27-9-1945. Mỗi khi ra khỏi nhà, Hồ Chí Minh thường xuống
tầng dưới vấn an bà mẹ ông Trịnh Văn Bô và gọi bà là mẹ nuôi. Ở 48 Hàng
Ngang, Hồ Chí Minh đã ngồi viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập và tiếp các sĩ quan
OSS như Archimedes Patti và Allison Thomas. Quần áo mà các lãnh đạo Việt
Minh bận trong ngày lễ Độc lập, đều do gia đình ông bà cung cấp. Các ông
Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì mặc đồ của ông Trịnh Văn Bô còn áo của Chủ
tịch Hồ Chí Minh thì may bằng vải Phúc Lợi.

Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông Trịnh Văn Bô theo Chính phủ Kháng chiến
lên Việt Bắc còn vợ ông thì mang 5 người con, trong đó có một đứa con nhỏ,
cùng với mẹ chồng lên “vùng tự do” Phú Thọ. Những năm ở đó, từ một bậc trâm
anh, thế phiệt, bà đã phải cuốc đất trồng khoai và buôn bán để nuôi con. Năm
1955, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở về Hà Nội. Ông bà tiếp tục xoay xở và
bắt đầu phải bán dần đồ đạc cũ để nuôi sống gia đình. Lúc này, toàn bộ biệt
thự, cửa hàng đều đã bị các cơ quan nhà nước sử dụng hoặc chia cho cán bộ
nhân viên ở. Lúc đầu, Nhà nước “mượn” sau tự làm giấy nói gia đình xin hiến,
nhưng cụ bà Trịnh Văn Bô bảo: “Tôi không ký”.

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên
toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh
doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng
dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học
tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân
đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ
riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát
Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó.

Cho dù được ghi nhận công lao, trong lý lịch các con của ông Trịnh Văn Bô
vẫn phải ghi thành phần giai cấp là “tư sản dân tộc”, và rất ít khi hai chữ
“dân tộc” được nhắc tới. Con trai ông Trịnh Văn Bô, ông Trịnh Kiến Quốc kể:
“Ở trường, các thầy giáo, nhất là giáo viên chính trị, nhìn chị em tôi như
những công dân hạng ba. Vào đại học, càng bị kỳ thị vì lượng sinh viên người
Hà Nội không còn nhiều. Trong trường chủ yếu là sinh viên con em cán bộ
thuộc thành phần cơ bản từ Nghệ An, Thanh Hoá… những người xếp sinh viên Hải
Phòng, Hà Nội vào thứ hạng chót. Chị tôi vào Đại học Bách Khoa, năm 1959,
phải đi lao động rèn luyện một năm trên công trường Cổ Ngư, con đường về sau
Cụ Hồ đổi thành đường Thanh Niên, và sau đó là lao động trên công trường Hồ
Bảy Mẫu”. Cả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà
thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 
Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô
qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được(299).

Câu chuyện của gia đình Trịnh Văn Bô cũng chưa cay đắng bằng gia đình bà
Nguyễn Thị Năm, nổi tiếng với tên gọi Cát Hanh Long, một nhà tư sản vào hàng
nhất nhì miền Bắc. Cũng như nhiều nhà tư sản khác, ba mẹ con bà Nguyễn Thị
Năm đã hăm hở ủng hộ phong trào Việt Minh từ tháng 5-1945. Bà đã từng vận
động bạn bè và tự mình mua tín phiếu Việt Minh, mua vải đỏ, vải vàng may cờ
đỏ sao vàng, ủng hộ tiền, gửi thuốc men, thóc gạo, dụng cụ ấn loát lên Chiến
khu Việt Bắc…

Sáng ngày 19-8-1945, bà Năm đã dùng xe ô tô của gia đình, cắm cờ đỏ sao vàng
ngay đầu mũi xe chạy lên Thái Nguyên, báo tin “Hà Nội đã khởi nghĩa” cho
người con trai thứ hai là Hoàng Công đang hoạt động bí mật ở Võ Nhai dưới sự
lãnh đạo của các cán bộ cộng sản. Trong một trạng thái phấn khích, bà Năm đã
cho xe chạy một vòng quanh thành phố Thái Nguyên rồi mới sang Đồng Bẩm, lên
La Hiên, Đình Cả. Đó là một hành động bất chấp nguy hiểm vì khi ấy người
Nhật chưa chính thức đầu hàng.

Hai con bà Năm: Hoàng Công, tham gia Tổng khởi nghĩa ở Thái Nguyên; Nguyễn
Hanh, tham gia Tổng khởi nghĩa ngay tại phủ Khâm sai Bắc Bộ và sau đó được
cử đi bảo vệ phái đoàn gồm có các ông Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu, Cù
Huy Cận vào Huế tiếp nhận sự thoái vị và nhận ấn kiếm vàng của Bảo Đại đem
về Hà Nội, đúng lúc đang diễn ra lễ mít tinh ở Quảng trường Ba Đình ngày
2-9-1945.

Trong “Tuần lễ vàng”, gia đình bà Năm đã góp 100 lượng vàng tại Hải Phòng. Ở
Thái Nguyên, gia đình bà được Trung ương Việt Minh giao trách nhiệm giúp đỡ
và chăm sóc các cán bộ của Đảng từ Chiến khu về, trong đó có những người như
gia đình ông Hoàng Hữu Nhân, Bí thư đầu tiên của Hải Phòng, và gia đình ông
Lê Đức Thọ. Con trai Hoàng Công của bà sau đó được ông Lê Đức Thọ điều từ
Thái Nguyên về Hà Nội. Toàn quốc kháng chiến, Hoàng Công bị gãy chân tại mặt
trận Ngã Tư Sở khi đang chiến đấu bảo vệ Thủ đô.

Cũng trong những ngày đó, gia đình bà Năm đã để lại khối tài sản lớn của
mình ở Hà Nội và Hải Phòng để theo mặt trận Việt Minh. Ở Thái nguyên, bà Năm
tích cực tham gia công tác phụ nữ và được bầu làm Hội trưởng Phụ nữ tỉnh
Thái Nguyên và là Uỷ viên Liên khu Hội Phụ nữ. Thế nhưng, khi cải cách ruộng
đất, bà Nguyễn Thị Năm bị quy là địa chủ và bị gán tội “Việt gian - Quốc dân
Đảng” rồi trở thành một trong những địa chủ đầu tiên bị xử bắn(300).

Cuối năm 1955, sau khi tập kết ra Bắc, được giao phụ trách trong công tác
sửa sai trong cuộc vận động cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, Lê Đức
Thọ đã minh oan cho bà Nguyễn Thị Năm và sửa lại thành phần cho bà là “tư
sản, địa chủ kháng chiến”. Thế nhưng, theo ông Nguyễn Hanh: Không phải mọi
việc sau này đều thuận buồm, xuôi gió ngay đối với con cháu của bà.

Ông Nguyễn Hanh viết: “Con gái đầu lòng của tôi được vào đại học, nhưng khi
tốt nghiệp, phân công tác, không được cơ quan nào chấp nhận vì bà nội cháu
đã bị xử trong cải cách ruộng đất. Con trai thứ hai, theo gương bố và chú,
xin vào bộ đội. Đơn vị thấy cháu công tác tốt và có khả năng đã cử cháu đi
học đại học tại chức. Vừa học, vừa công tác tốt nhưng đến khi tốt nghiệp,
phát hiện ra cháu là cháu nội địa chủ, nhà trường đã không cho cháu thi tốt
nghiệp. Nhờ có sự giúp đỡ tận tình của bác Lê Đức Thọ nên hai con tôi mới
thoát nạn. Ba năm sau khi sửa sai cho mẹ tôi, hai anh em tôi mới được xét
lại thành tích phấn đấu từ thời Việt Minh bí mật và nhờ có sự giúp đỡ nhiệt
tình của bác Lê Đức Thọ, nên chúng tôi được phục hồi công tác. Chỉ tiếc rằng
việc thực hiện sửa sai không nhất quán và không làm đúng ở cơ sở. Em trai
tôi chưa được chứng nhận là thương binh và phục hồi Đảng tịch… Sau này bác
Lê Đức Thọ đã đến thăm gia đình chúng tôi, tặng một tập thơ, ở trang đầu có
ghi mấy dòng chữ tự tay bác viết: Thân tặng Hanh và Công, để đánh dấu chấm
dứt sự đau buồn kéo dài lâu năm của gia đình và cũng là của chung”(301).

Trong thời kỳ khôi phục kinh tế, 1955-1957, nền kinh tế miền Bắc phát triển
ngoạn mục, chủ yếu nhờ vào lực lượng tư nhân: Công nghiệp tư bản tư doanh
tăng 230%; cá thể, tiểu chủ, tăng 220,2%. Tư bản tư doanh và tiểu chủ, cá
thể tạo ra một lượng sản phẩm chiếm 73,7% tổng giá trị công nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp ở miền Bắc. Nhưng “Công cuộc cải tạo công thương nghiệp tư
doanh” bắt đầu ở miền Bắc vào tháng 9-1957 đã gần như triệt tiêu hoàn toàn
kinh tế tư bản tư nhân, tiểu chủ và cá thể bằng cách tước đoạt dưới các hình
thức “tập thể hoá” hoặc buộc các nhà tư sản phải đưa cơ sở kinh doanh của họ
cho Nhà nước với cái gọi là công tư hợp doanh.

Chỉ hai năm sau cải tạo công thương nghiệp tư doanh, ở miền Bắc, tài sản của
các nhà tư sản teo dần trong khi lực lượng quốc doanh bắt đầu chiếm tỉ trọng
cao trong nền kinh tế(302). Văn kiện Đảng ghi ngắn gọn: “Đến cuối năm 1960,
100% hộ tư sản công nghiệp và 97,2% hộ tư sản thương nghiệp được cải
tạo”(303). Con số đó đủ để nói lên chính sách đối với tư nhân của chế độ
miền Bắc.

Nhà nước theo Hiến pháp 1959, với tham vọng “lãnh đạo hoạt động kinh tế theo
một kế hoạch thống nhất”(304), đã coi “Kinh tế quốc doanh thuộc hình thức sở
hữu của toàn dân, giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được
Nhà nước bảo đảm phát triển ưu tiên(305); Khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ
sự phát triển của kinh tế hợp tác xã(306)”.

Mặc dù nói, “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu
sản xuất và của cải khác của nhà tư sản dân tộc”, nhưng vì Hiến pháp đã giao
nhiệm vụ cho Nhà nước “ra sức hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc hoạt động có
lợi cho quốc kế dân sinh, góp phần phát triển kinh tế quốc dân phù hợp với
kế hoạch kinh tế của Nhà nước”; bằng cách “khuyến khích và hướng dẫn các nhà
tư sản dân tộc đi theo con đường cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức
công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác”(307); đồng thời “nghiêm
cấm việc lợi dụng tài sản tư hữu để làm rối loạn sinh hoạt kinh tế của xã
hội, phá hoại kế hoạch kinh tế Nhà nước”(308), cho nên phạm vi tư hữu được
“Nhà nước bảo hộ” chỉ còn ở mức “quyền sở hữu của công dân về của cải thu
nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác”(309).

Cũng từ năm 1960, kinh tế tư bản tư nhân trên miền Bắc gần như hoàn toàn
biến mất. Hậu duệ của những Bạch Thái Bưởi, Lê Văn Phúc… ly tán. Các nhà tư
sản đóng góp nhiều tiền bạc cho kháng chiến như Nguyễn Sơn Hà, Ngô Tử Hạ… có
được vài ghế danh dự trong Chính phủ, trong Quốc hội, nhưng họ và con cái
không còn là những doanh nhân - vai trò mà họ có thể đóng góp thiết thực
nhất cho đất nước.

Miền Bắc “tiến lên chủ nghĩa xã hội” bằng “kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”,
1960-1965, trong một bối cảnh kinh tế tư nhân bị o ép và quốc doanh thì èo
uột. Chiến tranh, với khẩu hiệu, “tất cả cho tiền tuyến; tất cả để đánh
thắng giặc Mỹ xâm lược”, đã biện minh cho sự nghèo nàn và viện trợ đã giúp
miền Bắc sống thoi thóp cho đến ngày thống nhất. Ở miền Nam, sau năm 1975,
những thương hiệu một thời nổi tiếng cũng lần lượt biến mất sau khi chủ nhân
của nó di tản, bị bắt, hoặc trở thành thuyền nhân và các nhà máy bị quốc hữu
hoá rồi được quản lý theo kiểu cha chung không ai khóc.

Nhưng, cho dù trải qua ba thập niên xây dựng chủ nghĩa xã hội, “chợ đen”
chưa bao giờ bị triệt tiêu ở miền Bắc; cho dù các nhà tư sản bắt đầu bị
“đánh” kể từ tháng 9-1975 và bị “cải tạo” triệt để hơn vào tháng 3-1978, lực
lượng “con phe” ở miền Nam chưa từng một ngày chịu khuất phục. Họ đã từng
phải trả giá cả bằng tù tội. Một trong những người tiêu biểu đó là “Vua Lốp”
Nguyễn Văn Chẩn.

Ông Nguyễn Văn Chẩn vốn là một nông dân ở huyện Nga Sơn, Thanh Hoá. Năm
1954, ông bán tài sản giá trị nhất là ruộng rau, để lại cho vợ con một nửa
số tiền, mang theo nửa còn lại tìm đường ra Hà Nội. Thoạt đầu, ông xin vào
làm công ở “ngành công nghiệp” bóc vỏ xe ô tô cũ cắt ra làm dép. Sau khi
tích luỹ được một số vốn, ông mở một cửa hiệu nhỏ rồi đón vợ con lên Hà Nội.
Chỉ sau một năm, công việc làm ăn của ông Chẩn phất lên…, ông bị coi là “tư
sản mới”, bị kiểm tra, toàn bộ tài sản bị tịch biên và bản thân ông bị đưa
đi cải tạo nhưng may mắn, chỉ vài ngày sau, ông được thả.

Trở về, ông Chẩn vẫn không bỏ được máu làm ăn. Một lần, khi cây viết mực của
con bị hư, ông phải đi khắp các “cửa hàng bách hoá” mà không mua được vì
“bút máy” là mặt hàng “phân phối”. Sau khi tìm mua được một cây viết chợ đen
với giá mắc hơn giá trong cửa hàng Nhà nước nhiều lần, ông Chẩn tức mình
ngồi tháo ra nghiên cứu và nhận thấy là ông có thể tự làm được những cây
viết mực. Thế rồi ông chuyển sang làm “bút máy”(310). Bút máy của ông có
kiểu dáng gần giống và chất lượng tương đương “bút máy Trường Sơn” nhưng
được bán tự do với giá rẻ.

Ông Chẩn lại phất lên và lại bị “tài chính quận Hoàn Kiếm” kiểm tra chỉ vì
ông “sống ở quận Ba Đình mà kinh doanh ở Hoàn Kiếm”. Toàn bộ công cụ, đồ
nghề, nguyên liệu, sản phẩm lại bị tịch thu rồi chỉ được trả một phần nhỏ
sau nhiều lần thưa kiện. Bỏ nghề làm bút máy, ông Chẩn chuyển sang nghề đắp
vỏ xe đạp, xe thồ và lại nhanh chóng trở thành người giàu có.

Tháng 4-1960, ông bị công an quận Ba Đình khám nhà, tịch thu toàn bộ mô tơ,
khuôn, vài tạ dép đứt quai, cao su và hàng ngàn chi tiết bút. Với tội danh
“tàng trữ và đầu cơ hàng hoá sản xuất trái phép”, ông Nguyễn Văn Chẩn bị Toà
án Hà Nội xử 30 tháng tù giam. Thay vì phúc thẩm ngay theo đơn kháng án của
ông, mãi tới ngày 25-5-1972, Toà án Tối cao mới xử phúc phẩm và tại bản án
số 22, ông Chẩn chỉ bị buộc tội “đầu cơ”, bị “cảnh cáo và nộp phạt một trăm
đồng” sau khi đã phải trải qua 18 tháng trong nhà tù Hoả Lò, 12 tháng trong
trại tù Yên Bái.

Khi từ nhà tù Yên Bái trở về, ông Chẩn đã định từ giã con đường làm ăn tư
nhân. Ông xin vào công ty vệ sinh Thành phố và buổi tối thì nhận xăm của nhà
máy cao su về nối. Nhưng… ông nhận ra nhựa vá xăm lốp quốc doanh “chưa vá đã
bong” nên mày mò pha chế và tìm ra một loại nhựa tốt hơn.

Các chủ đại lý lại xếp hàng rồng rắn trước xưởng nhựa của ông Chẩn. Khách
các tỉnh xa về mua hàng can lớn. Ông Chẩn lại giàu lên. Tháng 1-1974, ông bị
bắt và ngồi tù cho tới ngày 30-3 năm ấy. Ra tù ở tuổi 50, sau 5 năm bán chè
chén, năm 1979, ông quay lại với nghề làm vỏ xe ở một trình độ cao hơn. Năm
1980, ông Chẩn cho xuất xưởng những chiếc vỏ xe thồ có thể chạy ba năm trong
khi vỏ xe cùng loại của Nhà máy cao su Sao Vàng chỉ chạy được chưa đầy sáu
tháng. Sản phẩm của ông từng được trao Huy chương đồng tại Hội chợ triển lãm
Giảng Võ. Từ đây, ông Nguyễn Văn Chẩn bắt đầu chết tên “Vua Lốp”.

Khách hàng từ các tỉnh phía Bắc đến xếp hàng hằng ngày chờ mua vỏ xe thồ đã
làm cho Chính quyền chú ý. Người có tiền án hai lần vào tù vì “buôn bán xăm
lốp ô tô cũ và sản xuất bút máy” đương nhiên trở thành đối tượng của công
an. Đầu tháng 7-1983, ông Chẩn bị kiểm tra và trong suốt ba ngày trời, “dưới
sự chứng kiến của hàng trăm quan chức đủ mọi thành phần và hàng ngàn người
dân hiếu kỳ, ông Chẩn và các con đã phải thao tác quy trình làm lốp bằng phế
liệu”. Không tìm ra lỗi, Chính quyền Hà Nội đành cáo buộc ông “tự ý sản
xuất” làm “rối loạn” nền kinh tế mà, trong đó, mọi sản phẩm đều do Nhà nước
lên kế hoạch, giao chỉ tiêu từ khâu sản xuất cho đến khâu tiêu thụ.

Hà Nội năm 1983 là địa phương duy nhất hăng hái thi hành “Chỉ thị Z-30” mà
theo đó, sự giàu có cũng được coi là tội trọng. Sáng sớm ngày 27-8-1983, lực
lượng liên ngành quận Ba Đình bao gồm quân đội, công an, viện kiểm sát, uỷ
ban đã phong toả nhà và xưởng sản xuất của Vua Lốp, rồi tuyên bố, tịch thu
toàn bộ nhà cửa, nguyên vật liệu và dây chuyền sản xuất xưởng sản xuất lốp,
đồng thời ra lệnh bắt giam ông Chẩn. Đã có kinh nghiệm từ ba lần trước, ông
Chẩn bỏ trốn lên Hàng Đào, rồi sau đó bắt đầu những ngày phiêu bạt, nay Thái
Bình, mai Hải Phòng, Hà Bắc. Gần một năm sau, khi vợ con khởi kiện, ông Chẩn
mới lặng lẽ trở về. Những năm ấy, cả gia đình Vua Lốp phải ra phố Sơn Tây
căng lều trên vỉa hè sống tạm(311).

Không quy mô như “Vua Lốp” nhưng nhiều người dân vẫn tìm cách xoay xở. Bốn
ngành “công nghiệp mũi nhọn” mà xã hội “bung ra” những năm 1978, 1979 và
trong thập niên 1980 là: “Vá ép áo mưa rách; Bơm mực ruột bút bi; Tái chế
dép nhựa cũ; Lộn cổ áo sơ mi”. Ở miền Bắc, ngành công nghiệp “ Tái chế dép
nhựa cũ” có nơi được thay bằng “Gia công quy gai xốp”. Có một ngành “công
nghiệp” không thể không nói tới là “ngành” nấu xà bông. Thành phần cục xà
bông phản ánh khá trần trụi một môi trường kinh doanh đã bị cơ chế quan liêu
bao cấp làm cho biến dạng.

Sau năm 1975, những hãng nổi tiếng như bột giặt Viso hay “Trương Văn Bền và
các con” đều bị quốc hữu hoá hoặc phải hoạt động dưới dạng “công tư hợp
doanh”. Một người con của ông Trương Văn Bền được Nhà nước cho làm Phó giám
đốc Công ty hợp doanh này. Đó là một giai đoạn mà vật tư nguyên liệu để làm
các loại “xà bông cô Ba” không còn được nhập. Không có nguyên liệu để sản
xuất xà bông theo quy trình hiện đại, Công ty hợp doanh phải đặt hàng các cơ
sở sản xuất nhỏ lẻ gia công theo cách cho xút và dầu dừa vào thùng phuy đun,
khuấy.

Một người từng sản xuất xà bông từ cuối thập niên 1970, ông Thái Văn
Hừng(312) kể: “Ngày chuẩn bị ra trường, tôi về thực tập ở Cần Thơ, tình cờ
ra chợ mua xà bông, thấy giá cao quá. Hồi đó, đưa 1kg xà bông từ Sài Gòn về
phải qua biết bao nhiêu trạm kiểm soát. Thay vì mua xà bông, tôi về mang
sách vở, đồ dùng học tập, bán hết, gom thêm tiền, mua 10kg dầu dừa, xút… nấu
xà bông. Cứ sáng làm, chiều bán, một vốn, ba, bốn lời. Đúng một tháng sau
tôi có gần bốn chục lượng vàng. Thay vì trở về trường nhận bằng tốt nghiệp,
tôi thành lập tổ hợp sản xuất xà bông, bỏ ra 30 lượng vàng mua một máy ép
dầu dừa. Máy ép dầu dừa của tôi là chiếc thứ hai ở tỉnh Hậu Giang hồi đó”.
Năm 1980, chỉ hơn một năm sau ngày khởi nghiệp, ông Hừng nhớ lại: “Tôi có cả
nghìn cây vàng”.

Nhưng, ở Sài Gòn, không phải ai cũng có thể mua xút và dầu dừa. Ông Trần
Mộng Hùng, người nhận gia công xà bông cho các công ty hợp doanh; người từng
cho cậu sinh viên Thái Văn Hừng mua xà bông chịu mang về miền Tây bán, kể:
“Sau cải tạo, toàn bộ hàng hoá, nguyên liệu mà Nhà nước thu được của các nhà
tư sản được đưa về cho Công ty Vật tư Tổng hợp Thành phố. Nhiều loại vật tư
vô cùng khan hiếm ngoài thị trường lại nằm chết dí trong kho vì những người
quản lý không biết nó là gì. Những thùng xút mà các nhà nấu xà bông đang cần
lại thường bị bỏ bê vì thủ kho ngại tới gần những loại hoá chất đụng tay vô
là bị phỏng. Mãi về sau khi vật tư trên thị trường đã cạn kiệt, hàng mới
không được nhập về, các nhà sản xuất mới tìm đến và phát hiện ra nhiều loại
vật tư ngoài thị trường khan hiếm lại đang bị bỏ phế”.

Do quen biết giám đốc Công ty Dầu dừa Bến Tre, ông Trần Mộng Hùng xuống
thẳng công ty của ông này “xin mua”. Ông giám đốc nói: “Dầu tao sản xuất ra
không có chỗ để chứa, mua là tao bán chứ xin gì”. Ông Hùng cả mừng, nói:
“Vậy chú bán cho con theo giá thị trường 5 đồng/kg đi”. Ông giám đốc trả
lời: “Bán theo giá thị trường để tao đi tù à? Tao bán mày 5 xu/kg thôi.
Nhưng mày phải kiếm một công ty quốc doanh xuống đây mua thì tao mới bán
được”. Theo quy định lúc đó: Chỉ các công ty quốc doanh có chức năng mới
được mua xút, dầu dừa rồi cung cấp cho các xí nghiệp được giao kế hoạch sản
xuất xà bông cho thương nghiệp; Các xí nghiệp này lại nhận xút và dầu dừa
theo định mức rồi đặt các cơ sở gia công nấu xà bông.

Các cơ sở gia công xà bông nếu cứ nhận xút và dầu dừa theo định lượng rồi
giao lại một số xà bông đúng như tính toán Nhà nước thì sẽ không có lời. Họ
phải kiếm sống bằng cách, nếu định lượng xút cho một thùng xà bông là 15 kg
thì chỉ sử dụng 9 kg, rồi đem 6 kg ấy ra chợ trời bán. “Công thức” áp dụng
với dầu dừa cũng tương tự. Nhưng, muốn cho cục xà bông cứng lại thì phải đảm
bảo nấu đủ 62% dầu dừa trong khi hơn 1/3 dầu dừa đã được bán cho chợ đen.
Thế là các cơ sở gia công đành phải trộn mỡ phế thải của nhà máy Vissan,
thậm chí pha đất sét và dùng muối thay cho soda… để cho cục xà bông cứng
lại.

Sự chi li chặt chẽ của các nhà làm “kế hoạch hoá” đã khiến cho nền kinh tế
phải tồn tại bằng cách đối phó. Không chỉ có xà bông mà cả kem đánh răng, vỏ
xe… cũng đều phải “độn”. Những đôi dép nhựa tái chế chỉ đi được vài tuần là
gãy đế, tụt quai. Những chiếc vỏ xe chạy được dăm chục cây số là bắt đầu
phải lấy mây khâu mới giữ được cho phần cao su dính liền với “tanh” thép.
Những chiếc yên xe chỉ đi mấy bữa là lo xò không còn khả năng đàn hồi…

Năm 1990, khi Luật Công ty và Doanh nghiệp tư nhân ra đời, những người như
ông Thái Văn Hừng, Trần Mộng Hùng… từ giã những cơ sở sản xuất, kinh doanh
du kích của mình, bỏ vốn lập công ty. Cũng như nền kinh tế nói chung, từng
người bắt đầu phải học để thích ứng cho một giai đoạn mới. Học lại “kinh tế
thị trường”

Theo ông Phan Văn Khải, nói là Đảng bắt đầu đổi mới từ năm 1986, nhưng trên
thực tế trong suốt nhiệm kỳ VI, trong Đảng vẫn tranh cãi liên miên về đường
đi. Mãi tới năm 1991, những người chủ trương cải cách mới đưa được bốn chữ
“kinh tế thị trường” vào văn kiện.

Sau khi khởi xướng con đường đổi mới, ông Trường Chinh vừa giữ chức cố vấn
Ban Chấp hành Trung ương vừa là trưởng Tiểu ban Soạn thảo cương lĩnh của
Đảng. Nhưng vai trò của ông chấm dứt chỉ chưa đầy một năm sau đó. Đầu năm
1988, Hội nghị Trung ương lần thứ 3 nhóm họp tại Thành phố Hồ Chí Minh, khi
Trường Chinh vào Nam dự theo thường lệ thì nhận được “đề nghị” của Chánh Văn
phòng Trung ương Hồng Hà: “Đã lâu anh không vào Nam nên Văn phòng bố trí để
anh đi nghỉ”.

Nửa năm sau, ngày 30-9-1988, khi xuống gặp nhóm giúp việc ở phần tầng nửa
trệt, nửa hầm, nhà số 3 Nguyễn Cảnh Chân, Trường Chinh bị trượt chân nơi mấy
bậc cầu thang, ngã bật người ra phía sau, rồi mất.

Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thay thế Trường Chinh làm trưởng Tiểu ban dự
thảo “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong Thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã
hội”. Chủ biên là Uỷ viên thường trực Bộ Chính trị Đào Duy Tùng. Thay vì cải
cách cả kinh tế và chính trị, ưu tiên hàng đầu lúc bấy giờ của Tổng bí thư
Nguyễn Văn Linh và Đào Duy Tùng, trợ thủ đắc lực về lý luận của ông, là:
“Kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở kiên định học thuyết kinh
điển về cách mạng vô sản và thời kỳ quá độ trong đó có chính sách kinh tế
mới của Lênin”(313).

Cùng thời gian ấy, Chính phủ được giao soạn thảo “Chiến lược ổn định và phát
triển kinh tế xã hội đến năm 2000”(314). Những nhà cải cách có một cơ hội để
“cài” vào văn kiện của Đảng hai chữ “thị trường”. Theo ông Trần Đức Nguyên:
“Chúng tôi bàn nhau, dứt khoát phải đưa vào văn kiện thuật ngữ ‘nền kinh tế
thị trường’ và chấp nhận thêm đuôi ‘có sự quản lý nhà nước’. Không có nền
kinh tế nào lại không có bàn tay nhà nước, nhưng cứ viết ra như thế để những
người sợ hãi thị trường yên tâm”(315). Cũng theo ông Trần Đức Nguyên: “Đào
Duy Tùng, khi ấy là uỷ viên thường trực Bộ Chính trị, không muốn trình
‘Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000’ ra đại hội,
lấy cớ đã có nhiều văn kiện quá. Nếu hai ông Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt không
kiên quyết bảo vệ, thì năm 1991, khái niệm kinh tế thị trường có thể đã chưa
bắt đầu được Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập”. Không chỉ là vấn đề câu chữ,
xung đột giữa hai nhóm biên soạn “Cương lĩnh” và “Chiến lược” của cùng Đại
hội VII (1991) cho thấy, “cuộc đấu tranh giữa hai con đường” trong Đảng lúc
đó mới thực sự bắt đầu(316).

Nhưng, trước khi các nhà lý luận thừa nhận kinh tế thị trường, nhiều nhà
hoạt động thực tiễn đã tìm cách liên hệ với thế giới bên ngoài để tìm hiểu
nó. Năm 1979, ở Sài Gòn, Bí thư Thành uỷ Võ Văn Kiệt cho lập Công ty Imexco,
bổ nhiệm một người ngoài Đảng, ông Nguyễn Văn Đức, làm phó giám đốc. Ông
Nguyễn Văn Đức, người được biết nhiều dưới cái tên “Tây” Charles Đức hoặc Ba
Đức sinh năm 1939 tại Châu Đốc, học kinh tế tại Aix-en-Provence, Pháp
(1962-1964) và Luật quốc tế tại La Haye, Hà Lan (1965-1967). Năm 1974, ông
Đức về nước, cưới danh ca cải lương Bạch Tuyết và bắt đầu hoạt động kinh
doanh. Cả khả năng kinh doanh và sự nổi tiếng của Bạch tuyết đã giúp ông Đức
có một mối quan hệ thân tình với nhiều nhà lãnh đạo. Theo ông Đức thì ông
Kiệt là người bật đèn xanh cho Imexco chủ động làm ăn với các thị trường như
Hồng Kông, Singapore, giúp các xí nghiệp nhà nước và các tỉnh Đồng bằng sông
Cửu Long cân đối nguồn hàng, ngoại tệ, làm quen với “hạch toán kinh doanh”,
đồng thời tìm đường lách qua lệnh cấm vận của Mỹ.

Sau Đại hội VI, các nhà lãnh đạo như Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Đỗ Mười, Võ
Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch nhận thấy nhu cầu mở cửa lớn hơn nên Charles Đức
đã được sử dụng với một vai trò mới. Tháng 3-1987, Charles Đức được lệnh bàn
giao tất cả các chức vụ trong vòng một tuần để tập trung nghiên cứu phương
thức né tránh cấm vận đồng thời viết phương án làm kinh tế đối ngoại và kêu
gọi đầu tư nước ngoài trong thời kỳ mới. Để thực hiện ý đồ này, tháng
3-1987, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Phan Văn Khải được
ông Phạm Hùng giao ký quyết định thành lập Tổng công ty Kinh doanh ngoài
nước (OFTC), trụ sở chính ở Luxembourg với 21 công ty con ở nhiều nước trên
thế giới. Ông Đức được cấp vốn một triệu USD.

Tại Thuỵ Sỹ, Charles Đức cho lập một công ty tài chính, chủ yếu huy động
kiều hối, từ đấy chuyển cho các khách hàng hoặc chuyển về Intershop, một cơ
sở vệ tinh trước đây của Imexco. Lực lượng đầu tiên mà ông Charles Đức trông
cậy là các doanh nhân và trí thức người Việt ở nước ngoài. Vài tháng sau khi
thành lập OFTC, Charles Đức qua Singapore gặp ông Võ Tá Hân, lúc ấy đang là
Tổng Giám đốc của Singapore Finance, Chủ tịch Hội Thương gia Canada tại
Singapore (CBA - Canadian Business Association). Qua trung gian của Charles
Đức, tháng 4-1988, với tư cách Chủ tịch Hội, ông Hân đưa một đoàn gồm các
thương gia của CBA về Sài Gòn.

Trước năm 1989, khủng hoảng lý luận diễn ra sâu sắc trong các trường đại
học, nhất là đối với các bộ môn liên quan đến “chủ nghĩa cộng sản khoa học”.
Sinh viên, đặc biệt là sinh viên đại học kinh tế, “chuyền tay nhau xem các
tài liệu cải cách của Liên Xô, Hungary, những bài viết về nhận thức lại chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, kể cả dự thảo văn kiện mới của Đảng. Trong
khi đó, chương trình (kinh tế) viết từ năm 1959 vô cùng lạc hậu”(317).

Theo một điều tra của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, chỉ có 17% sinh
viên được hỏi cho rằng việc học chủ nghĩa Marx-Lenin là có tác dụng. “Nguyên
nhân chính dẫn đến sự thờ ơ với việc học các môn Marx-Lenin là do nhà trường
đã đồng nhất chủ nghĩa Marx-Lenin với chính trị và dùng môn học này để minh
hoạ đường lối chính sách của Đảng”(318). Từ điều tra này, cuối năm 1988, Bộ
Đại học và Trung học chuyên nghiệp có Chỉ thị 12/CT, “bãi bỏ kỳ thi quốc gia
môn lý luận Marx-Lenin”.

Chỉ thị 12/CT đã làm dấy lên một phong trào của sinh viên Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh đòi bỏ thi tốt nghiệp môn lý luận Marx-Lenin. Một số
giảng viên đại học ở Thành phố cũng lên tiếng trên báo chí cho rằng: “Bỏ thi
tốt nghiệp môn lý luận Marx-Lenin là một đòi hỏi chính đáng của sinh viên
đại học kinh tế”(319). Ngày 7-12-1988, Bộ đã phải gửi Telex cho trường giải
thích, Chỉ thị 12/CT “không điều chỉnh” đối với ngành học kinh tế.

Ngày 10-12-1988, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh quyết định giữ
môn Kinh tế chính trị Marx-Lenin trong kỳ thi quốc gia. Ngày 23-12-1988, các
sinh viên Kinh tế năm cuối đã tổ chức một cuộc họp phản đối quyết định này.
Hai tuần sau, Hiệu trưởng Đào Công Tiến phải giải thích: “20 năm nay và
trong quy chế thi tốt nghiệp, môn Kinh tế chính trị được coi là môn thi tốt
nghiệp với tư cách là môn cơ sở của chuyên ngành kinh tế”(320).

Cho dù ông Hiệu trưởng nói như vậy và cho dù Kinh tế chính trị học
Marx-Lenin vẫn là một môn học chính trong những thập kỷ tiếp theo, ngay từ
thời điểm ấy, nhu cầu thay đổi để có được một chương trình giảng dạy bắt kịp
nhịp độ chuyển đổi từ “quan liêu bao cấp” sang nền “kinh tế thị trường” thực
sự trở thành nhu cầu tự thân của cả thầy lẫn trò.

Học gần hết chương trình phổ thông của nền giáo dục Sài Gòn, năm 1977, sinh
viên Trần Ngọc Thơ thi vào khoa Tài chính - Kế toán, trường Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh. Theo ông Thơ: “Một số sinh viên tốt nhiệp phổ thông
hoặc đã học đại học năm thứ nhất, thứ hai trước năm 1975, biết chút ít về
kinh tế thị trường rất thất vọng về những gì được dạy trong nhà trường được
gọi là đại học kinh tế”. Đầu thập niên 1980, sau khi ra trường, ông Thơ được
giữ lại làm cán bộ giảng dạy, ông kể: “Hơn 10 năm cứ dạy chính sách chế độ
là chủ yếu. Cứ nghị quyết như thế nào, mình lại lặp lại thế đó. Lúc ấy chúng
tôi cũng rất buồn. May mà có đổi mới”.

Theo Giáo sư Trần Ngọc Thơ, thế hệ của ông tiếp cận với những kiến thức về
kinh tế thị trường bắt đầu từ những bài báo trên các tờ Tuổi Trẻ và sau đó
là Lao Động Chủ Nhật của các tác giả như Phan Tường Vân, Lâm Võ Hoàng, Trần
Bá Tước…(321). Những tài liệu kinh tế học được viết trước năm 1975 tại miền
Nam của Giáo sư Nguyễn Văn Ngôn, Phó Bá Long… cũng bắt đầu được đem ra sử
dụng.

Ông Thơ thừa nhận, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội có điều kiện đổi mới hơn
và những thay đổi ở đây ảnh hưởng rất mạnh đến giáo trình của các trường
phía Nam. Trong khi đó, trong một nỗ lực cá nhân được sự hỗ trợ của các quan
chức Viện Kinh tế Thành phố, thành viên của Đoàn ông Phan Văn Khải đến
Singapore năm 1988, ông Võ Tá Hân đã chuyển về nước hàng vạn cuốn sách,
trong đó có nhiều cuốn là giáo trình các loại về kinh tế thị trường. Nhân
vật đầu tiên trong Bộ Chính trị tỏ ra am hiểu nhất về kinh tế thị trường
không phải là những người phụ trách về kinh tế mà là Bộ trưởng Ngoại giao
Nguyễn Cơ Thạch(322). Ông Nguyễn Cơ Thạch không chỉ là người trực tiếp soạn
thảo Nghị quyết 13 Bộ Chính trị khoá VI, nghị quyết mở ra một giai đoạn mới
trong chính sách ngoại giao của Việt Nam mà còn là người chủ động đưa tri
thức thị trường vào Việt Nam(323).

Sự xuất hiện của các nhà tài trợ quốc tế cũng góp phần rất đáng kể giúp cho
những kiến thức nền tảng về kinh tế thị trường được đưa tới Việt Nam. Theo
Tiến sỹ Nguyễn Đình Cung(324): “Thời đó, các nhà tài trợ không nhiều nhưng
rất quan trọng. Các dự án tài trợ bao gồm giảng dạy tại chỗ, đưa người đi
đào tạo và cung cấp tài liệu. Năm 1989, Quỹ Sida Thuỵ Điển tài trợ cho Viện
Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương tổ chức dịch bộ giáo trình Kinh tế học
của Paul Samuelson. Đây là tài liệu đầu tiên về kinh tế thị trường được dịch
và trở thành giáo trình giảng dạy chính về kinh tế ở Việt Nam kể từ sau Đổi
mới”(325).

Lớp bồi dưỡng đầu tiên về kinh tế thị trường do IMF tài trợ, mở tại Khách
sạn Giảng Võ vào đầu năm 1990(326). Lớp học chỉ mấy tuần nhưng rất có ý
nghĩa vì học viên toàn là những cán bộ cấp vụ, cấp thứ trưởng, những người
đang trực tiếp có ảnh hưởng lên quy trình hình thành chính sách ở Việt Nam
trong thời kỳ chuyển đổi. Nhiều dự án sau đó của UNDP còn giúp mở rộng đối
tượng tiếp cận với kinh tế thị trường(327).

Nguồn viện trợ của UNDP cho chương trình nâng cao năng lực quản lý được bổ
sung thêm bằng những khoản viện trợ song phương của Thuỵ Điển và Úc, thông
qua các học bổng đào tạo những bộ môn liên quan đến quản lý kinh tế và quản
lý doanh nghiệp. Những nước khác như New Zealand, Indonesia, Malaysia và Nam
Triều Tiên cũng đã hợp tác tạo điều kiện cho những chuyến khảo sát nước
ngoài trong chương trình MDP.

Năm 1990, thông qua World Bank, Chính phủ Nhật tài trợ hai học bổng đầu tiên
cho hai quan chức trẻ thuộc Bộ ngoại giao đến Harvard, một người học luật,
ông Nguyễn Quý Bính; một người học quản trị kinh doanh, bà Đinh Thị Hoa. Năm
1992, ba mươi bảy cán bộ cấp chuyên viên đang làm việc trong các cơ quan
chính phủ đã được UNDP cấp học bổng đến Anh học luật, kinh tế học, quản trị
kinh doanh và kinh tế phát triển. Từ đây, chương trình đưa người Việt Nam
đến các nước phương Tây tu nghiệp bắt đầu được các nhà tài trợ tiến hành
hằng năm.

Đặc biệt, từ ngày 20-4 đến 1-5-1992, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng phối hợp
với Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP), Viện phát triển Kinh
tế của Ngân hàng Thế giới đã tổ chức hội thảo Kinh tế Việt Nam. Đây là một
hoạt động quan trọng của dự án “Tăng cường quản lý kinh tế” do Văn phòng Hội
đồng Bộ trưởng chủ trì.

Nói là hội thảo, nhưng theo người điều hành dự án này, ông Trần Xuân Giá,
Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng: “Đây là một lớp học thực sự về kinh
tế thị trường mà các giảng viên là ba mươi chính khách, nhà khoa học nước
ngoài; các học viên là sáu mươi tư quan chức Việt Nam gồm các vị bộ trưởng,
thứ trưởng, viện trưởng và hiệu trưởng một số trường đại học kinh tế, các
chuyên viên cao cấp, các nhà khoa học, các giáo sư, các nhà hoạch định chính
sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam”.

Ông Lý Quang Diệu cũng được mời đến lớp học này như một diễn giả, tuy nhiên,
theo ông Trần Xuân Giá: “Ông Lý chỉ xuất hiện ở lớp học một lần để giới
thiệu ông Tang I Fang, người mà theo ông Lý, đã đóng một vài trò quan trọng
trong các chính sách phát triển của Singapore”(328). Trong suốt tuần lễ diễn
ra hội thảo, theo ông Trần Xuân Giá: “Ông Lý Quang Diệu trở thành khách mời
riêng của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng”. Ông Võ Văn Kiệt đích thân dẫn ông Lý
đi thăm Việt Nam và “học những bài đầu tiên” về mở cửa và kinh tế thị trường
trực tiếp từ ông Lý.




Chú thích

(276) Do Bộ Thương mại Thailand phối hợp với hai tờ báo The Nation và The
Asian Wall Street Journal.

(277) Khi đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

(278) Cho đến nhiều năm về sau, một số thành viên trong Bộ Chính trị vẫn coi
sáng kiến của Chatichai là một dạng của “diễn biến hoà bình”.

(279) Năm 1982, Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch nói Việt Nam sẽ thả hết
tù cải tạo nếu chính phủ Mỹ đồng ý tiếp nhận họ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả
lời phỏng vấn tạp chí Newsweek cũng xác nhận Việt Nam sẵn sàng để tất cả
những người còn lại trong các trại giam rời Việt Nam đi Mỹ. Tháng 9-1982,
Ngoại trưởng Mỹ Shultz - trong một cuộc điều trần trước Quốc hội - tuyên bố
Mỹ sẽ nhận khoảng 10.000 cựu tù nhân chính trị Việt Nam và gia đình họ.
Tháng 11-1984, nhân danh Tổng thống Reagan, Ngoại trưởng Shultz lại đề cập
đến vấn đề “con lai” và “tù cải tạo”. Năm 1987, lần đầu tiên, Hà Nội cho
phép một nhà báo Thuỵ Điển được vào làm phóng sự tại trại giam Nam Hà, nơi
đang giữ nhiều tướng lĩnh Sài Gòn. Tháng 7-1988, Phái đoàn Mỹ do ông Robert
Funseth, phụ tá Thứ trưởng Ngoại giao dẫn đầu tới Hà Nội họp với Thứ trưởng
Ngoại giao Trần Quang Cơ để bàn về việc trả tự do và đưa đi Mỹ định cư các
“tù nhân chính trị”.

(280) Nguyễn Hữu Hạnh, Tham luận đọc tại Đại hội III Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, năm 1988. 281 Tháng 8-1987, một Việt Kiều là Phó Chủ tịch Far East
Investment and Trading Corporation đã từ Hoa Kỳ về Việt Nam. Báo Tuổi Trẻ
ngày 4-8-1987, trong bài “luật đầu tư nước ngoài đang được chờ đợi”, gọi
chuyến đi này là “nghiên cứu thị trường”

(282) Quyết định 80-CT.

(283) Từ tháng 4-1991, công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền tham gia, lập
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân.

(284) Luật về Đầu tư Nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua tháng
12-1987, nhưng sau 3 năm, chỉ có 207 dự án được Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác
và Đầu tư cấp phép với số vốn đăng ký 1,74 tỷ đô la. Trên thực tế, tính tới
đầu năm 1991, chỉ có khoảng 400 triệu USD được đưa vào Việt Nam và đến tháng
2-1991, mới chỉ có 73 công ty nước ngoài mở văn phòng đại diện tại Việt Nam,
trong đó có 7 ngân hàng nước ngoài, 14 công ty địa ốc và 7 công ty dầu khí.
Cho tới cuối năm 1993, có hơn 500 công ty thuộc 42 nước đầu tư vào Việt Nam,
với số vốn đã đưa vào đến hết năm 1993 là 2 tỷ USD. 70% dự án đàu tư là liên
doanh với doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam, trong đó bên Việt Nam chỉ góp
25-30% vốn pháp định, chủ yếu bằng quyền sử dụng đất, nhà xưởng.

(285) Năm 1993, cả nước nhập 300.002 xe gắn máy; 5.300 xe hơi bốn chỗ, tăng
56,7% so với năm 1992.

(286) Đầu thập niên 1990s, dân số Việt Nam bắt đầu vượt qua con số 67 triệu,
trong đó: 3/5 dân số có hoạt động kinh tế liên quan đến sản xuất nông
nghiệp; 1/10 dân số lao động trong khu vực công nghiệp; 1/5 dân số sống ở
các đô thị. Hai công trình nghiên cứu quốc tế tiến hành năm 1989 đánh giá
thu nhập đầu người hàng năm của Việt Nam vào khoảng 110 USD. Báo cáo của
Liên hiệp quốc cho rằng, con số này giao động trong khoảng từ 100 - 200 USD.
Cho dù năm 1989, Việt Nam xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo; năm 1990, xuất khẩu
1,7 triệu tấn, thu về khoảng 300 triệu USD, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn
bấp bênh vì phụ thuộc chủ yếu vào thời tiết. Là một nước nông nghiệp nhưng
đất canh tác tính trên đầu người Việt Nam chỉ ở mức 0,1 ha, trong khi Ấn Độ:
0,21 ha; Thái Lan: 0,37; Sri Lanka: 0,11 ha; Banglades: 0,08 ha.

(287) Theo Bộ trưởng Lê Văn Triết: Từ giữa thập niên 1980, quan hệ làm ăn
với Đông Âu không còn đáng kể. Liên Xô trở thành chỗ dựa cuối cùng. Hàng
năm, “ông anh Hai” này vẫn cung cấp cho Việt Nam xăng dầu, phân bón, sắt
thép, máy móc và vật tư phục vụ sản xuất. Còn Việt Nam thì xuất trả cà phê,
thiếc, chổi đót, cần câu và đồ may mặc, chủ yếu may gia công cho họ đồ bảo
hộ, mũ giày, quần áo pyjamas. Thỉnh thoảng Việt Nam cũng giao muối và có khi
là chủi cùn, giẻ rách để họ lau xe. Các mặt hàng như máy bay, tên lửa mà
Liên xô cung cấp thường nằm trong nhóm những mặt hàng “viện trợ không hoàn
lại”; xi măng, sắt thép được coi là hàng “nghị định thư”, tức là hàng trao
đổi. Nhưng đến cuối năm 1988, Liên Xô không còn vật tư giao cho Việt Nam
đồng thời cũng không nhận những hàng gia công mà lâu nay họ chủ yếu nhập vì
“nghị định thư” và “tình hữu nghị”. Như đứa con bị dứt khỏi bầu sữa mẹ, nền
kinh tế của Việt Nam bị lâm vào cảnh chới với. Bế tắc quá, theo ông Lê Văn
Triết, “anh em mới bàn với nhau tìm cách bán hàng sang các nước khác”. Đúng
lúc ấy, ông Nguyễn Mạnh Cầm đang làm đại sứ tại Liên Xô về họp. Ông Cầm
nguyên là thứ trưởng Bộ Ngoại thương. Ông Triết trao đổi với ông Cầm, cả hai
đi gặp ông Võ Văn Kiệt. Tại cuộc gặp này, ông Cầm đề nghị nên “mở thêm hướng
mới, mặt trận mới”. Đề nghị này được ông Võ Văn Kiệt đồng tình, ông Kiệt
nói: “Có thân phải lo, ta không buôn bán được với xã hội chủ nghĩa thì mở
dần ra. Giam mình ở trong một thị trường không phải là điều hay. Biết đâu,
đây là thời cơ để mình độc lập”. Ông Võ Văn Kiệt dặn: “Tôi sẽ báo cáo Bộ
Chính trị, các anh cứ làm dần đi, nhưng đừng làm to vội”. Theo ông Lê Văn
Triết, phải sau khi Bộ Chính trị họp, “đa phương hoá” mới trở thành một chủ
trương cho cả quan hệ ngoại giao và thương mại. Ông Lê Văn Triết nói: “Nếu
Đông Âu, Liên xô còn chiếu cố, cung cấp hàng nhỏ giọt cho mình thì chưa chắc
mình đã thoát ra khỏi sự ỷ lại, dựa dẫm, chưa chắc đã kiên quyết đi theo
kinh tế thị trường”.

(288) Từ năm 1987, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu dầu. Năm 1989, số tiền bán
dầu từ liên doanh dầu khí Việt-Xô là 200 triệu USD; số tiền xuất khẩu gạo là
316 triệu USD; tiền xuất khẩu hải sản là 134 triệu USD. Năm 1990, tiền bán
dầu mà Việt Nam được chia là 390 triệu USD.

(289) Nhằm đảm bảo sự ổn định cho các lĩnh vực xã hội trong thời kỳ cắt giảm
biên chế, tỷ lệ chi tiêu thường xuyên dành cho các dịch vụ xã hội tăng từ
16% trong năm 1988 lên 37% trong năm 1990. Trong khi đó, Chính phủ chỉ huy
động được vào ngân sách ở mức rất thấp, chiếm từ 11 đến 13% GDP. Năm 1989,
chỉ có khoảng ½ số tỉnh, thành phố thu vuợt mức chi, có nộp cho ngân sách
cho ngân sách Trung ương, với tổng số tiền là 1066 tỷ. Trung ương phân phối
244 tỷ đồng từ số này lại cho các tỉnh thu không đủ chi. Con số Trung ương
thực nhận của các tỉnh là 822 tỷ đồng. Ngoài ra, Trung ương còn thu được
1.963 tỷ đồng thông qua các nguồn kiểm soát trực tiếp: 363 tỷ tiền thuế nhập
khẩu; 61 tỷ khấu hao của các xí nghiệp Trung ương; 639 tỷ từ các loại thu
khác như: dầu khí, hợp tác lao động với nước ngoài… Tổng số thu ngân sách
Trung ương năm 1989 là 1885 tỷ đồng. Trong năm 1989, nguồn thu của Trung
ương từ các Thành phố như Hồ Chí Minh, lên đến 57%, Hà Nội và Hải Phòng,
17%. Trong nhiều năm liền thu từ Sài Gòn luôn chiếm tới 1/3 số thu ngân
sách.

(290) Trong khi đó, do hạ tầng phát triển và điều kiện thiên nhiên ưu đãi
hơn, trong số 616 dư án đầu tư vào các khu đô thị, 53% vốn tập trung ở phía
Nam, 31% ở đồng bằng sông Hồng. Đặc biệt, 72% vốn phía Nam tập trung ở Thành
phố Hồ Chí Minh, 74% vốn phía Bắc tập trung vào Hà Nội.

(291) Mật độ dân số ở đồng bằng châu thổ sông Hồng năm 1989 lên đến 658 
người/km2 cao gần gấp đôi so với đồng bằng sông Mê Kông, 355 người/km2.
Chênh lệch về mật độ dân số dẫn đến chênh lệch về diện tích gieo trồng bình
quân đầu người: Châu thổ sông Hồng là 0,09 ha/người trong khi ở đồng bằng
sông Cửu Long là 0,17ha/người. Riêng vùng Tây Nguyên thì trong thập niên
1990s gần như đang còn hoang vu. Từ năm 1989-1994 có khoảng 542 nghìn người
từ các vùng “đất chật người đông” đến Tây Nguyên và các tỉnh khác.

(292) Lượng di dân tự do đến Sài Gòn tăng mạnh trong thập niên 1990s. Ngay
cả trong thời kỳ bao cấp, Sài Gòn vẫn là nơi hấp dẫn nhất của dân nhập cư tự
do, bên cạnh những cán bộ tập kết trở về cùng với gia đình và những người
được nhà nước điều đến công tác tại các cơ quan đóng trên địa bàn Thành phố,
vẫn có 31,8% người nhập cư thuộc thành phần này trong giai đoạn 1975-1980.
Chính sách kinh tế nhiều thành phần đã làm cho tỷ lệ dân nhập cư tự do tăng
lên 64% trong giai đoạn 1986-1990. Tỷ lệ này lên tới 81% trong giai đoạn
1991-1996, khi kinh tế thị trường bắt đầu hình thành. Kể từ năm 1992, khi
Thủ tướng có Quyết định 327, trợ cấp cho những người lên các vùng núi thực
hiện chương trình “phủ xanh đất trống đồi trọc”, lượng người di cư từ các
tỉnh miền Bắc và miền Trung càng tăng nhanh. Từ 1976-1995, cả nước có gần
4,5 triệu người đi xây dựng các vùng kinh tế mới. Trong 7 vùng kinh tế của
cả nước, đồng bằng sông Hồng và khu Bốn cũ, gồm các tỉnh từ Thanh hoá tới
Thừa thiên, là không có di dân từ vùng khác đến; Tây Nguyên và đồng bằng
sông Cửu Long, ngược lại, lại chỉ có dân từ vùng khác tới chứ không có di
dân.

(293) Nguyễn Thế Anh, Việt Nam Dưới Thời Pháp Đô Hộ, Lửa Thiêng 1970, trang
252, 253.

(294) Nguyễn Thế Anh, Việt Nam Dưới Thời Pháp Đô Hộ, Lửa Thiêng 1970, trang
252, 253.

(295) Theo Nam Phong Tạp Chí, số 32.

(296) Theo thông kê năm 1938, ở Bắc Kỳ trong số 67.761 hãng buôn phải nộp
môn bài, chỉ có 173 trả môn bài trên 100 đồng, nhưng không ai phải trả trên
800 đồng cả; ở Nam Kỳ, trong sô 57.215 người nôp môn bài thì 152 trả môn bài
trên 100 đồng song không ai phải trả quá 400 đồng. Giai cấp thương lưu chịu
ảnh hưởng các tập tục và lối sống Tây phương, thường gửi con cái đi du học ở
Pháp.

(297) Trong giai đoạn này, công nghiệp tư bản tự doanh tăng 230%; cá thể,
tiểu chủ tăng 220,2%. Năm 1957, kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tự doanh
chiếm 73,7% giá trị công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên miền Bắc.

(298) Ông bà Trịnh Văn Bô đã vận động được hơn 1 triệu đồng Đông Dương và
trực tiếp ủng hộ Quỹ 20 vạn đồng, tương đương 500 cây vàng. Gia đình ông bà
đã đóng góp 117 cây vàng và vận động được thêm trên 1.000 cây vàng nữa cho
Tuần lễ Vàng của Chính phủ Hồ Chí Minh. Ở thời điểm ấy, tổng ngân khố của
Chính phủ Cách mạng Lâm thời chỉ có 1.200.000 đồng Đông Dương, nhưng phần
đóng góp sau đó của gia đình ông Trịnh Văn Bô tổng cộng đã lên tới 5.147 
lượng vàng, tương đương với 2.000.000 đồng.

(299) Tuy có xác nhận của các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ…
năm 1988 sau khi Đại tướng Hoàng Văn Thái qua đời, gia đình ông chuyển sang
chỗ khác nhưng bà Trịnh Văn Bô vẫn không đòi được nhà mặc dù các ông Đỗ
Mười, Lê Quang Đạo, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải khi đường nhiệm đã đồng ý trả
lại nhà 34 Hoàng Diệu. Năm 2003, gia đình bà Trịnh Văn Bô đã dọn đến căn nhà
này cho dù về mặt pháp lý, hàng chục năm sau đó, Nhà nước vẫn chưa chính
thức trao trả.

(300) Theo Nguyễn Hanh, Gia đình tôi mang ơn bác Lê Đức Thọ, Lê Đức Thọ, Nhà
Xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật 2011, trang 406.

(301) Nguyễn Hanh, Gia đình tôi mang ơn bác Lê Đức Thọ, Lê Đức Thọ, Nhà Xuất
bản Chính trị Quốc gia - Sự thật 2011, trang 409.

(302) Giá trị công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của tư bản tư nhân chỉ còn
chiếm 0,4%; thủ công nghiệp cá thể chỉ còn chiếm 4,6%; tiểu thủ công nghiệp
tập thể chiếm 37%; công tư hợp doanh chiếm 4,9%; trong khi, quốc doanh tăng
từ 34%, năm 1958, lên 52,4%, năm 1960.

(303) Đào Duy Tùng, Tuyển tập, tập I, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2008,
trang 192.

(304) Điều 10, Hiến pháp 1959.

(305) Điều 12, Hiến pháp 1959.

(306) Điều 13, Hiến pháp 1959.

(307) Điều 16, Hiến pháp 1959.

(308) Điều 17, Hiến pháp 1959.

(309) Điều 18, Hiến pháp 1959.

(310) Người miền Nam gọi là “Viết mực”.

(311) Ngày 21-12-1985, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao ra quyết định đình chỉ
điều tra, thừa nhận Vua Lốp vô tội và yêu cầu Hà Nội trả lại tài sản cho gia
đình ông. Sáu năm sau, ngày 1-9-1990, Chủ tịch Hà Nội Lê Ất Hợi mới ký công
văn số 4071 trả lại tài sản và nhà cho ông Chẩn. Căn nhà của ông ở ngõ 135 
Đội Cấn có khuôn viên rộng 917m2, sau bảy năm kê biên bị lấn chiếm chỉ còn
trên 200m2. Nhưng đau đớn hơn, từ năm 1983, con cái của Vua Lốp đã phải chịu
thất học. Năm 1991, một người con của ông mở lại xưởng làm lốp xe, hoạt động
thêm được 5 năm. Người con này về sau chuyển sang kinh doanh ngành in. Ông
Chẩn trở lại ngõ 135 Đội Cấn đặt hai bàn bi-da bình dân kiếm sống.

(312) Chủ Công ty Hừng Sáng.

(313 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

(314) Chịu trách nhiệm chính là Chủ tịch HĐBT Đỗ Mười và Phó chủ tịch Võ Văn
Kiệt. Công việc chuẩn bị chủ yếu do ông Phan Văn Khải, tổ trưởng Biên tập,
ông Trần Đức Nguyên tổ phó, cùng các ông Lê Đức Thuý, Lưu Quang Hồ, Lương
Xuân Kỳ và Đào Công Tiến trực tiếp soạn thảo.

(315) Về mặt thuật ngữ, so với Trung Quốc, Đảng cộng sản Việt Nam đi trước
một bước. Trung Quốc lúc này vẫn sử dụng thuật ngữ của Trần Vân: “Kinh tế
thị trường có kế hoạch”.

(316) “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội” định nghĩa “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng” là một xã
hội: “Do nhân dân lao động làm chủ; Có một nền kinh tế phát triển cao dựa
trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất
là chủ yếu; Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người được
giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao
động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện
cá nhân”. Trong khi, “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến
năm 2000” viết: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thực hiện
dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ,
nhân ái, có văn hoá, có kỷ cương, xoá bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho
mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”. Nền kinh tế mà “Cương lĩnh”
phát triển “dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các
tư liệu sản xuất chủ yếu”. Nền kinh tế mà “Chiến lược” hướng tới “vận động
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch,
chính sách và các công cụ khác”. Nếu như, “Cương lĩnh” xác định “nhân dân
lao động làm chủ” xã hội; thì “Chiến lược” loại bỏ yếu tố giai cấp bằng cách
chỉ nói “nhân dân làm chủ”. “Cương lĩnh” đòi “xoá bỏ áp bức, bóc lột và bất
công”, “Chiến lược” chỉ kêu gọi “xoá bỏ áp bức và bất công”. Theo ông Trần
Đức Nguyên: “Giữa chủ tư bản và người lao động vừa có mâu thuẫn vừa có lợi
ích. Luật pháp bảo vệ người làm thuê nhưng thu nhập hợp pháp của chủ tư bản
cũng không thể nào bị coi là bóc lột”. “Lợi ích cá nhân” vốn là một trong
những yếu tố bị phê phán dưới thời “xây dựng con người mới Việt Nam xã hội
chủ nghĩa”. Đã được những nhà soạn thảo “Chiến lược” nhấn mạnh: “Lợi ích của
mỗi người, của từng tập thể và của toàn xã hội gắn bó hữu cơ với nhau, trong
đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp”. Không chỉ cố gắng đưa ra một định
nghĩa tiết giảm tối đa cách hiểu kinh điển về chủ nghĩa xã hội, những người
soạn thảo “Chiến lược” đã khéo léo lồng vào văn kiện của Đảng các đặc trưng
cơ bản của nền kinh tế thị trường.

(317) Phúc Tiến, Tuổi Trẻ số ra ngày 29-12-1988.

(318) Phúc Tiến, Tuổi Trẻ 15-10-1988.

(319) Võ Văn Sen, Tuổi Trẻ 20-12-1988.

(320) Đào Công Tiến, Tuổi Trẻ 7-1-1989.

(321) Các thành viên thuộc “Nhóm Thứ Sáu”

(322) Khi phân tích nguyên nhân lạm phát trong cuộc họp Bộ Chính trị, từ
ngày 19 đến 20-2-1986, ông Thạch nói: “Trong mười năm, 1976-1985, tổng sản
phẩm xã hội tăng có 60% trong khi lượng tiền lưu thông tăng 43 lần. Đó là
nguyên nhân lớn nhất của việc tăng giá. Ở nước ta lạm phát kéo dài trên 10 
năm. Trên thế giới, có rất ít nước lạm phát kéo dài tới 10 năm”. Đặc biệt,
cũng trong phát biểu này, ông Nguyễn Cơ Thạch nói thẳng: “Sức mạnh kinh tế
của chủ nghĩa xã hội và sức mạnh của nền chuyên chính vô sản cũng không thể
đi ngược lại với những quy luật kinh tế. Nếu chúng ta tuân thủ quy luật kinh
tế và biết lợi dụng nó có lợi cho chủ nghĩa xã hội thì chúng ta có thể phát
huy sức mạnh của quy luật kinh tế”.

(323) Theo ông Vũ Khoan, khi ấy là Vụ trưởng vụ Kinh tế Bộ ngoại giao, giữa
thập niên 1980 khi khủng hoảng lên đến đỉnh cao sau vụ “giá-lương-tiền”, ông
Nguyễn Cơ Thạch tham gia một ban trong Bộ Chính trị nghiên cứu tìm cách tháo
gỡ. Ông Thạch giao cho vụ Kinh tế tìm hiểu nền kinh tế thế giới, tìm hiểu
các trận đại lạm phát trên thế giới. Ông Vũ Khoan nói: “Anh Thạch giao cho
tôi và Nguyễn Trung, cùng một số chuyên viên đi tìm hiểu ở những nơi đã từng
có lạm phát như Hungaria (1940), Liên Xô (1920). Anh Thạch cho mời các
chuyên gia Việt Kiều, đặc biệt là anh Vũ Quang Việt về, ngồi với chúng tôi
ngày đêm để phân tích, đánh giá”.

(324) Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.

(325) Một bản khác được nói là do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch mang
vào và tổ chức dịch.

(326) Đầu năm 1989, phái đoàn chuẩn bị dự án đầu tiên của UNDP đến Việt Nam
và các dự án bắt đầu được khởi động từ tháng 10- 1990. UNDP đóng một vai trò
quan trọng trong việc viện trợ cho quá trình đổi mới, giúp khôi phục lại các
chương trình viện trợ song phương và đa phương của các nước DAC, tổ chức các
hội nghị bàn tròn về viện trợ cho Việt Nam.

(327) Các dự án đào tạo được UNDP tiến hành hoặc hợp đồng với Viện phát
triển Kinh tế (EDI) của Ngân hàng thế giới tiến hành cũng đã tạo ra những
chuyển biến quan trọng từ bên trong. Đội ngũ cán bộ của Văn phòng Hội đồng
Bộ trưởng là nhóm đối tượng đầu tiên của Dự án. “Nhóm đối tượng” tiếp theo
mà dự án của UNDP nhắm tới là trường Đại học Kinh tế quốc dân ở Hà nội và
trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh. Các khoá đào tạo được UNDP tổ chức bao
gồm: Kinh tế thị trường và vai trò của chính phủ; Quản lý kinh tế vĩ mô và
kinh tế thị trường… Các khoá đào tạo đã được tổ chức ở Hà Nội và Sài Gòn,
mỗi khoá có từ 60 đến 90 học viên chính thức cùng với một số lượng tương
đương học viên dự thính qua hệ thống truyền hình video. Chương trình còn có
những học bổng đào tạo sau đại học và cao học cũng như những chuyến khảo sát
nước ngoài cho các cán bộ cao cấp; tổ chức những hội thảo cấp Bộ trưởng về
quản lý kinh tế vĩ mô và kinh tế học của quá trình đổi mới (tháng 4-1992).
Ngoài ra còn có một khoá 5 tuần về kinh tế thị trường và quản trị kinh doanh;
một khoá “đào tạo cho những người làm công tác đào tạo” về quản lý kinh tế
vĩ mô và kinh tế thị trường.

(328) Ông Tang I Fang bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là một quan
chức của Liên Hợp Quốc, từng là người lãnh đạo chương trình nghiên cứu công
nghiệp của Liên Hợp Quốc. Năm 1965, ông công tác với tư cách là cố vấn và
trở thành giám đốc hội đồng phát triển Kinh tế Singapore, sau đó trở thành
chủ tịch của FDB.

Chương 17 Tam quyền không phân lập

Ngày 29-11-1991, khi phát biểu trước Hội nghị Trung ương 2 bàn về sửa đổi hiến
pháp, Tổng bí thư Đỗ Mười nhấn mạnh: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, không
phân chia, nhưng có phân công rành mạch”(329). Đây là một thời điểm hiếm hoi mà
Đảng Cộng sản Việt Nam rơi vào tình thế hoàn toàn độc lập vì chưa biết lấy ai
làm chỗ dựa(330). Nhưng cho dù đơn độc, ý thức hệ chứ không phải là tương lai
dân tộc đã được lựa chọn. Hiến pháp 1992, vì thế, đã không tiếp cận được những
mô hình nhà nước tiến bộ để trở thành nền tảng cho Việt Nam xây dựng nhà nước
pháp quyền. Nửa thế kỷ, bốn hiến pháp

Không phải tự nhiên mà Tổng bí thư Đỗ Mười nhấn mạnh “quyền lực nhà nước là
thống nhất”. Trên các diễn đàn góp ý dự thảo hiến pháp lúc bấy giờ bắt đầu xuất
hiện khái niệm “tam quyền phân lập”, đồng thời có nhiều ý kiến đề nghị khôi phục
tinh thần Hiến pháp 1946.

Cho dù Hiến pháp 1946 được mô tả như là “hiến pháp của Hồ Chí Minh”, việc khôi
phục nó chưa bao giờ được công khai đưa ra(331). Tuy không thiết kế một nhà nước
hoàn toàn theo mô hình “tam quyền phân lập”, Hiến pháp 1946 đã không hề có bóng
dáng của nhà nước Xô viết. Quyết tâm chính trị lớn nhất lúc đó của Đảng Cộng sản
Việt Nam là kiên định lập trường xã hội chủ nghĩa.

Trên thực tế, chiến tranh nổ ra chỉ một tháng mười ngày sau khi Hiến pháp 1946 
được Quốc hội thông qua. Bản Hiến pháp vì thế chưa được công bố(332) và cuộc
tổng tuyển cử bầu Nghị viện Nhân dân chưa được tiến hành. Quốc hội lập hiến đứng
ra đóng vai trò của Nghị viện, xưng là Quốc hội khoá I. Chính phủ Liên hiệp Lâm
thời tiếp tục vai trò, nhưng tất nhiên không còn các thành viên của Việt Cách và
Việt Quốc(333).

Sau Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương, năm 1951, Chính phủ Hồ Chí
Minh bắt đầu thể hiện bản chất chính quyền của một nhà nước giai cấp thay vì
chính quyền của các thành phần nhân dân như giai đoạn tập hợp lực lượng ban đầu.
Tinh thần của Hiến pháp 1946 đã hoàn toàn biến mất khi ngày 4-12-1953 Quốc hội
“khoá I” ban hành Luật Cải cách ruộng đất, tước đoạt ruộng đất của những người
bị quy là địa chủ, trái với Điều thứ 12: “Quyền tư hữu của công dân Việt Nam
được bảo đảm”.

Quyền tự do ngôn luận mà Hiến pháp 1946 minh định, và trên thực tế khi ấy đang
được thi hành dựa trên chế độ báo chí của chính quyền thực dân Pháp, cũng bắt
đầu bị hạn chế sau ngày 14-12-1956, ngày Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh về Chế độ báo
chí. Những người còn lại trong Quốc hội được bầu tháng 1-1946 cũng đã đưa tay
“khai tử” đứa con đáng tự hào nhất của mình. Năm 1959, Hiến pháp 1946 bị thay
thế, bất chấp nguyên tắc sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức: “Do hai phần ba
tổng số nghị viên yêu cầu; Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi;
Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân
phúc quyết”(334).

Mặc dù Hồ Chí Minh đặt vấn đề xây dựng hiến pháp rất sớm(335), Hiến pháp 1959 
mới thực sự là hiến pháp của ông. Việc thay thế Hiến pháp 1946 chỉ thực sự được
triển khai sau khi Hồ Chí Minh đi dự Hội nghị các đảng cộng sản và phong trào
công nhân quốc tế tổ chức vào tháng 11-1957 tại Moscow, cùng ký “Tuyên bố chung”
thừa nhận: “Kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Liên Xô trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản có ý nghĩa nguyên tắc đối với toàn bộ phong
trào cộng sản quốc tế”(336).

Nhà nước “dân chủ cộng hoà, tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân
dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn
giáo”(337) theo Hiến pháp 1946 đã được thay thế bằng một nhà nước “dựa trên nền
tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo”(338) theo Hiến pháp
1959.

Trong Lời nói đầu, Hiến pháp 1959 viết: “Nhân dân ta quyết tăng cường hơn nữa sự
đoàn kết nhất trí với các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa đứng đầu là
Liên Xô vĩ đại… Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chủ tịch Hồ Chí Minh”(339). Nếu như Hiến pháp
1946 nhấn mạnh đến bình đẳng và tự do của người dân thì Hiến pháp 1959 nhấn mạnh
“trừng trị mọi hành động phản quốc, chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chống lại
sự nghiệp thống nhất Tổ quốc”(340). Công dân Việt Nam bắt đầu được khuyến cáo:
“Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi ích của Nhà
nước”(341).

Hiến pháp 1959 tồn tại hai mươi năm trong giai đoạn miền Bắc dồn sức cho chiến
tranh, ít ai có điều kiện để quan tâm tới việc thực thi pháp luật. Sau chiến
thắng năm 1975, sau khi “hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên
làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”(342), tháng 7-1976,
Quốc hội đổi tên nước từ “Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” thành “Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam” và xác định: “Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cần có một
bản hiến pháp thể chế hoá đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn
mới. Đó là hiến pháp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả
nước”(343).

Ngôn từ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã được đưa thẳng vào Lời nói đầu của Hiến pháp 1980. Trong khi súng
đạn đang nổ hàng ngày ở hai đầu biên cương, ở hậu phương, dân chúng lại bị hô
hào “tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng”(344).

Hiến pháp 1980 thực chất là một bản Hiến pháp 1959 nâng cao theo hướng “nhà nước
chuyên chính vô sản”. Cách tiếp thu kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa
cũng khá vội vàng. Ông Nguyễn Đình Lộc kể: “Khi Chủ tịch Trường Chinh đi nghiên
cứu tại các nước Đông Âu, họ trình bày mô hình hội đồng nhà nước mà họ đang áp
dụng như là một mô hình đầy tính ưu việt. Mình về, bê gần như nguyên xi vào hiến
pháp mới. Không ngờ, họ nói với mình vậy nhưng chỉ sau đó không lâu họ sửa vì mô
hình ấy nhập nhằng vai trò giữa Quốc hội và nhà nước”(345).

Hiến pháp 1980 trở thành một bản hiến pháp “đoản mệnh”. Từ tháng 3-1989, Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 6, khoá VI, bắt đầu đặt vấn đề: “Cần rà soát lại các
văn bản pháp quy hiện hành (kể cả Hiến pháp), bổ sung và sửa đổi những điểm cần
thiết theo tinh thần đổi mới”(346). Ngày 30-6-1989, Nghị quyết Trung ương 6 đã
được Quốc hội Khoá VIII triển khai với tinh thần cải cách cao hơn: Sửa đổi Hiến
pháp 1980 “một cách toàn diện”. Cũng trong kỳ họp ấy, Quốc hội quyết định thành
lập Uỷ ban Sửa đổi Hiến pháp, cử ông Võ Chí Công(347) làm chủ tịch. Quốc hội có
vai trò hơn

Cho dù vẫn bị “lãnh đạo” liên tục từ hậu trường, ở thời điểm hình thành Hiến
pháp 1992, Quốc hội Việt Nam bắt đầu có tiếng nói. Đây cũng là một thành quả
quan trọng của “đổi mới”. Trong nhiều thập niên trước đó, Quốc hội Việt Nam chỉ
tồn tại trên hình thức.

Quốc hội đầu tiên của người Việt Nam đã ra đời trong một hoàn cảnh khá là đặc
biệt. Trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, 333 đại biểu Quốc hội đã được bầu
từ hàng ngàn ứng cử viên. Tuy Việt Minh kiểm soát chặt chẽ tiến trình bầu cử
nhưng việc cho ứng cử tự do đã giúp cho cuộc bầu cử mang một hình ảnh dân
chủ(348). Tại các đơn vị bầu cử, số lượng ứng cử viên đông hơn gấp nhiều lần số
đại biểu được bầu. Tỉnh Quảng Nam được bầu mười lăm đại biểu nhưng có tới bảy
mươi tám ứng cử viên. Ở Hà Nội, nơi Hồ Chí Minh ứng cử, được bầu sáu đại biểu
nhưng có tới bảy mươi bốn người ra ứng cử.

Về danh nghĩa, đây là một cuộc bầu cử đa đảng. Tuy nhiên, những người trúng cử
đều thuộc thành phần Việt Minh, hoặc các cảm tình viên của Việt Minh và những
người được Hồ Chí Minh đưa vào các đảng được lập ra theo chủ trương của
ông(349).

Trước đó, vào tháng 9-1945, cùng với hai mươi vạn quân Trung Hoa Dân quốc do
tướng Lư Hán và Tiêu Văn chỉ huy sang Việt Nam với danh nghĩa giải giáp quân đội
Nhật, tổ chức Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Cách) do nhà cách mạng
Nguyễn Hải Thần lãnh đạo cũng theo về(350). Trước sức ép của Tiêu Văn và Lư Hán,
con người “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh đã lấn át nguyên tắc “thần
linh pháp quyền” mà ông cùng tuyên bố trong “Việt Nam yêu cầu ca”. Ngày
24-12-1945, trong Hội nghị liên tịch đảng phái, Hồ Chí Minh đã đồng ý dành năm
mươi ghế đại biểu Quốc hội cho Việt Quốc, hai mươi ghế cho Việt Cách.

Ông Vũ Đình Hòe nhận xét: “Bổ sung bảy mươi ghế Quốc hội mà không thông qua
tuyển cử bổ sung thì thật là trái ngược với các văn bản Nhà nước về bầu cử Quốc
hội. Pháp chế dân chủ không cho phép làm như vậy”(351). Theo ông Vũ Đình Hòe:
“Bác Hồ có hỏi ý kiến tôi và Phan Anh về khía cạnh kỹ thuật, pháp lý, chúng tôi
trả lời, để đảm bảo tôn trọng nguyên tắc dân chủ: Quốc hội quyết định tất
cả”(352). Thế là trước phiên họp đầu tiên của Quốc hội, bảy mươi đại biểu không
qua bầu cử này đứng bên ngoài chờ Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo và xin Quốc hội
chuẩn y. Các đại biểu Việt Minh đương nhiên tán thành lãnh tụ Hồ Chí Minh. Bảy
mươi đại biểu Việt Quốc, Việt cách được mời vào Hội trường, Quốc hội vỗ tay hoan
nghênh. Về sau họ được gọi là đại biểu “truy nhận”.

Tuy nhiên, khối đoàn kết dân tộc không thiết lập trên nền tảng “pháp chế dân
chủ” thì cũng không tồn tại lâu bền. Tháng 7-1946, tranh chấp gay gắt giữa Việt
Minh và các phe phái đối lập diễn ra. Các cơ sở của các đảng phái đối lập, đặc
biệt là của Việt Cách, bị Việt Minh tấn công, nhiều đại biểu của Việt Cách bị
bắt. Nguyễn Hải Thần cùng nhiều đồng chí khác của ông trong Việt Cách, cùng Vũ
Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam và nhiều “đại biểu” Việt Quốc khác đã phải bỏ trốn,
nhiều người phải quay trở lại Trung Quốc. Trong số năm mươi đại biểu “truy nhận”
của Việt Quốc về sau chỉ có Trần Văn Cầu được công nhận là “đủ tư cách đại biểu
Quốc hội”. Trong số hai mươi đại biểu của Việt Cách chỉ có sáu đại biểu: Lê Viết
Cương, Đinh Chương Dương, Lý Đào, Ngô Văn Hợp, Nguyễn Văn Lưu, Trần Tấn Thọ,
được công nhận “đủ tư cách”. Số còn lại đã bị Quốc hội truất quyền đại
biểu(353).

Trong số 403 đại biểu được công nhận trong kỳ họp đầu tiên vào ngày 2-3-1946,
đến giữa năm 1946 chỉ còn 291 người, và tháng 11-1946 khi bỏ phiếu thông qua
Hiến pháp 1946, Quốc hội chỉ còn lại 242 người. Quốc hội được bầu ngày 6-1-1946,
theo tinh thần của Hiến pháp 1946, chỉ là một Quốc hội lập hiến. Tuy nhiên, lấy
lý do chiến tranh, Hiến pháp 1946 đã không được công bố, “Nghị viện Nhân dân” đã
không được bầu để thay thế. Quốc hội lập hiến, kể từ sau Hiến pháp 1959, được
gọi là Quốc hội Khoá I.

Tập hợp được một đội ngũ trí thức tiêu biểu, từng thông qua bản Hiến pháp 1946 
danh tiếng, nhưng trong suốt sáu năm đầu, Quốc hội gần như không hoạt động. Để
rồi sau đó bắt đầu đi ngược lại những gì thiêng liêng mà các đại biểu đã từng
gửi gắm trong Hiến pháp 1946: Từ ngày 1-12 đến ngày 4-12-1953, các đại biểu có
mặt ở Việt Bắc được nhóm họp để hợp thức hoá cuộc “đấu tranh giai cấp” của Đảng
bằng việc thông qua Luật Cải cách ruộng đất(354). Từ năm 1954, sau khi phê chuẩn
Hiệp định Geneva, chia hai Việt Nam ở Vĩ tuyến 17, Quốc hội Khoá I trở thành
Quốc hội của Nhà nước nắm quyền trên miền Bắc(355).

Cũng như Xô viết Tối cao của Liên Xô hay Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc của
Trung Quốc, cho dù Hiến pháp vẫn ghi những quyền hành long trọng, Quốc hội Việt
Nam, từ khoá II, chủ yếu thực hiện ba chức năng: Thể chế hoá hay nói chính xác
hơn là hợp thức hoá đường lối chủ trương của Đảng - chức năng mà Hiến pháp gọi
là “lập pháp”; trình diễn sự ủng hộ nhân danh “của dân” đối với Đảng và Chính
phủ(356); trình diễn khối đại đoàn kết toàn dân. Ngoài những đạo luật cơ cấu lại
mô hình nhà nước theo Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 mà Quốc hội Khoá II và
Khoá VII phải làm, từ đầu thập niên 1960 cho đến cuối thập niên 1980 quyền lực
công được vận hành chủ yếu theo mô hình nhà nước Đảng. Quốc hội có rất ít việc
phải “hợp thức hoá”. Các chỉ thị, nghị quyết gần như có hiệu lực thi hành ngay
sau khi được Đảng ban hành(357).

Chức năng quan trọng nhất của Quốc hội là nhất trí. Từ khoá VII trở về trước,
Quốc hội thường chỉ họp mỗi năm một lần, mỗi lần chỉ kéo dài từ ba đến bốn ngày.
Do tính long trọng của Quốc hội thống nhất, kỳ họp thứ nhất của khoá VI mới kéo
dài chín ngày; kỳ họp thứ nhất của khoá VII kéo dài mười ngày. Quốc hội Việt Nam
cũng có hình thức họp tổ - bao gồm một số đoàn đại biểu - như Xô viết Liên Xô. Ở
Quốc hội Việt Nam, thảo luận tổ lúc đầu chủ yếu giúp phát hiện những ý kiến khác
với “tinh thần lãnh đạo” để mà “chấn chỉnh”. Ở Xô viết Liên Xô thời Stalin,
những người phát biểu như thế có thể bị thanh trừng. Những ai được chọn phát
biểu trong các phiên họp toàn thể đều phải gửi tham luận trước cho Văn phòng,
Tổng Thư ký Quốc hội sẽ đọc duyệt, nhằm đảm bảo không để xuất hiện trên Hội
trường những ý kiến “lệch lạc”.

Chức năng trình diễn khối đoàn kết toàn dân được thể hiện cả bằng xương, bằng
thịt: công, nông, binh, dân tộc(358). Công nhân, nông dân cơ cấu trong Quốc hội
từ khoá VIII trở về trước là theo nghĩa đen. Có đại biểu Quốc hội là thợ rèn,
thợ tiện. Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh còn có đại biểu là một nữ công nhân quét
rác. Ông Hồ Giáo, một người chăn bò nổi tiếng, được đưa vào ngồi trong Quốc hội
tới ba khoá liền (IV, V, VI). Ông Giáo thừa nhận, vốn ít học và những năm ấy vẫn
độc thân, nên ông dồn tất cả tình cảm, tâm trí và sức lực cho những con bò mà
ông yêu quý. Những lần đi dự họp Quốc hội, theo ông Hồ Giáo, ông phải rất gắng
gượng, mỗi khi Quốc hội cần ông lên diễn đàn phát biểu để chụp hình, có người sẽ
viết sẵn cho ông bài phát biểu. Sự chuyển động của Quốc hội - từ vai trò trang
trí cho chế độ đến chỗ trở thành một diễn đàn, nơi các đại biểu có thể bày tỏ
khát khao quyền lực - không nằm ngoài ảnh hưởng của những chính sách đổi mới
trong Đảng, nhưng bản lĩnh của từng cá nhân lãnh đạo Quốc hội đã đóng một vai
trò quyết định.

Từ khoá VII, tuy bầu không khí chính trị vẫn rất chuyên chính, và chức vụ chủ
tịch Quốc hội cũng không có nhiều quyền lực cả trên thực tế và lý thuyết, Luật
sư Nguyễn Hữu Thọ(359) đã làm được một cuộc “cách mạng hình thức” cho Quốc hội.
Ngày 24-6-1981, khi nắm quyền điều khiển kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá VII, Luật
sư Nguyễn Hữu Thọ đã mời các uỷ viên Bộ Chính trị, những người trong các nhiệm
kỳ trước vẫn ngự trị trên các dãy ghế Chủ tịch Đoàn, rời khỏi lễ đài. Quyền chủ
trì các phiên họp Quốc hội, từ hôm đó, được trả lại cho chủ tịch và các phó chủ
tịch Quốc hội.

“Cuộc cách mạng” này về sau đã không chỉ tạo ra sự thay đổi về mặt hình thức.
Ngay trong nhiệm kỳ thứ VII, tại kỳ họp thứ 10 vào cuối năm 1985, Đại biểu Đào
Thị Biểu, tỉnh uỷ viên tỉnh Cửu Long, thay vì đọc bản tham luận được “duyệt”
trước, đã “rút từ lưng quần” ra một bài phát biểu khác, nêu đích danh những cá
nhân mà theo bà, phải “chịu trách nhiệm trước nhân dân” trong vụ “giá - lương -
tiền”. Sau tham luận về những sai lầm trong cải cách ruộng đất của Luật sư
Nguyễn Mạnh Tường đọc tại Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bản tham luận
của bà Đào Thị Biểu đã đưa “sóng gió” nghị trường trở lại.

Dù vậy, Quốc hội chỉ bắt đầu trở thành một diễn đàn kể từ khoá VIII, được bầu
vào ngày 19-4-1987, gần bốn tháng sau Đại hội Đảng lần thứ VI. Ở kỳ họp thứ
nhất, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã làm không ít đồng chí của ông ngạc nhiên
khi đưa bà Ngô Bá Thành(360) lên làm chủ nghiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội.
Chức danh chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội được xếp ngạch tương đương hàm Bộ
trưởng, và bà Thành trở thành người đầu tiên từng cộng tác với chế độ Sài Gòn
đạt được vị trí này(361). Sự kiện ba mươi ba đoàn đại biểu Quốc hội, đa số là
các đoàn miền Nam, giới thiệu ông Võ Văn Kiệt ra tranh cử chức chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng với ông Đỗ Mười (tháng 6-1988) dù không trở thành một tiền lệ vẫn cho
thấy các đại biểu đã không còn đến Hội trường Ba Đình để chỉ giơ tay như trước.

Chủ tịch Lê Quang Đạo(362) đã đóng một vai trò quan trọng trong những bước dân
chủ hoá đầu tiên của Quốc hội. Ông Lê Quang Đạo vốn là trung tướng, phó chủ
nhiệm Tổng cục Chính trị, nhưng khi trở thành chủ tịch, ông đã điều hành các
phiên họp Quốc hội một cách mềm mỏng và uyển chuyển. Thay vì đứng trên Quốc hội
theo thứ bậc trong Đảng, bằng sự trung thực và lịch lãm của một nhà cách mạng,
ông Đạo giúp các đại biểu có cảm giác an toàn khi đưa ra ý kiến của mình. Cách
điều khiển phiên họp của ông Lê Quang Đạo đã tạo ra đột phá trong sinh hoạt nghị
trường, thu hút được sự chú ý của công chúng vào Quốc hội.

Lịch sử chất vấn chắc chắn phải được đánh dấu bởi sự kiện ngày 20-12-1991, ngày
làm việc trên hội trường của kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá VIII. Hôm đó, sau khi
đọc xong một bản báo cáo, Bộ trưởng Tài chính Hoàng Quy đã định xách cặp đi
xuống, nhưng Chủ tịch Lê Quang Đạo yêu cầu ông đứng lại. Cả hội trường xôn xao.
Hàng chục đại biểu đưa tay xin đặt câu hỏi. Cuộc chất vấn trực tiếp đầu tiên của
Quốc hội Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã diễn ra như vậy suốt hai giờ liền.

Sự xuất hiện của ông Vũ Mão vào năm 1987 với vai trò chủ nhiệm Văn phòng Quốc
hội và Hội đồng Nhà nước cũng đã tạo ra những thay đổi không nhỏ trong cơ quan
này(363). Những đóng góp làm thay đổi Quốc hội của ông Vũ Mão thường bắt đầu từ
bản tính thích tìm tòi cái mới của ông. Trước đây, khi Quốc hội biểu quyết
“quyết định những vấn đề lớn của đất nước”, chủ tịch đoàn kỳ họp chỉ cần hỏi “ai
đồng ý giơ tay?” là lập tức cả hội trường giơ tay; rồi chủ tịch đoàn lại hỏi “ai
không đồng ý giơ tay?” là có thể tuyên bố “một trăm phần trăm” ngay. Nhưng vào
cuối thập niên 1980, khi Quốc hội phải biểu quyết việc chia lại địa giới hành
chính của các tỉnh, có những phiên biểu quyết hàng trăm người giơ tay “không
đồng ý”. Trưởng đoàn thư ký, luôn là ông Vũ Mão, không còn nhàn hạ hô “trăm phần
trăm” nữa.

Năm 1989, ông Mão quyết định đặt hàng bên quân đội thiết kế cho Quốc hội máy đếm
khi biểu quyết. Chiếc máy đếm đầu tiên mà Quốc hội Việt Nam sử dụng chỉ có hai
nút, “đồng ý” và “không đồng ý”. Những con số tăng, giảm, ngập ngừng trên bảng
điện đã tạo thêm kịch tính cho hoạt động Quốc hội. Đầu thập niên 1990 tranh luận
xuất hiện thường xuyên hơn trên diễn đàn, nhất là thời gian Quốc hội thông qua
hiến pháp(364).

Cũng thời gian đó, khi thăm Nghị viện Đài Loan, ông Vũ Mão “phát hiện” máy đếm
của họ có ba nút: “đồng ý”, “không đồng ý” và “không biểu quyết”. Theo ông
Nguyễn Sỹ Dũng người tháp tùng ông Mão trong chuyến đi này, ông Vũ Mão quyết
định thiết kế máy biểu quyết mới “theo chuẩn quốc tế”. Nhưng trên ông Vũ Mão lúc
đó còn có một chức danh trung gian: tổng thư ký Quốc hội và Hội đồng Nhà nước.
Nắm chức vụ này lúc bấy giờ là ông Nguyễn Việt Dũng, một con người cực kỳ nguyên
tắc(365). Trước một chuyến công tác, ông Vũ Mão giao cho Thư ký Nguyễn Sỹ Dũng
phải thuyết phục ông Nguyễn Việt Dũng.

Thay vì gặp tổng thư ký, ông Sỹ Dũng thảo một tờ trình để một phó chủ nhiệm Văn
phòng ký đưa thẳng lên chủ tịch Quốc hội. Ông Lê Quang Đạo nhất trí liền. Nhưng
để lệnh của chủ tịch có thể thi hành, vẫn phải qua tổng thư ký. Ông Sỹ Dũng lại
phải đi gặp ông Việt Dũng. Vừa nghe tới cái nút thứ ba, “không biểu quyết”, ông
Việt Dũng nói: “Không được, đã là đảng viên thì chính kiến phải rõ ràng”. Ông Sỹ
Dũng thuyết phục: “Không nên đẩy những người đang cân nhắc vào thế phải ủng hộ
hay chống. Cháu vẫn cho rằng những người không biểu quyết vẫn tích cực hơn là
chống ạ”. Ông Việt Dũng: “Mày mới về đây, biết gì”. Ông Sỹ Dũng đành nói thẳng:
“Thưa bác, Chủ tịch Lê Quang Đạo đã đồng ý rồi”. Phàm là những người nguyên tắc
thì nguyên tắc quan trọng nhất mà họ tuân thủ là cấp trên, nghe tới đó, ông Việt
Dũng nói: “Chủ tịch đã đồng ý thì cứ thế mà làm”.

Khi mới về Văn phòng, ông Nguyễn Sỹ Dũng tìm thấy trong đống thư từ có một bức
thư của Liên minh Quốc hội Thế giới gửi cho Quốc hội các nước giới thiệu chương
trình tài trợ giúp “nâng cao năng lực các thiết chế dân chủ”(366). Nguyễn Sỹ
Dũng xin phép ông Vũ Mão cho “mở rộng hợp tác quốc tế”, ông Vũ Mão đồng ý. Ông
Dũng soạn một lá thư đứng tên bà Nguyễn Thị Bình, chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại
Quốc hội. Bức thư được bà Bình ký gửi đi. Mấy tháng sau, Liên minh Quốc hội Thế
giới cử ông Martin Chungong, một chuyên gia người châu Phi tới Việt Nam.

Chương trình hợp tác đầu tiên ký với tổ chức này đã giúp Văn phòng Quốc hội lập
mạng máy tính và lắp đặt phần mềm ghi tốc ký biên bản. Quốc hội trở thành cơ
quan nhà nước đầu tiên sử dụng máy tính ở Việt Nam, và kể từ lúc đó, từng lời
phát biểu trên hội trường của các đại biểu được ghi lại và lưu trữ. Từ năm 1993,
Văn phòng Quốc hội bắt đầu tiếp nhận sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế thông qua
các hoạt động hợp tác: dự án nâng cao năng lực các thiết chế dân chủ của Liên
minh Quốc hội Thế giới, các dự án nâng cao năng lực thể chế của UNDP, dự án hỗ
trợ các cơ quan dân cử của Đan Mạch, dự án phát triển thông tin công chúng và
năng lực giám sát của Thuỵ Điển(367).

Tiến trình này đã ảnh hưởng sâu sắc tới Quốc hội Việt Nam. Toàn bộ các khái niệm
truyền thống và hiện đại về nghị viện, về thông tin công chúng, kiến thức chuyên
sâu về công cụ và hiệu năng giám sát của Quốc hội, kiến thức căn bản về lập
pháp, về nhà nước pháp quyền, chức năng đại biểu… đã đến với Quốc hội Việt Nam
thông qua các dự án hợp tác quốc tế(368).

Cuộc chất vấn trực tiếp (Bộ trưởng Tài chính Hoàng Quy) diễn ra ngày 20-12-1991 
sẽ không thu hút sự chú ý của công chúng như thế nếu ngay sau đó không được tờ
Tuổi Trẻ tường thuật chi tiết. Phản ứng của bạn đọc với những bài tường thuật
Quốc hội, bắt đầu trên Tuổi Trẻ, đã khiến cho báo chí thay đổi cách tiếp cận các
sự kiện diễn ra ở Hà Nội. Thay vì dùng những bản tin công thức của Thông tấn xã
hoặc của báo Nhân Dân, các báo - đặc biệt là báo chí Sài Gòn - bắt đầu gửi phóng
viên về Thủ đô. Chính trị không còn là một đề tài tẻ nhạt, số lượng phát hành
của những tờ báo như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người Lao Động… đã tăng rõ rệt mỗi kỳ
Quốc hội họp.

Nhưng báo chí chỉ thực sự khiến cho Quốc hội tạo được ảnh hưởng trong đời sống
chính trị của Việt Nam khi các phiên chất vấn và sau đó là các phiên thảo luận
về tình hình kinh tế xã hội bắt đầu được truyền hình trực tiếp. Ý tưởng truyền
hình trực tiếp các phiên chất vấn được ông Vũ Mão đề xuất áp dụng vào năm 1998.
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sau khi thảo luận đã đồng ý với đề nghị này.

Ở thời điểm ấy, đó là một sáng kiến chính trị táo bạo. Thường vụ quyết định phải
báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị. Sau khi cân nhắc, Bộ Chính trị chấp nhận. Tuy
nhiên, khi đảng đoàn Quốc hội họp với Ban Cán sự Đảng của Chính phủ để chính
thức triển khai, Ban Cán sự Đảng của Chính phủ đã không đồng ý. Cận ngày chất
vấn, việc truyền hình trực tiếp hay không vẫn còn ý kiến đôi co. Tuy nhiên, ông
Vũ Mão vẫn triển khai kế hoạch với Đài Truyền hình Trung ương.

Sự việc có nguy cơ bất thành khi ông trưởng Ban Văn hoá - Tư tưởng Trung ương
gặp ông An Duyệt, phó Ban Thời sự VTV, nói: “Không nên! Truyền hình trực tiếp
chất vấn và trực tiếp trả lời chất vấn dễ làm lộ bí mật và dễ làm mất uy tín cán
bộ lãnh đạo”. An Duyệt, người phụ trách nhóm làm truyền hình trực tiếp, vội vàng
chạy đến gặp ông Mão, trưởng đoàn thư ký kỳ họp. Vũ Mão kiên quyết: “Tôi nói với
các bạn là Bộ Chính trị đã cho phép, cứ làm”. Nhưng sau đó ông trưởng Ban Tư
tưởng - Văn hoá vẫn giữ thái độ kiên quyết với ông An Duyệt: “Đã nói rồi, các
cậu làm mà xảy ra chuyện gì thì các cậu phải chịu trách nhiệm”. Trưa hôm đó, ông
Vũ Mão cùng An Duyệt phải đến xin ý kiến Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh và Thủ
tướng Phan Văn Khải.

Cả Thủ tướng lẫn Chủ tịch Quốc hội đều e ngại. Chủ tịch Nông Đức Mạnh nói: “Hay
là Đài Truyền hình vẫn cứ ghi hình toàn bộ phiên chất vấn, sau đó rà lại, bỏ bớt
những chỗ gay cấn, phức tạp, đến tối mới đưa lên để nhân dân xem”. Ông Vũ Mão
trấn an: “Mọi việc đã được chuẩn bị chu đáo, với lại, việc truyền hình trực tiếp
đã được thông báo rộng rãi, nhân dân đang chờ, sẽ khó giải thích nếu không có lý
do gì mà việc truyền hình trực tiếp lại không được thực hiện”. Ông Mạnh im lặng,
ông Vũ Mão yêu cầu ông An Duyệt tiến hành. Từ ngày 14-5-1998, các phiên chất vấn
của Quốc hội đều được Đài Truyền hình Việt Nam truyền hình trực tiếp.

Người nhận được nhiều lợi ích chính trị nhất từ hoạt động này không phải là ông
Vũ Mão mà chính là Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh. Đóng góp lớn nhất của ông
Nông Đức Mạnh nằm ở chỗ ông không đủ sức để cản trở các sáng kiến cải cách. Khi
điều khiển các phiên họp, ông Mạnh cũng không tham gia vào nội dung và không
ngắt lời các đại biểu. Không khí tranh luận, vì thế, diễn ra có vẻ dân chủ hơn.
Ông Mạnh đã điều hành nghị trường Việt Nam giống như một người phát ngôn
(speaker) trong Quốc hội của quốc gia dân chủ. Hình ảnh ông Mạnh, tóc tai chải
chuốt, ăn nói mềm mỏng và đôi khi đột nhiên lóe sáng(369) trước ống kính truyền
hình dần dần được công chúng thừa nhận như là một nhà lãnh đạo.

Người kế nhiệm, ông Nguyễn Văn An, thì hoàn toàn ngược lại. Ông Nguyễn Văn An ý
thức khá rõ vai trò của truyền hình. Ông là nhà lãnh đạo cấp cao đầu tiên của
Việt Nam sử dụng email và thường xuyên truy cập thông tin trên internet. Các
phiên chất vấn mà ông An chủ trì trở nên căng thẳng hơn vì ông thường can thiệp
vào nội dung, đôi khi tỏ thái độ gay gắt với các Bộ trưởng.

Cuối các phiên chất vấn, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đều có một văn bản kết
luận, đánh giá trả lời chất vấn của các thành viên Chính phủ. Chủ tịch nghị viện
của các quốc gia dân chủ không điều hành Quốc hội theo cách của ông Nguyễn Văn
An, nhưng ở Việt Nam thì có vẻ như ông đã thành công. Cách điều hành của ông An
làm cho chủ tịch Quốc hội trở nên quyền lực hơn. Các thành viên chính phủ ý thức
được sinh mệnh chính trị của họ có thể bị lung lay nếu ông An muốn.

Trong năm đầu nhiệm kỳ của ông Nguyễn Văn An, tháng 11-2001, Quốc hội đã sửa đổi
Luật Tổ chức Quốc hội, trong đó có đề cập đến quyền bỏ phiếu tín nhiệm “những
người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” như chủ tịch nước, thủ
tướng, viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao, chánh án Toà án Tối cao và các Bộ
trưởng. Nhưng quy trình được thiết kế trong Luật đã khiến cho quyền này không
thể thực hiện(370).

Sau Hiến pháp 1992, mô hình “Nhà nước Đảng” đã không còn vận hành một cách công
khai. Quyền lực thực tế lặng lẽ lùi vào phía sau, Quốc hội trở thành nơi bộc lộ
những xung đột và đôi khi trở thành công cụ giải quyết xung đột quyền lực của
các bên. Việc tiếp cận với các khái niệm phổ quát và nhận thức được vai trò
chung của nghị viện cũng làm thay đổi nhận thức của một số cá nhân, nhất là khi
trong Quốc hội bắt đầu có nhiều người chuyên trách.

Khái niệm “Quốc hội chuyên nghiệp” được Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí
Minh đặt ra trước và trong thời gian thảo luận Hiến pháp 1992 một cách công
khai(371). Như các đề nghị về “tam quyền phân lập” hay cho tư nhân sở hữu đất
đai, ý tưởng chuyên nghiệp hoá Quốc hội đã không được chấp nhận(372).

Tháng 4-1992, khi thông qua Luật Tổ chức Quốc hội, Quốc hội khoá VIII đã đưa vấn
đề chuyên trách vào Luật một cách dè dặt: “Trong số các đại biểu Quốc hội, có
những đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách và có những đại biểu làm việc
theo chế độ không chuyên trách. Số lượng đại biểu Quốc hội làm việc chuyên trách
do Quốc hội quyết định”. Số lượng đại biểu chuyên trách làm việc thường xuyên ở
35 Ngô Quyền từ đó chỉ tăng lên nhỏ giọt(373).

Tháng 8-1999, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII họp lần thứ 7, đưa vào
Nghị quyết một câu ngắn trong phần nói về tổ chức bộ máy của Quốc hội: “Từng
bước tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách”. Năm 2001, tại kỳ họp thứ 10,
Luật Tổ chức Quốc hội được sửa, theo đó: “Số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động
chuyên trách có ít nhất là 25% tổng số đại biểu”(374).

Chủ trương cơ cấu 25% đại biểu chuyên trách, đã làm thay đổi không ít số phận
cán bộ. Tiến sĩ Trịnh Huy Quách, khi đang làm thư ký cho Chủ tịch Nông Đức Mạnh,
thường vẫn đi từ nhà riêng ở phía Hồ Tây đến 35 Ngô Quyền bằng xe đạp. Ngày
31-7-2002, ông được bầu làm phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách. Từ cán bộ
có hàm cấp vụ lên cấp thứ trưởng, từ sáng sớm ngày 1-8-2002, trước nhà ông Quách
bắt đầu có một chiếc xe hơi mang biển xanh 80B đậu chờ đưa rước. Tuy nhiên, với
những cán bộ đang ở các vị trí quyền lực thì việc bị đưa sang làm chuyên trách
Quốc hội cũng giống như bị đặt vào thế “dự bị hưu” trừ khi họ ý thức được tầm
quan trọng của vai trò mới.

Đại biểu chuyên trách Nguyễn Minh Thuyết đã đi vào lịch sử giám sát của Quốc hội
khi ngày 1-11-2010 công khai đưa ra đề nghị thành lập uỷ ban độc lập điều tra để
bỏ phiếu tín nhiệm thủ tướng(375). Nếu như câu chuyện của bà Đào Thị Biểu chỉ
được nhắc lại sau hàng chục năm, thì đề nghị của ông Nguyễn Minh Thuyết ngay lập
tức được truyền hình trực tiếp. Cho dù đề nghị của ông bị bác(376), ảnh hưởng
chính trị của nó có sức lan toả ngay. Nhưng những đại biểu như Giáo sư Nguyễn
Minh Thuyết ngay sau đó đã không được cơ cấu lại. Sau mỗi nhiệm kỳ, chỉ có trên
dưới 30% số đại biểu đương nhiệm được Đảng phân công ra ứng cử. Nguyên tắc một
người không giữ một chức vụ quá hai nhiệm kỳ lẽ ra chỉ áp dụng cho các chức danh
hành pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng cho cả những cán bộ dân cử có thể
dẫn sự đổi mới của Quốc hội đi “quá đà”.

Nhiều đại biểu, đầu nhiệm kỳ chưa biết nghị trường là gì, cuối nhiệm kỳ bắt đầu
quen việc và có tiếng nói độc lập thì không còn được ra ứng cử nữa. Thất thoát
thể chế rất lớn. Cứ mỗi đầu nhiệm kỳ, Quốc hội lại phải tổ chức các lớp dạy các
ông nghị cách làm đại biểu trong khi những đại biểu rành rẽ công việc lập pháp
và giám sát thì bị loại dần ra khỏi nghị trường. Thủ tướng và “người đứng đầu”

Tháng 8-1991, ông Võ Văn Kiệt được bầu giữ chức chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Chính phủ của ông khi ấy vẫn hình thành dựa trên nguyên tắc của Hiến pháp 1980.
Nhưng, thay vì giữ sáu phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng như kế thừa, ông Kiệt chỉ
đề cử ba phó chủ tịch(377).

Ngay sau khi được Quốc hội bầu, chiều ngày 9-8-1991, ông Võ Văn Kiệt giải thích:
“Đây là hướng đổi mới về tổ chức nhà nước nói chung và tổ chức chính phủ nói
riêng. Hội đồng Bộ trưởng bớt các phó chủ tịch, bộ bớt các thứ trưởng, ban bớt
các phó ban… để làm sao tập trung trách nhiệm của người đứng đầu”(378). Đây là
mô hình mà theo ông Kiệt sẽ từng bước được áp dụng ở các địa phương(379). Lúc
ấy, ông Kiệt tỏ ra rất lạc quan: “Một khi đã phân định rõ quản lý nhà nước bằng
pháp luật, phân định rõ trách nhiệm của trung ương, địa phương thì số cấp phó
không chỉ là ba mà có khi chỉ cần một là đủ”(380).

Ông Võ Văn Kiệt đã hình thành bộ máy “Hội đồng Bộ trưởng” theo phương án chính
phủ mà thủ tướng có vai trò như người đứng đầu, trong khi ở thời điểm ấy Ban
Soạn thảo Hiến pháp vẫn thiết kế mô hình nhà nước với nhiều phương án.

Dự thảo I đã từng thiết kế định chế chủ tịch nước với những quyền hạn gần như
chủ tịch nước theo Hiến pháp 1946. Quốc hội theo Dự thảo này không có cơ quan
thường vụ - hội đồng nhà nước, đoàn chủ tịch hay uỷ ban thường vụ. Dự thảo I
cũng quy định rõ lượng đại biểu chuyên trách ở Hội đồng Dân tộc là 1/3, ở các uỷ
ban là 1/2; bỏ hội đồng nhân dân ở các quận, huyện, phường và thị xã. Tháng
5-1991, Dự thảo I được đưa ra lấy ý kiến cán bộ trung, cao cấp. Tuy phương án
nguyên thủ một người không bị bác hẳn, nhưng, trong Dự thảo II, được Chủ tịch
Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công trình bày ngày 27-7-1991 trước kỳ họp thứ 9 của
Quốc hội khoá VIII, Ban Soạn thảo đã phải đưa thêm phương án nguyên thủ tập thể:
đoàn chủ tịch Quốc hội.

Quốc hội đã dành trọn ngày 1-8-1991 để thảo luận về Dự thảo II. Chỉ có bốn ý
kiến đồng ý với phương án II vì cho rằng không nên tập trung quyền vào tay một
người, trong khi tám ý kiến khác phát biểu trong phiên họp toàn thể đều tán
dương phương án I. Các đại biểu cho rằng cơ chế tập thể được áp dụng quá nhiều,
đã có Quốc hội giám sát nên không lo cá nhân lạm quyền(381). Phương án lập chính
phủ thay cho Hội đồng Bộ trưởng được ủng hộ cao, nhiều đại biểu còn đề nghị tăng
cường trung ương tập quyền bằng cách để thủ tướng bổ nhiệm chủ tịch uỷ ban hành
chính tỉnh thành, chủ tịch cấp trên bổ nhiệm chủ tịch uỷ ban cấp dưới.

Ngày 29-11-1991, tại Hội nghị Trung ương 2, Uỷ ban Sửa đổi Hiến pháp kiến nghị
lập thiết chế chính phủ và thủ tướng chính phủ thay cho hội đồng Bộ trưởng. Hiến
pháp trao cho thủ tướng đủ quyền hạn để thực thi nhiệm vụ, trong đó có quyền lựa
chọn Bộ trưởng đề nghị Quốc hội phê chuẩn, bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan hành
chính cấp dưới trực tiếp theo đề nghị của hội đồng nhân dân cùng cấp, và thống
nhất điều hành bộ máy hành chính nhà nước thông suốt từ trung ương đến cơ sở.

Hội nghị Trung ương 2 đã đồng ý với đề nghị này của Uỷ ban Sửa đổi Hiến pháp nên
trong bản Dự thảo III công bố lấy “ý kiến nhân dân” ngày 30-12-1991, phương án
chính phủ đã được đưa ra để thay thế hội đồng Bộ trưởng, thủ tướng được dự kiến
trao cho nhiều quyền hơn. Quốc hội chỉ bầu thủ tướng còn các phó thủ tướng và Bộ
trưởng thì Quốc hội không bầu mà phê chuẩn theo đề nghị của thủ tướng. Thủ tướng
còn có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm các thứ trưởng, bổ nhiệm miễn nhiệm và điều
động chủ tịch, các phó chủ tịch uỷ ban hành chính cấp tỉnh, thành. Hội đồng nhân
dân các cấp chỉ còn là cơ quan đại biểu của dân thay vì là cơ quan quyền lực cao
nhất tại địa phương…

Trong Dự thảo IV được Uỷ ban Sửa đổi Hiến pháp gửi tới các đại biểu Quốc hội vào
ngày 14-3-1992, định chế chủ tịch nước đã được đưa vào phương án chính thức,
trong khi, Quốc hội có một cơ quan thường trực là uỷ ban thường vụ. Định chế hội
đồng nhà nước vẫn được đưa vào như một phương án phụ để Quốc hội thảo luận. Mô
hình chính phủ và quyền hạn của thủ tướng được giữ như Dự thảo III nhưng thủ
tướng chỉ phê chuẩn kết quả bầu chủ tịch uỷ ban tỉnh thành của hội đồng nhân dân
thay vì bổ nhiệm. Đây là phương án đã được đưa vào hiến pháp. Mô hình chính phủ
còn tiếp tục được điều chỉnh chỉ một thời gian ngắn sau khi Hiến pháp 1992 có
hiệu lực(382).

Các cơ quan chính phủ thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Phan Văn Khải đều
được chuyển dần từ vai trò cơ quan chủ quản, trông coi sản xuất kinh doanh của
khối quốc doanh, sang vai trò quản lý nhà nước với tất cả các loại hình doanh
nghiệp. Tuy nhiên, cả hai ông đều chưa tách bạch được chức năng hành pháp chính
trị với hành chính công vụ. Cải cách hành chính vì thế không thể đi tới tận
cùng, bộ máy các bộ ngành tuy có sắp xếp lại, có giảm về đầu mối vẫn cứ lần lượt
phình ra(383).

Biên chế tăng một phần là do kinh tế phát triển, nhu cầu hành chính trong xã hội
tăng, nhưng chủ yếu do các bộ ngành vẫn bám giữ các đặc quyền nhà nước thông qua
việc duy trì các thủ tục. Cho dù xây dựng kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa
các cơ quan hành chính nhà nước với người dân và doanh nghiệp vẫn là mối quan hệ
“xin - cho”. Chia tỉnh

Ngay trong giai đoạn “tiền hiến pháp”, địa giới hành chính hình thành dưới thời
Tổng bí thư Lê Duẩn đã bắt đầu bị phá vỡ. Các địa phương gây áp lực rất lớn để
đòi chia tỉnh.

Gần năm tháng sau khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 20-9-1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết
245, quyết định sáp nhập năm mươi hai tỉnh nhỏ với nhau thành hai mươi mốt tỉnh
lớn, “nhằm xây dựng tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành
chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản
xuất, tổ chức đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân”.

Ở miền Nam(384), có nơi ba, bốn tỉnh bị yêu cầu nhập lại làm một như: Cần Thơ,
Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh; Long Châu Tiền, Sa Đéc, Kiến Tường, Mỹ Tho, Gò
Công, Long An, Bến Tre. Ở miền Trung, Quảng Bình - một tỉnh Bắc giới tuyến - bị
nhập với Thừa Thiên và Quảng Trị. Ở miền Bắc, Yên Bái, Lào Cai cũng bị yêu cầu
nhập với Nghĩa Lộ… Tuy nhiên, tiến trình thi hành Nghị quyết 245 diễn ra không
đơn giản. Năm 1976, việc phân chia lại địa giới hành chính mới chính thức bắt
đầu, theo đó, thay vì hợp thành ba mươi ba tỉnh, thành như Nghị quyết 245, số
tỉnh, thành mới là ba mươi chín.

Không đợi đến khi công cuộc làm ăn lớn nhằm “đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh
lên chủ nghĩa xã hội” thất bại, ngày 29-12-1978, trước khi cuộc chiến tranh biên
giới với Trung Quốc nổ ra, tỉnh Cao Lạng đã được tách về như cũ thành hai tỉnh
Cao Bằng và Lạng Sơn. Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, không khí độc đoán trong Đảng
giảm dần, các địa phương bắt đầu bộc lộ mâu thuẫn. Ở Bình Trị Thiên dân Huế
than: “Ơi Huế của ta, hai phần ba là Quảng Trị…”. Ở Nghệ Tĩnh dân Hà Tĩnh nói:
“Nhập tỉnh cũng Vinh dự, tách tỉnh cũng Vinh dự”(385).

Trung ương buộc phải chấp nhận tách các tỉnh ra “cho phù hợp với trình độ quản
lý”. Ngày 30-6-1989, Quốc hội biểu quyết: tách Bình Trị Thiên về như cũ Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế; tách Nghĩa Bình thành Quảng Ngãi và Bình Định;
tách Phú Khánh thành Phú Yên và Khánh Hoà. Từ ba mươi chín tỉnh thành, năm 1989,
cả nước có bốn mươi bốn tỉnh thành. Nhưng địa phương nào cũng chất chứa các vấn
đề nội bộ, các tỉnh tách đợt đầu đã tạo ra phản ứng dây chuyền.

Trong năm 1991, có tới ba đợt tách tỉnh: Ngày 12-8-1991, Hà Sơn Bình được tách
ra thành Hà Tây và Hoà Bình; Gia Lai-Kon Tum được tách ra thành Gia Lai và Kon
Tum. Tháng 10-1991, Hoàng Liên Sơn được tách thành Lào Cai và Yên Bái; Hà Tuyên
được tách thành Tuyên Quang và Hà Giang. Ngày 26-12-1991, Hà Nam Ninh tách thành
Nam Hà và Ninh Bình; Thuận Hải được tách thành Bình Thuận và Ninh Thuận; Cửu
Long được tách thành Vĩnh Long và Trà Vinh; Hậu Giang được tách thành Cần Thơ và
Sóc Trăng. Số địa phương năm 1991 là năm mươi ba.

Sau Đại hội Đảng lần thứ VIII, ngày 6-11-1996, lại thêm một đợt tách tỉnh khác:
Bắc Thái được tách thành Bắc Cạn và Thái Nguyên; Hà Bắc được tách thành Bắc
Giang và Bắc Ninh; Nam Hà được tách thành Hà Nam và Nam Định; Quảng Đà được tách
thành Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng; Minh Hải được tách thành Bạc Liêu và Cà
Mau. Cuối kỳ họp này, ngày 26-11-1996, Quốc hội phải bỏ phiếu lại để tách Vĩnh
Phú thành Phú Thọ và Vĩnh Phúc.

Đầu năm 1997, Sông Bé được tách thành Bình Dương và Bình Phước; Hải Hưng được
tách thành Hải Dương và Hưng Yên. Số tỉnh thành cả nước tăng lên sáu mươi mốt.
Ngày 1-1-2004, tách luôn hai tỉnh còn lại: Lai Châu thành Lai Châu và Điện Biên;
Đăk Lăk thành Đăk Lăk và Đăk Nông. Nhưng cơ cấu hành chính không dừng lại con số
của năm 1997 với sáu mươi bốn tỉnh thành(386). “Công nông hoá” tư pháp

Chiều ngày 5-10-1992, Quốc hội đã quyết định để Bộ Tư pháp phối hợp với Toà tối
cao quản lý toà địa phương về mặt tổ chức với 292 phiếu thuận, 71 phiếu chống,
sau hai ngày tranh luận gay gắt về hai phương án: Bộ Tư pháp phối hợp với Toà án
Nhân dân Tối cao quản lý toà địa phương hay để cho Toà án Tối cao quản lý toà
theo ngành dọc.

Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao Phạm Hưng ủng hộ phương án hai và có ý chỉ
trích ngành tư pháp, nơi soạn thảo Dự luật Tổ chức Toà án, tự trao cho mình
quyền quản lý các toà cấp dưới. Nhưng, Bộ trưởng Nguyễn Đình Lộc cho rằng, toà
án không phải là một cơ quan hành chính để cấp trên quản lý cấp dưới mà là một
cơ quan xét xử. Theo ông, việc toà án cấp dưới phụ thuộc toà án cấp trên về mặt
tổ chức là nguyên nhân nảy sinh hiện tượng thỉnh thị án, hiện tượng các thẩm
phán khi xét xử đã có sẵn bản án bỏ túi.

Một “sách trắng” mà Bộ Tư pháp gửi đến các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp đó cho
biết: Nhiều toà án cấp tỉnh đã xếp lịch cụ thể để lên thỉnh thị án. Năm 1988, do
toà hình sự Toà án Nhân dân Tối cao có văn bản chỉ thị toà án Hà Nam Ninh xử một
bị cáo năm năm tù mà bị cáo này đã bị ức chế, dùng súng bắn hai cán bộ toà án
rồi tự sát.

Những nỗ lực của Bộ trưởng Nguyễn Đình Lộc có tác động đáng kể đến cải cách tư
pháp thời thập niên 1990. Tuy nhiên, một mặt do tư pháp Việt Nam không chỉ lệ
thuộc vào mô hình mà nó được thiết kế, mặt khác, ngay từ lúc ban sơ, “tam quyền
phân lập” đã không được những người khai sinh chính thể “dân chủ cộng hoà” tán
thành, nên cũng như những quyền tự do khác, quyền được thụ hưởng công lý của
người Việt Nam đã không được mở ra đúng mức.

Trong quá trình hình thành Hiến pháp 1946, trong nội bộ Ban Dự thảo và trên báo
chí đã từng có nhiều cuộc tranh luận. Theo Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hòe, Hồ Chí
Minh không đánh giá cao mô hình nhà nước theo kiểu tam quyền phân lập. Ông muốn
dùng kinh nghiệm xây dựng chính quyền nhân dân trong các căn cứ địa, muốn tập
trung cả ba quyền cho cơ quan đại diện của toàn dân. Hồ Chí Minh cho rằng các
nhánh quyền không cần giám sát lẫn nhau vì mặt trận vừa là một cơ quan giám sát
vừa là chỗ dựa cho nhà nước(387).

Toà án bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam với tư cách là một nhánh quyền lực độc lập
kể từ khi người Pháp thiết lập quyền cai trị trên các vùng nhượng địa: Nam Kỳ,
Đà Nẵng, Hà Nội và Hải Phòng. Việc xử án, thoạt đầu hoàn toàn do các nhà hành
chính người Pháp đảm trách. Kể từ năm 1921, ở Nam Kỳ, nhiều vị thẩm phán người
Việt đã được bổ nhiệm để xét xử các vụ hình sự đối với các nguyên và bị cáo nói
tiếng Việt. Ở các xứ ngoài Nam Kỳ, bên cạnh các “toà Nam án” do các quan tỉnh
điều khiển theo tổ chức tư pháp của Triều Nguyễn, có những toà án Pháp đăt dươi
sư điêu khiên của các viên công sư(387).

Trong thời kỳ tiền hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13, ngày
24-1-1946, quy định: “Toà án sẽ độc lập với các cơ quan hành chính. Các vị thẩm
phán sẽ chỉ xử trong vòng pháp luật và công lý. Các cơ quan khác không được can
thiệp vào việc tư pháp”. Tư pháp theo thiết kế của Hiến pháp 1946 cũng “độc lập,
chỉ tuân theo pháp luật”. Tuy “các viên thẩm phán đều do chính phủ bổ
nhiệm”(389) cơ quan tư pháp không thiết lập theo các cấp hành chính như về sau
mà thiết lập theo cấp xét xử: toà án tối cao, các toà án phúc thẩm, các toà án
đệ nhị cấp và sơ cấp. Tiến trình xét xử phải theo nguyên tắc: “các viên thẩm
phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”(390).
Nhưng, chỉ mấy năm sau đó, chính Hồ Chí Minh sẽ từ bỏ dần những nguyên tắc này.

Tại “An toàn khu”, theo Bộ trưởng Lê Văn Hiến: “Vấn đề tư pháp - hành chính lâu
nay cứ lủng củng mãi, mỗi bên đều có sự than phiền. Tư pháp trách hành chính lạm
quyền và lộng quyền, bất chấp luật lệ, nhân tình thế chiến tranh mà thi hành
nhiều thủ đoạn tổn thương đến quyền tự do cá nhân. Hành chính tố cáo tư pháp lợi
dụng nguyên tắc độc lập mà đi dần đến chỗ độc lập với chính quyền, có khi lấy
luật pháp để bảo vệ những hành vi phản động”(391).

Tháng Giêng 1948, trong một cuộc họp mở rộng, Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh
đã yêu cầu các ngành: “Ra sức trừ bỏ những tệ như: Việt Minh lấn quyền hành
chính… Mặt trận và bộ đội xung đột và tị nạnh nhau… Kháng chiến kiêm hành chính
và chuyên môn (nhất là tư pháp) xung đột nhau”(392). Nhưng, khi xung đột tư pháp
- hành chính không dừng lại ở cấp huyện, tỉnh thì chính Hồ Chí Minh cũng phản
ứng(393).

Ngoài xung đột giữa giới tư pháp với giới hành chính, theo ông Vũ Đình Hòe, khía
cạnh sâu sắc hơn còn là xung đột giữa Đảng và các trí thức, giữa Đảng Cộng sản
và những người thuộc hai đảng Xã hội và Dân chủ. Từ năm 1950, tuy đảng viên Đảng
Dân chủ Vũ Đình Hòe vẫn còn là Bộ trưởng Tư pháp, nhưng quyền lực trên thực tế
nằm trong tay Thứ trưởng Trần Công Tường, một cán bộ cao cấp của Đảng Cộng sản.
Không cần trao đổi với Bộ trưởng, ông Tường đã “cùng với chi bộ” của ông chuẩn
bị ba dự án sắc lệnh đề cập đến ba vấn đề thay đổi căn bản nền tư pháp.

Hơn một tháng sau khi “cướp chính quyền”, ngay 10-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký Sắc lênh 90, tạm thời áp dụng các nguyên tắc dân sự ghi trong Dân pháp điển
Băc Kỳ và Trung Kỳ, Pháp quy giam yếu 1883 thi hành ở Nam Kỳ. Theo ông Vũ Đình
Hòe, trong quá trình soạn thảo Hiến pháp 1946, Hồ Chí Minh cũng đã ra lệnh giữ
lại các luật lệ của chế độ cũ không trái với chế độ mới. Nhưng, đến năm 1950, Hồ
Chí Minh đã trực tiếp nghe và đồng ý với đề xuất của ông Trần Công Tường, thiết
lập ba nguyên tắc cơ bản của dân luật dựa trên ba nguyên tắc tương ứng của bộ
Dân luật Nga Xô năm 1922, được soạn thảo dưới sự chủ trì của Lenin.

Thay vì tuân thủ nguyên tắc “quyền tư hữu được nhà nước bảo hộ” theo Hiến pháp
1946, Sắc lệnh 97 của Hồ Chí Minh quy định rằng: “Các quyền dân sự của công dân
chỉ được thực hiện và bảo vệ khi công dân sử dụng các quyền ấy của mình một cách
phù hợp với quyền lợi của nhân dân… Công dân chỉ hành xử quyền tư hữu trong phạm
vi phù hợp… Toà án nhân dân có thể huỷ bỏ bất kỳ hợp đồng nào ký kết giữa hai
công dân, nếu sự chênh lệch quá đáng về tài sản giữa họ đối với nhau”(394).

Ông Trần Công Tường còn đề nghị xoá bỏ chế độ luật sư của Pháp để lại, thay bằng
chế độ bào chữa viên nhân dân, để cải tiến triệt để việc xử án. Trong cuộc họp
Chính phủ để trình ba dự án sắc lệnh này, Bộ trưởng Vũ Đình Hòe đã “bật lên phản
đối” nhưng theo ông Hòe, “sự dàn hoà, điều giải của Hồ Chủ tịch thật tài tình”.
Hồ Chí Minh vẫn ký Sắc lệnh 85- SL, ngày 22-5-1950, quy định “Chế độ hội thẩm
nhân dân” do Thứ trưởng Tư pháp Trần Công Tường đệ trình nhưng vẫn “tán thành ý
kiến bổ sung của Bộ trưởng Vũ Đình Hòe”, không đụng đến Đoàn Luật sư(395).

Trong thời kỳ tiền Hiến pháp 1959, Quốc hội đã ra nghị quyết, ngày 29-4-1958,
tách hệ thống công tố ra khỏi toà án để trở thành bốn cơ quan ngang bộ trực
thuộc Hội đồng Chính phủ. Trong giai đoạn 1945-1958, cơ quan công tố chưa được
tổ chức thành một hệ thống riêng mà hợp cùng với cơ quan xét xử thành toà án các
cấp. Nhiệm vụ của Viện Công tố là điều tra, truy tố những vụ phạm pháp về hình
sự, giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của cơ quan điều
tra, trong việc xét xử của toà án, trong việc tạm giữ và cải tạo ở các trại
giam.

Sau Hiến pháp 1959, hệ thống toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân ra đời,
thay vì nằm trong hội đồng chính phủ, trở thành những cơ quan trực thuộc Quốc
hội, ở cấp tỉnh, thành thì trực thuộc hội đồng nhân dân cùng cấp. Sau Hiến pháp
1959, Bộ Tư pháp bị giải thể. Theo ông Nguyễn Đình Lộc, ngoài lý do sao chép từ
mô hình nhà nước liên bang của Liên Xô, sự sửa đổi này còn mục tiêu nhắm tới ông
Bộ trưởng Vũ Đình Hòe(396).

Đặc biệt, ngày 17-11-1950, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 158-SL, quyết định việc bổ
sung cán bộ công nông vào ngạch thẩm phán và thăng bổ các thẩm phán toà án nhân
dân huyện lên toà án nhân dân tỉnh. Từ đây, trường luật Tam Đảo lập ra theo chủ
trương của ông Vũ Đình Hòe nhằm đào tạo các thẩm phán đệ nhị cấp đã bị đóng cửa
vì theo ông Hòe: “Chủ trương đào tạo thẩm phán chuyên môn đương nhiên là bị Đảng
đoàn Tư pháp gạt bỏ vì người cộng sản coi chính trị là thống soái, nên chỉ cần
đề bạt cán bộ công nông là đủ giải quyết vấn đề cán bộ tư pháp”(397).

Từ đây, theo ông Vũ Đình Hòe: “các thẩm phán huyện, đa số là đảng viên cộng sản,
chỉ qua lớp chính trị và nghiệp vụ”. Quan điểm lựa chọn thẩm phán chủ yếu “đứng
trên lập trường nhân dân” của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng lâu dài đến nền tư pháp
Việt Nam. Trong giai đoạn 1960-1970, khi vai trò của Nhà nước bị lu mờ trước vai
trò của Đảng, sự sa sút về chất lượng của đội ngũ thẩm phán và tính thiếu độc
lập của toà án ít được chú ý. Nhưng, từ cuối thập niên 1980, điều này bắt đầu
trở thành một vấn đề lớn.

Theo một báo cáo của Bộ Tư pháp tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá IX: Năm 1981,
chỉ có 3% cán bộ toà án cấp tỉnh, huyện có trình độ đại học. Năm 1991 số thẩm
phán có trình độ đại học được nâng lên ở mức 50% nhưng thẩm phán cấp quận huyện
cũng chỉ 41% có trình độ đại học, trong đó nhiều người tốt nghiệp hệ tại chức.
Cũng trong kỳ họp đó, Đại biểu Quốc hội Hoàng Ngọc Nhất, giám đốc Công an Thanh
Hoá, nêu tình trạng thẩm phán, người nhân danh Nhà nước, nhân danh pháp luật,
lại không có hiểu biết về luật bằng người bảo vệ các bị cáo: luật sư. Ông Nhất
nói: “Có phiên toà, bị cáo còn thuộc luật hơn cả thẩm phán”. Trình độ thẩm phán
càng thấp toà án càng lệ thuộc lớn vào cấp uỷ. Chính báo Nhân Dân cũng phải thừa
nhận ở toà, các thẩm phán thường chỉ đưa ra các bản án đã được cấp uỷ xử trước;
những người muốn độc lập với cấp uỷ thường phải gánh chịu hậu quả, có khi là mất
việc(398).

Đầu thập niên 1990, Đảng bắt đầu chấn chỉnh tình trạng cấp uỷ can thiệp thô bạo
vào các bản án. Nhưng, đối với những bản án có ảnh hưởng lớn, Đảng vẫn cho rằng,
“cấp uỷ cần tham gia ý kiến về quan điểm xét xử làm cơ sở cho việc quyết định
của cơ quan kiểm sát và toà án”(399). Chất lượng toà án cho đến lúc bấy giờ vẫn
lệ thuộc vào “tính chất công nông” nằm ở trong số đông của đội ngũ. Ngày
5-12-1997, Đại biểu Hoàng Ngọc Thành, Lào Cai, nói trước Quốc hội: “Tỉnh tôi có
bảy thẩm phán thì năm thẩm phán có trình độ từ lớp 2-3”. Đại biểu Đặng Thanh
Hương cho biết thêm: “Có chánh án chỉ tốt nghiệp cấp I”. Chất lượng xét xử, buộc
tội thấp đến nỗi, thời gian ấy, toà án tỉnh phải huỷ khoảng 10% án do toà huyện
xử; Toà tối cao huỷ 6,9% án của toà tỉnh. Cũng trong phiên họp ngày 5-12-1997,
ông Vũ Đức Khiển, chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật cho Quốc hội biết: Chỉ có 1/3 tổng
số người bị bắt trong mười tháng đầu năm 1997 là bắt theo lệnh có phê chuẩn của
Viện Kiểm sát, số còn lại chủ yếu bắt khẩn cấp, bắt quả tang; có tới 18.197 
người bị bắt nhưng rồi phải xử lý hành chính, chiếm 30,26%. Tình trạng này vẫn
chưa được cải thiện nhiều trong thập niên kế tiếp(400). “Bỏ Điều 4 là tự sát”

Trong chế độ cộng sản, cho dù bộ máy nhà nước tổ chức theo lý thuyết nào thì
quyền lực cũng chỉ tập trung vào một nơi: Đảng.

Ngày 10-9-1980, khi phát biểu trước phiên họp “xem xét bản dự thảo hiến pháp”
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV, Tổng bí thư Lê Duẩn nói: “Đảng cầm
quyền phải biết sử dụng Nhà nước, coi đó là một công cụ hùng mạnh và sắc bén để
thực hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng trên quy mô
toàn xã hội”(401). Trong hai mệnh đề mà ông Lê Duẩn đề cập, nếu như quyền làm
chủ thực sự của nhân dân là rất mông lung thì sự lãnh đạo của Đảng quả thực là
đã ngự trị trên “quy mô toàn xã hội”.

“Công lao” của Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu được ghi trong hiến pháp từ năm
1959(402). Lời nói đầu của Hiến pháp 1980 nói thêm: “Nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam cần có một bản hiến pháp thể chế hoá đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong giai đoạn mới. Đó là hiến pháp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội trong phạm vi cả nước”. Điều 4, Hiến pháp 1980, ghi: “Đảng Cộng sản Việt
Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam,
được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà
nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam”. Tuy không dịch nguyên văn, nhưng theo ông Nguyễn Đình Lộc, Điều 4 
Hiến pháp 1980 được mô phỏng từ Điều 6 Hiến pháp 1977 của Liên Xô.

Ngày 12-12-1980, khi báo cáo trước Quốc hội, Chủ tịch Uỷ ban Dự thảo hiến pháp
Trường Chinh giải thích về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo
ông: “Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước chuyên chính vô
sản… Nhà nước chuyên chính vô sản chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình
dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân”(403). Báo cáo của ông Trường
Chinh nói tiếp: “Vai trò lãnh đạo của Đảng được ghi nhận với tinh thần và lời
văn trang trọng như vậy là rất có ý nghĩa. Với Điều 4, Dự thảo Hiến pháp khẳng
định công lao to lớn của Đảng ta…; thể hiện tình cảm sâu đậm của nhân dân cả
nước đối với Đảng và đáp ứng yêu cầu tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng
trong tình hình mới”(404).

Trước đó, ngày 10-9-1980, Tổng bí thư Lê Duẩn định nghĩa: “Nhà nước chuyên chính
vô sản là nơi biểu hiện tập trung sự lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ tập thể
của nhân dân lao động”(405). Trên thực tế, đây là một giai đoạn mà các hoạt động
của Đảng là bao trùm. Suốt cả nhiệm kỳ, Quốc hội khoá VII không ban hành bất cứ
đạo luật nào trừ Hiến pháp 1980. Đất nước chủ yếu vận hành theo các chỉ thị,
nghị quyết của các cấp uỷ Đảng.

Tại Hội nghị Trung ương 25, khoá III, ông Lê Duẩn đưa ra mô hình chính trị:
“Đảng và Nhà nước dính nhau làm một. Ở trung ương, thủ tướng là của Nhà nước,
đồng thời là của Đảng, là Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng cũng thế… Nhà nước làm
là Đảng làm. Ví dụ, Đảng làm thuỷ lợi qua Bộ trưởng Thuỷ lợi, qua Bộ Thuỷ lợi
chứ không qua một tổ chức khác”(406).

Trong thời gian “Đảng và Nhà nước dính nhau làm một”(1976-1986) này, một khối
lượng lớn chỉ thị, nghị quyết đã được Đảng ban hành. Các văn kiện Đảng đã trở
thành những văn bản có tính quy phạm, trực tiếp điều chỉnh mọi hành vi chính
trị, văn hoá, giáo dục và xã hội. Thậm chí, giấy đăng ký kết hôn giữa ông Võ Văn
Kiệt và bà Phan Lương Cầm lập năm 1984 cũng do Ban Tài chính Quản trị Trung ương
cấp. Các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng trong giai đoạn này gần như đều có một sự
nghiệp chính trị trọn đời: Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn đều từ trần khi
đang tại chức. Vai trò của Đảng cũng như của các nhà lãnh đạo trong hệ thống
chính trị bắt đầu được điều chỉnh dần kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI
(1986)(407).

Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo tại Hội nghị toàn quốc về hội đồng nhân dân vào
tháng 2-1992 từng phát biểu: “Nhiều nơi, tổ chức Đảng đã tự biến mình thành nhà
nước, thậm chí siêu nhà nước”(408). Luật pháp mà các công cụ nhà nước thông qua
thường chỉ là “thể chế hoá đường lối, nghị quyết của Đảng”.

Đặc biệt, Đảng nắm gần như tuyệt đối công tác cán bộ ở cả ba ngành quyền lực. Lá
phiếu của người dân trong các kỳ bầu cử chỉ là xác nhận những người được Đảng
ghi tên trong danh sách phiếu bầu. Đảng không chỉ kiểm soát Quốc hội thông qua
con số hơn 90% đại biểu là đảng viên. Ngay cả những đại biểu Quốc hội không phải
đảng viên cũng phải là người của Đảng. Quy trình giới thiệu, hiệp thương, cho
đến lấy ý kiến cử tri nơi ở và nơi công tác đều do các cấp uỷ Đảng chi phối, kể
cả những ứng cử viên gọi là “tự ứng cử”(409).

Ở cấp quốc gia, việc bỏ phiếu ở Quốc hội bầu các chức danh nhà nước chỉ là vấn
đề thủ tục. Theo quy trình cán bộ của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương quyết định
các chức danh chủ tịch Quốc hội, chủ tịch nước, thủ tướng, chánh án Toà án Nhân
dân Tối cao, Viện Kiểm sát Tối cao; Bộ Chính trị quyết định các chức danh phó
thủ tướng, phó chủ tịch nước, phó chủ tịch Quốc hội, các Bộ trưởng; Ban Bí thư
quyết định các chức vụ tương đương thứ trưởng. Bộ Chính trị cũng đồng thời quyết
định nhân sự cấp bí thư, chủ tịch uỷ ban, chủ tịch hội đồng nhân dân các tỉnh
thành phố trực thuộc trung ương. Cấp uỷ Đảng ở địa phương cũng quyết định nhân
sự theo quy trình tương tự.

Dự thảo Hiến pháp 1992 chỉ thực sự được đưa ra thảo luận sau Đại hội Đảng lần
thứ VII, tháng 6-1991. Đó là một thời điểm cả thế giới lẫn trong nước đều có
nhiều biến động. “Kinh tế nhiều thành phần” mà Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận
hồi năm 1986 buộc Đảng phải “đổi mới hệ thống chính sách, pháp luật” thay vì
tiếp tục chi phối mọi mặt đời sống bằng các chỉ thị, nghị quyết như thời “quan
liêu, bao cấp”. Nhưng kinh tế nhiều thành phần và sự sụp đổ của các đảng cộng
sản trên thế giới cũng đặt Đảng Cộng sản Việt Nam trước mối lo về tính chính
đáng trong vai trò tiếp tục nắm quyền lãnh đạo.

Tháng 5-1990, Yeltsin - người bị Gorbachev đưa ra khỏi Bộ Chính trị trước đó
không lâu - được bầu giữ chức chủ tịch Xô viết Tối cao nước Cộng hoà Liên bang
Nga. Tháng 7-1990, ông tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản. Tháng 6-1991, trong cuộc
bầu cử dân chủ đầu tiên của nước Cộng hoà Liên bang Nga, Yeltsin trở thành tổng
thống. Quyền lực của nhà nước liên bang có nguy cơ tan rã khi vào tháng 8-1991,
một hiệp ước liên bang mới trao chủ quyền cho các nước cộng hoà bắt đầu được
hình thành. Tình hình tưởng có thể đảo ngược khi, ngày 19-8-1991, Phó Tổng thống
Liên Xô Yanaev làm đảo chính, bắt giữ Gorbachev và lập ra “Uỷ ban Nhà nước về
tình trạng khẩn cấp”.

Trong khi thế giới, nhất là phương Tây, đang tỏ ra lo lắng thì ở Việt Nam, có
thể đọc thấy một sắc thái tình cảm khác thông qua lượng thông tin về cuộc đảo
chính tràn ngập mặt báo ra ngày 20-9-1991. Tất cả các văn kiện của “Uỷ ban Nhà
nước về tình trạng khẩn cấp” đều được báo chí nhà nước cho đăng nguyên văn, báo
Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân còn gọi Yanaev là “đồng chí” thay vì dùng chức
danh “quyền tổng thống” như ngôn từ được phát đi từ chính những người đảo chính.

Nhưng niềm hân hoan này đã không đủ để kéo dài tới ngày hôm sau. Từ vị trí lãnh
đạo Xô viết Tối cao Nga, Yeltsin trở thành người hùng Liên Xô khi đứng trên tháp
pháo xe tăng đọc diễn văn kêu gọi dân chúng tuần hành chống lại những người đảo
chính. Ngày 21-8-1991, những người đảo chính bỏ chạy khỏi Moscow; một thành viên
của “Uỷ ban Khẩn cấp”, Bộ trưởng Nội vụ Liên Xô Boris Karlovic tự sát. Gorbachev
được đưa ra khỏi nơi “tạm giam” nhưng quyền lực của ông thì đã hết.

Tháng 11-1991, cựu Uỷ viên Bộ Chính trị Yeltsin ký lệnh cấm Đảng Cộng sản hoạt
động trên lãnh thổ nước Nga. Ngày 8-12-1991, một tuần sau khi Ukraina trưng cầu
dân ý tuyên bố độc lập với Liên Xô, Yeltsin gặp Tổng thống Ukraina và Tổng thống
Belarus, cả ba đưa ra tuyên bố giải tán Liên bang Xô viết, lập ra “Cộng đồng các
quốc gia độc lập”. Ngày 24-12-1991, Nga nắm lấy chiếc ghế của Liên Xô tại Liên
Hiệp Quốc. Hôm sau Gorbachev, vị tổng thống không còn nhà nước, đành phải ra đi.

Trong khi đó, tại Việt Nam, trong bản dự thảo Hiến pháp mà Chủ tịch Hội đồng Nhà
nước Võ Chí Công trình ra trước Quốc hội vào ngày 27-7-1991, Liên Xô và một số
nước xã hội chủ nghĩa vẫn được nhắc tên trong lời nói đầu. Ngày hôm sau, trong
thảo luận tổ(410), nhiều đại biểu đề nghị nên cân nhắc. Bộ trưởng Bộ Đại học và
Trung học chuyên nghiệp Trần Hồng Quân nói: “Một khi chính những nước đó không
còn muốn nhận họ là chủ nghĩa xã hội nữa thì ta không nên nhắc lại”.

Phát biểu ngay sau đó của các tướng lĩnh có mặt trong Quốc hội cho thấy, ở Việt
Nam, chạm tới thành trì xã hội chủ nghĩa không phải là một việc dễ dàng. Thượng
tướng Nguyễn Minh Châu yêu cầu giữ nguyên phần nói về Liên Xô, ông tuyên bố:
“Chủ nghĩa xã hội vẫn còn và vẫn còn phát triển”. Một đại biểu quân đội khác,
Thiếu tướng Nguyễn Răng, cũng phản bác các ý kiến đề nghị hiến pháp chỉ nên đề
cập đến “tư tưởng Hồ Chí Minh” thay vì bao gồm cả “Marx - Lenin”. Tướng Nguyễn
Răng nói: “Đừng vì thế giới có lộn xộn mà chúng ta thay đổi”.

Khi thảo luận ở tổ hay thảo luận trong phiên họp toàn thể trên Hội trường Ba
Đình(411), gần như không có ai phát biểu mà không đề cập đến “Điều 4 Hiến pháp”
nhưng tất cả đều chỉ góp ý về cách diễn đạt chứ không ai dám đề nghị xem xét lại
vai trò của lãnh đạo.

Đảng Cộng sản Việt Nam không phải đang “lãnh đạo nhân dân cầm quyền”, như Chủ
tịch Lê Quang Đạo nói, mà đang trực tiếp cầm quyền. Đó là lý do mà nhiều nhà
lãnh đạo cao cấp trong Đảng cho rằng “bỏ Điều 4 Hiến pháp là tự sát”(412).
Nguyên lý tam quyền phân lập, cho dù được coi là lựa chọn tốt nhất để tránh bộ
máy nhà nước tha hoá, lạm quyền, cũng không thể vận hành trong một quốc gia độc
đảng.




Chú thích

(329) Phát biểu ngày 29-11-1991 của ông Đỗ Mười: “Trên cơ sở thống nhất quyền
lực, cần có sự phân công xác định rõ mối quan hệ giữa ba quyền: lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Cải cách bộ máy nhà nước cũng như sửa đổi hiến pháp phải đảm
bảo tính thống nhất của quyền lực, khắc phục tình trạng lẫn lộn, chồng chéo giữa
ba quyền, làm suy yếu quyền lực tập trung cũng như chức năng, quyền hạn của các
bộ phận được phân công theo Hiến pháp”. Năm 2001, khi Quốc hội sửa Hiến pháp
1992, đã bổ sung vào Điều 2: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công
và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp”.

(330) Hiến pháp 1992 thông qua sau khi Liên bang Xô viết tan rã, sau khi hệ
thống xã hội chủ nghĩa hoàn toàn biến mất khỏi châu Âu nơi mà nó sinh ra. Cho dù
hồi tháng 11-1991, Hà Nội đã chính thức nối lại quan hệ với Bắc Kinh, nhưng mối
quan hệ với nước cộng sản láng giềng này vẫn chưa thật sự bình thường.

(331) Mô hình nhà nước trong Hiến pháp 1946 từng được Ban soạn thảo Hiến pháp
1992 dự kiến đưa vào nhưng rồi không được đưa ra thảo luận.

(332) Điều thứ 49, Hiến pháp 1946 quy định chủ tịch nước có quyền hạn “ban bố
các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị”, nhưng không có điều nào nói rằng
Hiến pháp 1946 phải được ban bố mới có hiệu lực thi hành. Hiến pháp 1946 cũng do
Quốc hội lập hiến thông qua chứ không phải là một đạo luật của Nghị viện.

(333) Trước sức ép của Tiêu Văn, một viên tướng của Trung Hoa Dân quốc, Hồ Chí
Minh phải dàn xếp với Việt Cách, cho đại diện của Việt Cách có hai ghế cao cấp
trong Chính phủ Lâm thời. Ngày 27-9-1945, Hội đồng Chính phủ nhất trí để Nguyễn
Hải Thần giữ chức phó chủ tịch Chính phủ.

(334) Điều thứ 70.

(33) 5 Ngày 3-9-1945, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu yêu cầu Việt Nam phải có
hiến pháp. Ngày 20-9-1945, ông ký Sắc lệnh 34, lập Uỷ ban Dự thảo Hiến pháp gồm
7 người. Trừ ông “cố vấn” Vĩnh Thuỵ, những người còn lại đều là Việt Minh (Hồ
Chí Minh, Vĩnh Thuỵ, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiền, Nguyễn Lương
Bằng, Đặng Xuân Khu). Tháng 11-1945, bản dự thảo đầu tiên của hiến pháp Việt Nam
được “công bố lấy ý kiến của chính giới”. Ban soạn thảo Hiến pháp chính thức gồm
11 người (Trần Duy Hưng, Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình
Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ,
Nguyễn Thị Thục Viên) do Quốc hội bầu ra trong kỳ họp đầu tiên (ngày 2-3-1946),
sau đó được bổ sung thêm 10 vị đại biểu từ các nhóm, đại biểu trung lập, đại
biểu Nam Bộ, đại biểu đồng bào dân tộc thiểu số. Ngày 9-11-1946, Hiến pháp đầu
tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được thông qua với 240 phiếu trên
tổng số 242 đại biểu có mặt trong phiên họp.

(336) Ông Nguyễn Đình Lộc (Bộ trưởng Tư pháp 1991-2001, từ năm 1980 là Hiệu phó
Trường Tư pháp), người trực tiếp tham gia soạn thảo Hiến pháp 1980 và 1992, thừa
nhận: Hiến pháp 1959 được hình thành trên cơ sở tiếp thu Hiến pháp 1936 của Liên
Xô, cách tiếp thu chủ yếu là dịch. Ông Nguyễn Đình Lộc nói: “Ở thời điểm đó Việt
Nam chưa có nhiều người giỏi tiếng Nga. Chúng ta dịch Hiến pháp Liên xô chủ yếu
qua tiếng Pháp và tiếng Trung. Mà tiếng Trung quốc thì khác Việt Nam ở chỗ, tính
từ đứng trước danh từ. Phần về Quốc hội, nguyên văn tiếng Nga là: Quốc hội là cơ
quan cao nhất của quyền lực Nhà nước. Ta dịch theo bản tiếng Trung thành: Quốc
hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”. Việc “tiếp thu” vội vã tới mức,
theo ông Nguyễn Đình Lộc: “Từ năm 1960, ta giải thể Bộ Tư pháp, trước đó Liên Xô
cũng giải thể Bộ Tư pháp. Nhưng ta đã không nghiên cứu kỹ vì sao Liên xô giải
thể. Nhà nước Liên Xô là liên bang, ở cấp liên bang, họ không có bộ tư pháp,
nhưng các nước cộng hoà lại có. Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 1936 của Liên Xô
cũng khác. Năm 1936, Chủ tịch Uỷ ban Soạn thảo Hiến pháp Liên xô, Staline, tuyên
bố: Liên xô đã hoàn thành xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong khi hoàn cảnh nước ta
năm 1959 là vừa thoát ra khỏi chiến tranh và vẫn đang rất nghèo nàn, lạc hậu”.

(337) Điều thứ 1, Hiến pháp 1946.

(338) Lời nói đầu, Hiến pháp 1959.

(339) Lời nói đầu, Hiến pháp 1959.

(340) Điều 7, Hiến pháp 1959.

(341) Điều 38, Hiến pháp 1959.

(342) Lời nói đầu Hiến pháp 1980.

(343) Lời nói đầu Hiến pháp 1980.

(344) “Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng
tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt”.

(345) Quốc hội vẫn được Hiến pháp 1980 xác định là “cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất” với bổ sung “là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân”. Nhiệm kỳ của
Quốc hội tăng từ bốn năm theo Hiến pháp 1959 lên năm năm. “Chủ tịch Nước” được
thay bằng “Hội đồng Nhà nước”, một định chế vừa làm chức năng của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội vừa là “Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam”. Nguyên tắc “tập trung dân chủ” được áp dụng cho tất cả các nhánh quyền
lực, cơ quan hành pháp được định nghĩa: “Hội đồng Bộ trưởng là Chính phủ của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành và hành chính Nhà
nước cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất”.

(346) Nghị quyết 06 Hội nghị lần thứ Sáu BCH Trung ương khoá VI.

(347) Chủ tịch Hội đồng Nhà Nước 1987-1992.

(348) Cuộc tuyển cử vào ngày 6-1-1946 được Trần Trọng Kim viết trong Một Cơn Gió
Bụi: Khi ấy tôi đã về ở Hà Nội rồi, thấy cuộc tuyển cử rất kỳ cục. Mỗi chỗ để bỏ
phiếu, có một người của Việt Minh trông coi, họ gọi hết cả đàn ông đàn bà đến bỏ
phiếu, ai không biết chữ thì họ viết thay cho. Việt Minh đưa ra những bản kê tên
những người họ đã định trước, rồi đọc những tên ấy lên và hỏi anh hay chị bầu
cho ai. Người nào vô ý nói bầu cho một người nào khác thì họ quát lên: “Sao
không bầu cho những người này, có phải phản đối không?”. Người kia sợ mất vía
nói: “Anh bảo tôi bầu cho ai, tôi xin bầu người ấy”. Cách cưỡng bách ra mặt như
thế, lẽ dĩ nhiên những người Việt Minh đưa ra được đến tám chín mươi phần trăm
số người đi bầu. Ðó là một phương pháp rất mới và rất rõ để cho mọi người được
dùng quyền tự do của mình lựa chọn lấy người xứng đáng ra thay mình làm việc
nước.

(349) Tại Hà Nội, trong số sáu đại biểu được bầu, bà Nguyễn Thị Thục Viên tuy
khai không thuộc đảng phái nào nhưng việc ra ứng cử của bà là do một cán bộ Việt
Minh, giáo sư Đặng Thai Mai, giới thiệu; ba người thuộc đảng dân chủ do Hồ Chí
Minh lập nên; bác sỹ Trần Duy Hưng ứng cử công khai là Việt Minh; Hồ Chí Minh ra
ứng cử với danh nghĩa đảng viên đảng Quốc gia.

(350) Hồi ký của Võ Nguyên Giáp mô tả: Nguyễn Hải Thần cho người đi rải truyền
đơn ở Hà Nội, dùng loa phóng thanh tuyên truyền Việt Minh là độc tài và ngồi
trên xe ô tô con, trên nóc xe có hai lính gác nằm với khẩu trung liên, hai lính
khác ngồi phía trước cầm tiểu liên đi thị uy trên đường phố Hà Nội.

(351) Vũ Đình Hòe, Hồi Ký, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn 2004, trang 772.

(352) Vũ Đình Hòe, Hồi Ký, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn 2004, trang 773.

(353) Đại tá Trần Tấn Nghĩa, nguyên là đội trưởng Trinh sát đặc biệt, người được
giao đánh vào số 7 Ôn Như Hầu, Trụ sở Quốc Dân Đảng ở Hà Nội với mục tiêu đầu
tiên là bắt sống đại biểu Quốc hội Phan Kích Nam, kể: Tôi mang lệnh bắt Phan
Kích Nam đến số 7 Ôn Như Hầu, một toà nhà có treo cờ Quốc Dân Đảng. Ngoài cổng,
lính gác chĩa súng ra bảo, không ai được vào. Tôi đề nghị gặp Phan Kích Nam. Một
lúc sau Nam cùng hai vệ sỹ đi ra, nó ăn mặc như võ sỹ đạo, có hai thằng cầm súng
đi theo bảo vệ. Nam hỏi: “Anh là ai? Đến đây có việc gì?”. Tôi xưng là Nguyễn Bá
Hùng, đội trưởng Trinh sát đặc biệt. Nó cười đểu: “À ra thế. Nhưng, tôi là đại
biểu Quốc hội, kiêm tư lệnh trưởng Vùng VII. Anh có biết tiếng Pháp đối với đại
biểu Quốc hội là gì không? Là bất khả xâm phạm”. Tôi bí quá phải về. Nhưng, ông
Lê Giản bảo: “Kế hoạch đã bàn tối qua. Anh cứ đi bắt nó về đây”. Phải tới lần
thứ ba đến nhà Phan Kích Nam, tôi lập mưu, để lại súng bên ngoài, vào nhà giả vờ
khen khẩu súng ngắn của Nam rồi giựt lấy chĩa vào bụng, buộc Phan Kích Nam ra
lệnh cho cấp dưới buông súng mới bắt được vị tư lệnh này đưa về Hoả Lò. Theo ông
Nghĩa thì khi khám nhà số 7 Ôn Như Hầu, lực lượng của ông tìm được ông Đạm, một
người mang tiền đến mua nhà bị lực lượng của Phan Kích Nam bắt giữ lại để đòi
tiền chuộc. Ông Nghĩa nói là Công an sau đó còn đào được trong vườn “mấy xác
người bị thủ tiêu chôn dưới gốc chuối”. Hôm ấy là ngày 12-7-1946. Tối 12-7-1946,
lực lượng của ông Nghĩa đánh tiếp vào cơ sở thứ hai của Quốc Dân Đảng, toà báo
Việt Nam ở 80 Quán Thánh, Phan Khôi bị bắt. Theo ông Nghĩa: “Khi tôi làm đội
trưởng Đội Trinh sát Đặc biệt, tôi phải đi phá bốn, năm trụ sở của bọn Quốc Dân
Đảng”. Trước đó, cuối tháng 6-1946, các cơ sở Quốc Dân Ðảng tại Vĩnh Yên, Phúc
Yên, Phú Thọ bị tập kích, bị bao vây. Những lãnh tụ Việt Quốc, Việt Cách được Hồ
Chí Minh mời tham gia Chính phủ trước đó như: Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Ngoại
giao; Nguyễn Hải Thần, phó chủ tịch Chính phủ; Vũ Hồng Khanh, phó chủ tịch Quân
Uỷ hội… đều phải chạy sang Trung Quốc; Khái Hưng thì mất tích. Một số nhà chính
trị khác như Trương Tử Anh, Đại Việt Quốc Dân đảng, Lý Đông A, Đại Việt Duy Tân
cũng đều mất tích. Một tuần sau khi từ Pháp trở về trên tuần dương hạm Dunmont
d’Urville, ngày 28-10-1946, Hồ Chí Minh triệu tập họp Quốc hội: 444 đại biểu
được bầu và được chỉ định hồi tháng Giêng giờ ấy chỉ còn 291 vị; bảy mươi đại
biểu mà Hồ Chí Minh chấp thuận cho Việt Quốc, Việt Cách cử tham gia, khi ấy chỉ
còn ba mươi bảy người. Đến ngày 8-11-1946, khi bỏ phiếu thông qua Hiến pháp, thì
Quốc hội chỉ còn 242 đại biểu; ba mươi lăm trong số ba mươi bảy đại biểu Việt
Quốc, Việt Cách có mặt trong cuộc họp ngày 28-10 biến mất.

(354) Trong giai đoạn này, chỉ có Luật Ðảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất
khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân - được Quốc hội thông
qua ngày 20-5-1957 nhằm hạn chế sự lộng hành của những người cầm quyền vốn là
nông dân đi kháng chiến trở về - là tương đối có ý nghĩa. Hàng loạt đạo luật
được ban hành trong năm 1957, về danh nghĩa là luật hoá những quyền tự do của
công dân, nhưng kết quả là định ra những thủ tục khiến cho công dân không thể
nào thực thi những quyền đó. Luật Quy định quyền lập hội, ngày 20-5-1957; Luật
Quy định quyền tự do hội họp, ngày 20-5-1957; Luật về Chế độ báo chí, ngày
20-5-1957. Quốc hội còn thông qua bảy luật khác trong thời kỳ tiền Hiến pháp
1959, trong đó có Luật Cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế, ngày 14-9-1957,
đánh dấu thời kỳ bắt đầu tiến lên chủ nghĩa xã hội.

(355) Trong Quốc hội Khoá II, bầu ngày 8-5-1960, chín mươi mốt đại biểu miền Nam
của khoá I vẫn còn được lưu nhiệm. Đến khoá III (1964-1971) vẫn còn tám mươi
chín đại biểu miền Nam. Đến khoá IV (1971-1975) thì không còn đại biểu lưu
nhiệm, Quốc hội khoá IV có thể coi là Quốc hội miền Bắc. Quốc hội khoá V được
bầu ngày 6-4-1975, chỉ ba tuần trước khi “Quân Giải phóng” chiếm được Sài Gòn.
Một năm sau, Tổng tuyển cử đã được tổ chức vào ngày 25-4-1976 bầu ra 492 đại
biểu. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá này, diễn ra từ ngày 24-6 đến 3-7-1976,
đã quyết định đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thành nước Cộng hoà Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam; đổi tên Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh; tự
công nhận mình là Quốc hội khoá VI.

(356) Có thể thấy rõ vai trò trình diễn sự ủng hộ “của dân” với Đảng thông qua
các khẩu hiệu chính trị mà Quốc hội đưa ra trong các thời kỳ. Trong thập niên
1960, khi “đất nước thực hiện cả hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc tiến hành
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải
phóng”, Quốc hội khoá III đưa ra khẩu hiệu chính trị: “Tất cả cho tiền tuyến -
Tất cả để thắng giặc Mỹ xâm lược”. Khẩu hiệu này được giữ nguyên trong nhiệm kỳ
thứ IV, khi miền Bắc vẫn: “Tiếp tục động viên quân và dân kiên trì bảo vệ và xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; động viên sức người, sức của cho tiền tuyến
lớn đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai ở miền Nam”.

(357) Quốc hội khoá II chỉ sửa đổi bổ sung Luật Luật Nghĩa vụ quân sự, tháng
11-1962, sau khi “cách mạng miền Nam” bắt đầu phát triển theo con đường dùng bạo
lực trong khi đó, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua chín pháp lệnh. Quốc hội
khoá III chỉ sửa đổi, bổ sung Luật Nghĩa vụ Quân sự, 25-4-1965. Công tác lập
pháp có ý nghĩa “quy phạm” nhất trong khoá III là “Pháp lệnh Quy định cấm nấu
rượu trái phép” do Uỷ ban Thường vụ ban hành tháng 10-1966. Cho dù 3/4 thời gian
hoạt động trong thời bình, trong khoá IV cũng chỉ có một pháp lệnh được Uỷ ban
Thường vụ thông qua: Pháp lệnh Quy định việc bảo vệ rừng, ngày 11-9-1972. Ngoài
bốn pháp lệnh không mấy ý nghĩa, công việc của Quốc hội khoá VI là thông qua
Hiến pháp 1980 còn Quốc hội khoá VII thì thông qua Bộ luật Hình sự theo tinh
thần thực thi “chuyên chính vô sản” được nhấn mạnh sau Đại hội lần thứ IV của
Đảng.

(358) Trong số 362 đại biểu được bầu của Quốc hội khoá II, có: Công nhân: 50;
Nông dân: 47; Cán bộ chính trị: 129; Quân đội: 20; Ðảng viên: 298; Ngoài Ðảng:
64; Dân tộc thiểu số: 56; Phụ nữ: 49; Thanh niên (20, 30 tuổi): 42; Phụ lão:
(trên 60 tuổi): 19; Cán bộ kinh tế, khoa học - kĩ thuật: 66; Anh hùng lao động
và chiến đấu: 19; Cán bộ ở Trung ương: 110; Cán bộ ở địa phương: 252. Cho đến
khoá VIII, thành phần đại biểu vẫn được cơ cấu theo mô hình tương tự: 91 công
nhân; 105 nông dân, 49 quân nhân và 123 “trí thức xã hội chủ nghĩa”.

(359) Ông Nguyễn Hữu Thọ gia nhập Đảng cộng sản Đông dương từ năm 1948; bị chính
quyền Ngô Đình Diệm bắt giam năm 1954; được “Cách mạng” giải cứu đưa ra Chiến
khu từ năm 1961 sau đó được bố trí giữ chức Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng
miền Nam; được cơ cấu làm Phó Chủ tịch nước Việt Nam thống nhất. Tháng 4-1980,
sau khi Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng qua đời, theo Hiến pháp, ông Thọ trở thành
Quyền Chủ tịch nước.

(360) Nữ luật sư Ngô Bá Thành, tên thật là Phạm Thị Thanh Vân, sinh 1931 tại
làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Cha bà, ông Phạm Văn Huyến, là bác sĩ thú
y đầu tiên của Việt Nam. Năm hai mươi sáu tuổi, sau khi bảo vệ xuất sắc luận án
tiến sĩ Luật tại Pháp, bà được đích thân Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, ông Dag
Hammarskjöld, mời làm việc cho ban luật quốc tế nhưng đã từ chối để nhận một
công việc khác tại Việt Nam. Bà từng nổi tiếng với tư cách là chủ tịch Hội Phụ
nữ đòi quyền sống. Trước khi Sài Gòn sụp đổ, bà là phó chủ tịch Hạ viện Sài Gòn.
Cũng như Giáo sư Lý Chánh Trung, một dân biểu Sài Gòn khác, bà Ngô Bá Thành được
đưa vào Quốc hội từ khoá VI, cho dù trong suốt hơn một thập niên đó họ gần như
không có được tiếng nói đáng kể nào. Năm 1987, Quốc hội có thêm một đại biểu
miền Nam từng giữ chức phó thủ tướng trong chế độ Sài Gòn, ông Nguyễn Xuân Oánh.

(361) Một đại biểu Quốc hội cùng khoá, ông Lê Văn Triết kể: “Khi Quốc hội khoá
VIII bắt đầu bàn nhân sự, trong danh sách giới thiệu các chức danh của Quốc hội
không có tên Ngô Bá Thành. Khi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đến tham gia thảo
luận tổ với Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, bà Thành bật khóc. Ông Linh ngồi xuống
động viên và đến ngày hôm sau, bà Ngô Bá Thành được đề cử vào chức danh chủ
nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội”.

(362) 1921-1999.

(363) Ông Vũ Mão vốn là một kỹ sư thuỷ lợi, được điều về Quảng Ninh làm đội
trưởng rồi Phó ty Thuỷ Lợi năm 1971 khi đang là cán bộ giảng dạy trường Đại học
Thuỷ lợi Hà Nội. Năm 1979, từ Trưởng ty Thuỷ Lợi ông được đưa đi làm Bí thư Tiên
Yên, một “pháo đài huyện” ở tuyến đầu chống Trung Quốc. Năm 1980 ông được Bí thư
Tỉnh uỷ Quảng Ninh lúc bấy giờ là Nguyễn Đức Tâm đưa sang làm Bí thư Tỉnh Đoàn
rồi mấy tháng sau, được đưa lên làm Bí thư Trung ương Đoàn. Ông Vũ Mão được đưa
vào Trung ương năm 1982.

(364) Quyền “thừa kế quyền sử dụng đất” ghi trong Điều 18 của Hiến pháp đã từng
phải biểu quyết hai lần. Năm 1992, Quốc hội đã từng biểu quyết không quá bán
việc chia Hải Hưng thành hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. Năm 1996, Quốc hội cũng
từng biểu quyết không phê chuẩn chức Bộ trưởng Giao thông cho ông Đào Đình Bình
mặc dù việc bổ nhiệm đã được Ban chấp hành Trung ương quyết định.

(365) Văn phòng Quốc hội lúc ấy chỉ có hơn sáu mươi cán bộ, tiền bạc mất giá,
bổng lộc không có, gương mặt nào nhìn cũng xanh xao. Đa số lãnh đạo Quốc hội đều
kiêm nhiệm một công việc khác. Trừ chủ tịch, tổng thư ký, chủ nhiệm Văn phòng có
tiêu chuẩn xe Volga, Văn phòng Quốc hội chỉ có một chiếc xe cũ đưa từ miền Nam
ra, không có phụ tùng thay thế, xịt lốp, nằm bất động dưới gốc cây. Thỉnh
thoảng, lễ tết, một đại biểu miền Nam, bà Ba Thi, giám đốc Công ty Lương thực
Thành phố, có gửi ra cho mấy tấn gạo, nhưng ông Nguyễn Việt Dũng bắt nhập kho vì
theo ông: “Mọi người đã có chế độ, chính sách”.

(366) Năm 1981, sau khi tốt nghiệp sư phạm ngoại ngữ tiếng Anh ở Liên Xô ông
Nguyễn Sỹ Dũng được đưa về Bộ Ngoại thương. Do có thành tích cao trong khi học ở
bậc đại học, cũng trong năm 1981, ông được đưa trở lại Liên xô làm nghiên cứu
sinh phó tiến sỹ về giáo dục. Trong thời gian này ông gặp ông Vũ Mão. Năm 1985,
từ Liên xô, ông Nguyễn Sỹ Dũng được ông Vũ Mão đưa về Trung ương Đoàn để rồi năm
1987, cùng ông Vũ Mão về Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước. Năm 1990,
Chính phủ Úc đưa bốn mươi cán bộ Việt Nam sang Úc học tiếng Anh, ông Nguyễn Sỹ
Dũng được cử làm trưởng đoàn cán bộ đi học này. Theo ông Dũng: “Cho dù có mười
năm học ở Liên xô với thành tích học tập chưa bao giờ bị điểm 4/5 nhưng toàn bộ
kiến thức về khoa học chính trị mà tôi học được là thông qua các bài học tiếng
Anh và bắt đầu từ lớp học này, để thấy nhà nước tư bản hoàn toàn không phải như
những gì mà nhà trường Liên Xô chỉ trích. Cũng tại đây, tôi bắt đầu tiếp xúc với
những nhà Việt Nam học như Davis Marr, Carl Thayer”.

(367) Kể từ năm 1993, ông Nguyễn Sỹ Dũng được giao trực tiếp làm Giám đốc các Dự
án này. Năm 2006, khi ông Nguyễn Phú Trọng sang làm Chủ tịch Quốc hội, ông Dũng,
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội mới không còn phụ trách Trung tâm bồi dưỡng đại
biểu và công tác hợp tác quốc tế.

(368) Từ năm 2004, Văn phòng Quốc hội đã lập ra Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân
cử để tiếp tục truyền bá những kiến thức này cho các thế hệ đại biểu mới cả của
Quốc hội và của cả các cơ quan dân cử.

(369) Khi Quốc hội chất vấn về vụ án công dân Lê Thị Nga bị bắt vì bị vu oan
chiếm đoạt 200.000 đồng, Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao Trịnh Hồng Dương chống
chế: “Do các cơ quan chưa làm rõ được tội chứ chưa chắc Lê Thị Nga đã vô tội”;
Chủ tịch Nông Đức Mạnh đã cho rằng: “Anh không thể nói vậy, không ai bị coi là
có tội khi không có chứng cứ, khi không có một bản án có hiệu lực của toà án
cả”.

(370) Chỉ có Uỷ ban Thường vụ Quốc hội mới tự mình quyết định việc bỏ phiếu tín
nhiệm. Ngay cả Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội hoặc của ít nhất 20%
tổng số đại biểu, nếu có kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm ai, thì vẫn phải chờ Uỷ
ban Thường vụ xem xét, quyết định.

(371) Ngày 26-12-1990, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nguyễn Hữu Thọ, khi tiếp
xúc cử tri tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, đã nói: “Do Quốc hội ta chưa phải
là Quốc hội chuyên nghiệp nên trong nhiều vấn đề nóng bỏng chưa tìm được giải
pháp, chỉ mới dừng lại ở phản ánh tình hình” (Tuổi Trẻ 27-12-1990).

(372) Quốc hội khoá I cũng có vài đại biểu hoạt động chuyên nghiệp, hay thường
gọi là đại biểu chuyên trách, như Nguyễn Văn Tố, Bùi Bằng Đoàn. Từ khoá II, các
ông Trường Chinh, Tôn Đức Thắng cũng được coi như là những người làm Quốc hội
chuyên trách. Ngay cả các uỷ viên Thường vụ Quốc hội của các nhiệm kỳ từ khoá
VIII trở về trước cũng không chuyên trách, trừ chủ tịch Quốc hội, chủ nhiệm Văn
phòng Quốc hội.

(373) Chỉ có hai mươi hai đại biểu, tức là 5,56%, được Quốc hội bố trí làm việc
theo chế độ chuyên trách ở Quốc hội khoá IX, họ gồm những người giữ chức danh:
chủ tịch, phó chủ tịch Quốc hội; chủ tịch và một phó chủ tịch Hội đồng Dân tộc;
chủ nhiệm các uỷ ban và mỗi uỷ ban có thêm một phó chủ tịch làm chuyên trách.
Chỉ có một đại biểu chuyên trách không có chức vụ, là thành viên một uỷ ban của
Quốc hội. Quốc hội khoá IX kết thúc nhiệm kỳ vào tháng 9-1997 trong khi Đại hội
Đảng VIII diễn ra vào tháng 6-1996, có mười lăm đại biểu Quốc hội không còn được
Đảng tái cơ cấu, đồng thời không còn được tiếp tục giữ các chức vụ trong bộ máy
quyền lực tại địa phương. Họ chỉ còn một cửa để về là Đoàn đại biểu Quốc hội ở
tỉnh. Số đại biểu chuyên trách của Quốc hội khoá IX vì thế lên tới ba mươi bảy
người trong năm cuối cùng của nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ X, số đại biểu được bố trí làm
việc chuyên trách tăng lên ba mươi mốt do số quan chức ở các uỷ ban Quốc hội
tăng lên, trước chỉ có một phó chủ nhiệm, khoá X tăng lên hai phó chủ nhiệm và
một uỷ viên chuyên trách.

Năm 1998, số đại biểu chuyên trách của Quốc hội khoá X tăng thêm một do có một
cán bộ mặt trận ở một địa phương đến tuổi nghỉ hưu. Cuối năm 2000, sau Đại hội
Đảng cấp địa phương, và Đại hội Đảng toàn quốc năm 2001, mười ba đại biểu Quốc
hội là cấp uỷ viên không được tái cơ cấu, lui về, khiến cho số đại biểu chuyên
trách tăng lên con số bốn mươi lăm người.

(374) Ngày 7-3-2002, trước khi bầu cử Quốc hội khoá mới, Uỷ ban Thường vụ có
công văn hướng dẫn các địa phương về tiêu chuẩn, điều kiện để chọn người làm đại
biểu chuyên trách ở địa phương là những người trong độ tuổi, cao nhất đối với
nữ, không quá 52, với nam không quá 56, đang giữ chức thường vụ tỉnh uỷ, thành
uỷ, phó chủ tịch hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân, hoặc đang giữ các chức vụ
tương đương giám đốc sở, trưởng ban hội đồng nhân dân. Từ đầu khoá XI, ở mỗi địa
phương đều có một vị đại biểu chuyên trách làm phó đoàn đại biểu Quốc hội, kể cả
bốn vị được cơ cấu nhưng vẫn ráng làm thêm chức phó chủ tịch hội đồng nhân dân
tỉnh cho hết nhiệm kỳ. Ở cấp Trung ương, số đại biểu chuyên trách ở các uỷ ban
tăng từ bốn lên chín, gồm bốn vị làm phó chủ nhiệm và bốn vị làm uỷ viên chuyên
trách.

(375) Ngày 1-11-2010, Giáo Sư Nguyễn Minh Thuyết đã yêu cầu Quốc hội thành lập
uỷ ban lâm thời điều tra về sự sụp đổ của Vinashin đẫn đến sự thua lỗ lên đến
hơn một trăm nghìn tỷ đồng. Ðại biểu Nguyễn Minh Thuyết nói trước phiên họp được
truyền hình trực tiếp: “Căn cứ Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội, tôi trân
trọng đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết để Quốc hội lập uỷ ban lâm
thời điều tra trách nhiệm các thành viên chính phủ khi để xảy ra sai phạm ở
Vinashin. Cuối kỳ họp Quốc hội sẽ bỏ phiếu tín nhiệm thủ tướng và các thành viên
chính phủ liên quan. Ðể tạo điều kiện cho công tác của uỷ ban lâm thời, tôi cũng
đề nghị Quốc hội tạm đình chỉ chức vụ các vị có liên quan”.

(376) Ngày 12-11-2010, Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội gửi công văn trả lời ông Thuyết
nói rằng “chưa cần thiết trình Quốc hội việc thành lập uỷ bản lâm thời”.

(377) Sau Đại hội Đảng lần thứ V, Hội đồng Bộ trưởng có tới mười hai vị phó chủ
tịch. Trong năm đầu của khoá VIII, Hội đồng Bộ trưởng vẫn còn chín phó chủ tịch,
đến tháng 5-1988, vài ngày trước khi Đỗ Mười trở thành chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng, các phó: Nguyễn Ngọc Trừu, Phan Minh Tánh, Đoàn Duy Thành ra đi, sáu phó
chủ tịch còn lại ở nguyên vị trí cho tới sau Đại hội Đảng lần thứ VII.

(378) Huy Đức, Một giờ với Tân Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt, Tuổi Trẻ
13-8-1991.

(379) Cho tới đầu thập niên 1990, các chủ tịch uỷ ban nhân dân quận, huyện vẫn
đi ký hợp đồng kinh tế, đi bảo lãnh vay ngân hàng, chỉ đạo ngân hàng và các tổ
chức tín dụng cho vay. Trước tháng 9-1987, Thành phố Hồ Chí Minh và một số địa
phương cấp tỉnh khác vẫn có tới 42 sở và cơ quan ngang sở, 290 phòng ban thuộc
sở, 378 phòng ban thuộc quận huyện. Tới tháng 6-1991, Thành phố giảm được 12 sở
và cơ quan ngang sở, 98 phòng ban thuộc sở và 141 phòng ban thuộc quận, huyện.

(380) Huy Đức, Một giờ với Tân Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt, Tuổi Trẻ
13-8-1991.

(381) Chủ tịch tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Thanh Phong nói: “Quốc hội cũng tập thể,
Hội đồng Nhà nước cũng thập thể, rồi Hội đồng Bộ trưởng cũng tập thể nốt. Đông,
vướng mắc nhiều nên không nhạy bén được”. Theo Đại biểu Nguyễn Minh Khoát, Lạng
Sơn: “Chúng ta đã trả giá đắt vì trong một thời gian dài, cả cơ quan lập pháp và
hành pháp đều không được tập trung đúng mức”.

(382) Tháng 10-1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã trình ra Quốc hội phương án giảm
bớt năm bộ và cơ quan ngang bộ, theo đó: Lập bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn bằng cách nhập ba bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thuỷ Lợi; Lập bộ Công
nghiệp từ ba bộ Công nghiệp nặng, Công nghiệp nhẹ, Năng lượng; Lập Bộ Kế hoạch -
Đầu tư từ việc nhập Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và
Đầu tư.

(383) Trong các năm 1991-1994, biên chế giảm được 31.000 người, để rồi trong các
năm 1995-1998, số biên chế lại tăng trở lại 113.000 người. Đến cuối năm 1998,
tổng số người hưởng lương và phụ cấp là 2,5 triệu người, trong đó, biên chế của
bộ máy nhà nước là 1,3 triệu.

(384) Đầu năm 1956, sau khi Việt Nam bị chia thành hai miền, ở miền Nam, Chính
quyền Ngô Đình Diệm lập thêm các tỉnh Tam Cần, Mộc Hoá, Phong Thạnh, Cà Mau. Đến
tháng 10-1956, ở Nam Bộ có hai mươi hai tỉnh và Đô thành Sài Gòn, đưa số địa
phương thuộc Việt Nam Cộng hoà lên tới ba mươi lăm tỉnh. Ngày 19-5-1958, tỉnh
Đồng Nai Thượng được tách thành hai tỉnh Lâm Đồng và Tuyên Đức. Ngày 23-1-1959,
lập thêm hai tỉnh Quảng Đức và Phước Thành. Ngày 21-1-1961, lập tỉnh Chương
Thiện. Năm 1962, lập thêm hai tỉnh Quảng Tín và Phú Bổn. Năm 1963, lập thêm hai
tỉnh Hậu Nghĩa và Gò Công. Năm 1964, lập hai tỉnh Châu Đốc và Bạc Liêu. Năm
1965, bỏ hai tỉnh Côn Sơn và Phước Thành. Năm 1966, lập tỉnh Sa Đéc. Từ đó cho
đến năm 1975, Việt Nam Cộng hoà có bốn mươi bốn tỉnh và Đô thành Sài Gòn.

(385) Người Nghệ phát âm dấu nặng thay cho dấu ngã, chữ “giữ” phát âm thành
“dự”, Vinh là thành phố thuộc Nghệ An, khi nhập tỉnh được đầu tư xây dựng những
khu nhà khang trang trong khi thị xã Hà Tĩnh thì hoang vu cỏ mọc. Nói “Vinh dự”,
không có nghĩa là “vinh dự” mà là “có chi Vinh giữ hết”.

(386) Năm 2008, Hà Tây và một phần của ba tỉnh khác được nhập vào Hà Nội. Tiến
trình này diễn ra khá bất thường. Ngay từ đầu, nhiều người đã công khai lên
tiếng phản đối việc sáp nhập Hà Tây vào Thủ đô. Ngày 5-5-2008, đúng ngày Quốc
hội họp, ông Võ Văn Kiệt cho công bố trên báo Tuổi Trẻ một bài viết mà ông chuẩn
bị từ ngày 30-4-2008, phản đối quyết liệt ý định này. Ông Võ Văn Kiệt viết:
“Thăng Long - Hà Nội với nghìn năm lịch sử phong phú; hào hùng, với văn hoá được
tích luỹ nhiều đời, không phải thủ đô nào trên thế giới cũng có được. Hà Nội
không nhất thiết phải lựa chọn mô hình đầu tàu kinh tế, việc mà nhiều địa phương
có nhiều thuận lợi và có khả năng làm tốt hơn Hà Nội nhiều”. Ông cho rằng: “Mô
hình đô thị cực lớn với động lực công nghiệp là một mô hình đô thị đã cũ, nhiều
sai lầm mà phương Tây đang phải từ bỏ. Chính những thành phố có hàm lượng văn
hoá cao, có đời sống đô thị giàu tính nhân văn, có thiên nhiên trong lành, có
nhịp sống hợp lý, làm giàu bằng kinh tế tri thức mới là mô hình mà các nước đi
trước chúng ta đang tìm kiếm”. Ông đề nghị Quốc hội nghiên cứu: “Một mô hình đô
thị không cần nhiều đất đai mà cần nhiều hơn những giá trị đạo đức, nhân văn,
nhân tài và chất xám. Đấy mới chính là ‘hướng nhìn - tầm nhìn’ của nghìn năm
Thăng Long và của thời đại”. Quan điểm của ông Võ Văn Kiệt cũng là suy nghĩ của
nhiều người lúc bấy giờ. Kết quả thăm dò trong Quốc hội cho thấy: chỉ có 226 đại
biểu đồng ý, ngang với số không đồng ý, 226 đại biểu. Do số đại biểu Quốc hội
muốn mở rộng Hà Nội chỉ chiếm tỉ lệ 45% (trên tổng số đại biểu) nên Quốc hội đã
phải hoãn lịch bỏ phiếu thông qua nghị quyết đã được xếp vào ngày 23-5-2008.
Nhưng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hết sức kiên quyết để dự án sáp nhập thủ đô
thành hiện thực. Sau khi “quán triệt” nhiều lần ở Đảng - Đoàn Quốc hội, ngày
29-5-2008, Thủ tướng lên Hội trường tha thiết đề nghị: “Nếu việc mở rộng địa
giới hành chính Hà Nội để chậm lại thì các dự án này hoặc sẽ phải chờ đợi tiếp,
hoặc nếu cho phép tiếp tục triển khai theo thẩm quyền của địa phương thì có thể
sẽ không phù hợp với định hướng quy hoạch phát triển Thủ đô trong tương lai, sau
này phải điều chỉnh lại sẽ gây lãng phí lớn cho xã hội”. Ngay trong chiều hôm
ấy, tỉ lệ biểu quyết mở rộng Hà Nội lên tới 458/475, chỉ có bốn đại biểu Quốc
hội bỏ phiếu chống. Đầu cơ đất đai diễn ra sôi động phía sau những quyết định
này: Con số các dự án mua đất ở vùng Hà Tây cũ không dừng lại ở mức 300 như ông
Dũng nói trước Quốc hội. Từ khi Quốc hội biểu quyết cho đến ngày 1-8-2008, ngày
Quyết định mở rộng Hà Nội có hiệu lực, con số dự án được duyệt lên tới 772 với
diện tích đất được duyệt là 75.695ha; trong khi tổng diện tích đất của toàn Hà
Nội mở rộng cũng chỉ có 145.770ha, bao gồm cả Hà Nội và các thành phố cũ. Ngay
khu vực bốn xã Hoà Bình cũ, dù chưa có quy hoạch chung nhưng vẫn có mười ba dự
án.

(387) Hồ Chí Minh khi đó đã từng phát biểu: “Cách mạng Pháp đã tạo kiểu tam
quyền phân lập nhưng qua hàng trăm năm thực hiện thấy cũng không hay lắm. Cơ
quan đại diện cho toàn dân ở ta sẽ nắm toàn quyền, cả ba quyền trong tay. Ta
không cóp của ai cả mà chỉ xuất phát từ yêu cầu tự nhiên về dân quyền của toàn
dân ta, vả lại ta đã bắt đầu có chút kinh nghiệm của Ta trong việc xây dựng
chính quyền nhân dân ở các căn cứ địa giải phóng. Cũng không cần chế độ hai Viện
nói là để hai Viện kiềm chế lẫn nhau. Ta sẽ có cách kiềm chế sự lộng quyền hoặc
kém sáng suốt của cơ quan đại diện bằng sự giám sát của cử tri, dựa trên quyền
bãi miễn và quyền phủ quyết. Đặc biệt là ta có kinh nghiệm độc đáo mà chế độ Nhà
nước tập quyền Xô viết không có, không thể có. Đó mặt trận dân tộc thống nhất,
chỗ dựa của Nhà nước đồng thời là cơ quan giám sát thường trực đối với Nhà nước,
một cơ quan giám sát có tổ chức cực kỳ rộng rãi của cử tri” (Vũ Đình Hòe, Hồi
Ký, Nhà Xuất bản Hội Nhà văn 2004, trang 998).

(388) Các toạ thượng thẩm là nhưng toà án Pháp: Thượng thẩm viên Hà Nội, với
quyền quản hạt bao gồm Ai-lao, Bắc Kỳ và miền bắc Trung Kỳ cho đến đèo Hải Vân;
Thượng thẩm viên Sài gòn với quyền quản hạt bao gồm miền Nam Trung Kỳ, Nam Kỳ và
Cao-miên. Một kháng tố viên cho tất cả xứ Đông Dương đặt tại Sài gòn. Ngoài ra
còn có những “hành chánh pháp viên” để xử các vụ hành chánh. Tham chính viên của
Pháp (conseil d’ Etat) là nơi có thẩm quyền tối cao để xét về các vi phạm hành
chánh gây ra bởi chính phủ thuộc địa, Đại thẩm viên ở Paris (Cours de Cassation)
giữ quyền tài phán tối cao. “Trong thực tế, người Pháp kiểm tra tổ chức tư pháp
và sự tham gia của người Việt trong lãnh vực tư pháp là rất ít ỏi”.

(389) Điều thứ 64

(390) Điều 69.

(391) Lê Văn Hiến, Nhật ký của một Bộ trưởng, Nhà Xuất bản Đà Nẵng 1995, ghi
ngày 9-9-1948, trang 417.

(392) Hồi ký Vũ Đình Hòe, Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn 2004, trang 847.

(393) Giữa năm 1948, Đặc uỷ đoàn Chính phủ, do ông Bộ trưởng Hoàng Minh Giám và
cụ Linh mục Phạm Bá Trực dẫn đầu đi thanh tra khu III. Tới tỉnh Thái Bình thì
được Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh này đề nghị ân xá cho 19 phạm nhân. Đặc
uỷ đoàn đồng ý và ký quyết định ân xá. Giám đốc tư pháp khu III phản đối vì
không được hỏi ý kiến như luật lệ đã quy định và vì có những người trong số được
tha là “những tên đảng viên cường hào đã ức hiếp nhân dân nên bị toà kết án tội,
nay thả ra, chúng sẽ báo thù những người đã tố cáo chúng, còn dân thì có thể
thắc mắc” (Hồi ký Vũ Đình Hòe, Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn 2004, trang 842). Giám
đốc Tư pháp báo cáo lên Bộ và được Bộ trưởng Vũ Đình Hòe đồng tình. Uỷ ban Kháng
chiến cũng báo cáo lên văn phòng Chủ tịch phủ, phê phán sự phản đối của Giám đốc
Tư pháp. Hồ Chí Minh, tuy cũng cho rằng, Đặc khu uỷ nên thu hồi lệnh ấy, nhưng
trong thư gửi “Chú Hòe”, Hồ Chí Minh đã chủ yếu phê phán và yêu cầu Bộ “sửa đổi
cách làm việc” của Giám đốc Tư pháp: “Về vấn đề tha cho 19 phạm nhân, thái độ
của Giám đốc Tư pháp Khu III có chỗ không đúng: vì sao Giám đốc không trình bày
ý kiến với Đặc uỷ đoàn? Trong tờ trình lên Bộ, Giám đốc lại dùng những lời quá
đáng… Bộ nên ra chỉ thị cho Giám đốc Tư pháp Khu III sửa đổi cách làm việc. Chào
thân ái và quyết thắng/ 10-1948 - Hồ Chí Minh” (Sách đã dẫn, trang 843). Bộ Tư
pháp đã “khiển trách nghiêm khắc” Giám đốc Vũ Văn Huyền theo chỉ thị của Hồ Chí
Minh. Ông Vũ Văn Huyền coi là bị ức hiếp đã vào vùng của Pháp.

(394) Sắc lệnh số 97/SL, “Sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật”, Hồ
Chí Minh ký ngày 22-5-1950.

(395) Sau cuộc họp này, Luật sư Phan Anh ghi nhật ký: “Nghề luật sư vẫn được duy
trì. Vẫn để anh Nguyễn Mạnh Tường, anh Đỗ Xuân Sảng, anh Nguyễn Văn Hưởng làm
việc bào chữa… Bác quyết định vẫn giữ tổ chức luật sư. Nói chung, Đoàn Luật sư
chưa bao giờ bị giải tán. Nhưng nó không phát triển vì hoạt động bị hạn chế.
Thay vào đoàn Luật sư, có những đoàn gọi là bào chữa viên (nhân dân) chất lượng
tuỳ tiện” (Hồi ký Vũ Đình Hòe, Nhà Xuất bản Văn Học 2004, trang 904-905).

(396) Năm 1960, Bộ Tư pháp giải thể, ông Vũ Đình Hòe chuyển về Viện Luật học
thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, làm chuyên viên nghiên cứu luật pháp và
về hưu năm 1975.

(397) Hồi ký Vũ Đình Hòe, Nhà Xuất bản Văn Học 2004, trang 901-902.

(398) Theo báo Nhân Dân: “Hội đồng xét xử muốn xét xử nghiêm minh nhưng lại vấp
phải những tác động từ cấp uỷ, chính quyền địa phương, từ cá nhân người lợi dụng
chức quyền… Không thể vượt qua được, họ đành xử hữu khuynh, né tránh, xử không
đúng pháp luật để được yên thân. Có không ít vụ án đã được xét xử ở một chỗ
khác, còn lại, phiên toà công khai, thẩm phán chỉ đưa bản án có sẵn trong túi ra
tuyên, bất chấp thực tế khách quan đã được chứng minh tại phiên toà. Thực tế
cũng cho thấy, một số thẩm phán đã không chịu sự tác động bên ngoài, giữ thái độ
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật thì chính họ sau đó lại phải gánh chịu những
hậu quả tai hại, bị bãi miễn thẩm phán, bị chuyển công tác khác, bị cấp này, ông
kia chiếu tướng” (Vũ Thế Lân, Về những vụ án chưa được xử nghiêm, Nhân Dân số ra
ngày 18-3-1992).

(399) Ngày 29-11-1991, trong Hội nghị Trung ương “cho ý kiến về Hiến pháp” Tổng
bí thư Đỗ Mười phát biểu: “Đối với hoạt động của ngành kiểm sát và toà án, các
cấp uỷ định kỳ nghe báo cáo tình hình và nêu ý kiến về phương hướng chỉ đạo, bảo
đảm thực hiện đúng pháp luật và các quy định của Nhà nước, không can thiệp trực
tiếp, nhất là vào công tác xét xử; không quyết định tội danh và các mức án. Khi
xét xử, toà án phải theo đúng pháp luật và chỉ tuân theo pháp luật. Đối với
những vụ án có ảnh hưởng chính trị rộng, có liên quan đến quốc phòng, an ninh,
đối ngoại hoặc liên quan đến những cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý, cấp uỷ cần
tham gia ý kiến về quan điểm xét xử, làm cơ sở cho việc xét xử, quyết định của
cơ quan kiểm sát và toà án. Cần kiên quyết khắc phục tình trạng một số đồng chí
trong cấp uỷ can thiệp vào công tác xét xử, thậm chí thô bạo đến mức quyết định
cả các bản án, mức án. Phải ngăn chặn tệ bao che, ô dù, và nhiều tiêu cực khác,
làm suy giảm hiệu lực của pháp luật, gây bất bình trong nhân dân”.

(400) Ngày 27-11-2006, Quốc hội đã giật mình khi Chánh án Toà án Nhân dân Tối
cao Nguyễn Văn Hiện cho biết: Cho tới năm 2005, hệ thống toà án của cả nước
thiếu 1.116 thẩm phán, do đó toà án đã phải “vơ vét”, bổ nhiệm thêm các thẩm
phán chưa đạt yêu cầu. Cũng theo ông Hiện, trong năm 2005, có hơn 9000 bản án đã
bị cải, sửa. Chất lượng hoạt động tư pháp yếu kém không chỉ ở bên toà.

(401) Lê Duẩn, Nhà Xuất bản Sự Thật 1980, trang 16.

(402) Con đường giành độc lập được Hiến pháp 1946 trình bày giản dị: “Cuộc cách
mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra
nền dân chủ cộng hoà. Sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi
vòng áp bức của chính sách thực dân, đồng thời đã gạt bỏ chế độ vua quan”. Trong
khi Hiến pháp 1959 cho rằng: “Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Đông Dương, ngày nay là Đảng lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên
một giai đoạn mới. Cuộc đấu tranh bền bỉ đầy gian khổ và hy sinh dũng cảm của
nhân dân ta chống ách thống trị của đế quốc và phong kiến đã giành được thắng
lợi vĩ đại: Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thành
lập, ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nước Việt Nam độc lập trước
quốc dân và toàn thế giới. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam đã xây
dựng một nước Việt Nam độc lập và dân chủ”. Hiến pháp 1980 thêm “Đảng cộng sản
Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện”; bổ sung “chiến thắng vĩ
đại Điện Biên Phủ năm 1954” và “Chiến thắng đế quốc Mỹ năm 1975”; bổ sung “Cuộc
chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây Nam
và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc”.

(403) Trường Chinh, Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp trước Quốc hội ngày 12-12-1980,
bản in ngày 9-12-1980, trang 18.

(404) Trường Chinh, tài liệu đã dẫn, trang 19.

(405) Lê Duẩn, Hiến Pháp mới, Hiến pháp của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ
nghĩa, Nhà Xuất bản Sự Thật 1980, trang 16.

(406) Nguyên văn phát biểu tại Hội nghị Trung ương 25, khoá III, của ông Lê Duẩn:
“Đảng và Nhà nước dính nhau làm một. Ở Trung ương, Thủ tướng là của Nhà nước,
đồng thời là của Đảng, là Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng cũng thế… Nhà nước làm
là Đảng làm. Ví dụ, Đảng làm thuỷ lợi qua Bộ trưởng Thuỷ lợi, qua Bộ Thuỷ lợi
chứ không qua một tổ chức khác. Làm thuỷ lợi cũng là nhà nước làm. Làm theo
đường lối của Đảng, song không có song trùng, chỉ có một bộ máy làm thuỷ lợi: là
Bộ Thuỷ lợi. Bộ Thuỷ lợi cũng là Nhà nước, đồng thời cũng là của Đảng. Cũng như
trong Quân đội. Tổng tư lệnh là của Đảng và của quân đội. Làm ra 8 tấn thóc/hecta
là Nhà nước và Đảng. Đảng giao Nhà nước làm. Đảng không tổ chức cơ cấu khác để
làm nữa, Thủ tướng là Đảng và Nhà nước. Nhưng Đảng phải có tổ chức riêng của
mình để xây dựng mình; nên ngoài nhiệm vụ chính trị Đảng giao cho Nhà nước làm,
Đảng còn có nhiệm vụ xây dựng Đảng mà Đảng phải tự làm bằng các tổ chức của Đảng.
Về thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng thì Đảng sử dụng bộ máy Nhà nước, do đó
nhiệm vụ chính trị của Đảng và của Nhà nước chỉ là một, và bộ máy quản lý kinh
tế của Nhà nước cũng là bộ máy quản lý kinh tế của Đảng” (Văn Kiện Đảng Toàn tập,
tập 37, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2004, tr 405).

(407) Sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã không
còn để cho Trưởng ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Đức Tâm có nhiều quyền như thời
Lê Duẩn dung túng Lê Đức Thọ. Trong Bộ Chính trị, trong Trung ương và trong từng
cấp uỷ bắt đầu định kỳ phải sinh hoạt kiểm điểm, các uỷ viên tự nhận xét và đánh
giá ưu khuyết của nhau. Trong khoá VII (1991-1996), Tổng bí thư Đỗ Mười đưa ra
sáng kiến thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Cán bộ đảng viên phải sinh hoạt tại
nơi làm việc và nơi cư ngụ. Trước khi đề bạt phải lấy phiếu tín nhiệm ở cơ sở.
Đến khoá VIII (1996-2001), Bộ Chính trị quy định, mỗi cán bộ không giữ một chức
vụ quá hai nhiệm kỳ; đưa ra giới hạn tuổi: lần đầu tham gia Ban Chấp hành Trung
ương không quá 55; lần đầu tham gia Bộ Chính trị không quá 60; tuổi về hưu của
uỷ viên Bộ Chính trị là 65; của bốn cương vị chủ chốt, Tổng bí thư, chủ tịch
nước, thủ tướng, chủ tịch Quốc hội, không quá 67. Tại Hội nghị Trung ương 4,
khoá X, các cơ quan trung ương được sắp xếp lại, chỉ còn sáu ban Đảng: Văn phòng;
Ban Tổ chức; Ban Tuyên Giáo; Uỷ ban Kiểm tra; Ban Dân vận; Ban Đối ngoại. Một số
ban được tổ chức các nhiệm kỳ trước đó như: Ban Kinh tế; Ban Bảo vệ Đảng; Ban
Nội chính đã bị giải tán (Hội nghị Trung ương 5, khoá XII, quyết định lập lại
Ban Nội chính sau chuyển chức năng chỉ đạo chống tham nhũng từ Chính phủ về bên
Đảng và sau đó lập thêm Ban Kinh tế).

(408) Tuổi Trẻ 13-2-1992.

(409) Trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 2007, có 238 người tự ứng cử nhưng chỉ có
30 người lọt vào vòng trong. Năm 2011, chỉ có tám mươi ba người tự ứng cử ở hai
mươi hai tỉnh, thành, và quy trình “sàng lọc” của Mặt trận Tổ quốc cũng chỉ để
cho mười lăm người lọt vào danh sách ứng cử viên chính thức. Quy trình bầu cử
này được dân gian gọi là “Đảng cử, dân bầu”.

(410) Gồm một hoặc hai, ba đoàn đại biểu Quốc hội.

(411) Ngày 1-8-1991.

(412) Ngày 27-8-2007, khi tới thăm Tổng cục chính trị của Quân đội, Chủ tịch
nước Nguyễn Minh Triết cho rằng, bỏ Điều 4 là “tự sát”. Bộ Công an từng treo một
Pano trước trụ sở ghi khẩu hiệu: “Chỉ biết còn Đảng, còn mình”.

Chương 18 Tam nhân phân quyền

Về mặt lý thuyết, chủ tịch Quốc hội nằm trong “tứ trụ” nhưng khi viết lời tựa
cho cuốn Đại tướng Lê Đức Anh, ông Đỗ Mười chỉ nhắc đến Tổng bí thư, chủ tịch
nước và thủ tướng. Ông Mười viết: “Ba chúng tôi về quan điểm đường lối, đối nội,
đối ngoại trên các lĩnh vực nói chung đều nhất trí với nhau, có việc gì chưa
thật thống nhất thì đưa ra tập thể Bộ Chính trị bàn để đi đến thống nhất”. Rất
khó để tìm được bằng chứng về sự không nhất trí giữa ba ông thông qua các biên
bản họp Bộ Chính trị. Khi xuất hiện trước công chúng, cả ba đều đứng cạnh nhau
tươi cười, và sinh thời, họ chỉ dành cho nhau những lời tốt đẹp. Nhưng đằng sau
sự yên tĩnh trên bề mặt ấy, quyền lực được ba ông chế ước lẫn nhau một cách chặt
chẽ trong thế chân kiềng. Bộ ba

Không gian chính trị trong thập niên 1990 đã rút ngắn khoảng cách giữa các giai
tầng trong xã hội Việt Nam. Trong các thập niên trước, chỉ có các nhà báo thực
sự cung đình như Thép Mới, Hoàng Tùng, Bùi Tín… mới mong có thể tiếp cận được
những nhà lãnh đạo như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Giữa họ có một
khoảng cách xa vời với không chỉ các thường dân mà còn với cả các uỷ viên trung
ương, thậm chí cả với nhiều uỷ viên Bộ Chính trị.

Tuy được truyền thông nhà nước mô tả như là một nhà lãnh đạo giản dị, trên thực
tế, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh vẫn là một người khó gần. Theo ông Nguyễn Đình
Hương(413): “Ông Linh thường cấm những uỷ viên Trung ương có khuyết điểm như Hà
Trọng Hoà, Phạm Song… vào họp Trung ương một cách vô nguyên tắc”. Thế hệ Đỗ Mười,
Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, tuy vẫn còn được coi như “cha, chú”, đã bắt đầu ý thức
được họ đang ở trong thời kỳ chuyển tiếp từ giai đoạn cầm quyền với vai trò lãnh
tụ sang giai đoạn cầm quyền như các nhà chính trị.

Đầu thập niên 1990, Quốc hội bắt đầu họp dài ngày hơn, vườn hoa Nhà Kiếng và
hành lang Hội trường Ba Đình bắt đầu trở thành nơi tiếp xúc giữa các nhà lãnh
đạo trung ương với các đại biểu là quan chức địa phương và các nhà doanh nghiệp.
Đây cũng là khu vực mà báo giới có thể tiếp xúc phỏng vấn trực tiếp các Bộ
trưởng, các trưởng ban của Đảng, Tổng bí thư, chủ tịch nước và thủ tướng.

Chủ tịch Lê Đức Anh không có mặt thường xuyên bên ngoài vườn hoa. Tuy ông luôn
tỏ ra thân thiện nhưng uy lực của “vị tướng một mắt” vẫn làm e ngại không ít
người. Chỗ ông đứng không mấy khi có vòng trong vòng ngoài, và báo chí cũng
không có cho ông nhiều câu hỏi. Ngược lại, Tổng bí thư Đỗ Mười xuất hiện ở đâu
là kéo theo đó một đám đông. Tổng bí thư có thể “hùng biện” cho đến khi các nhà
báo lần lượt lẻn đi vì ông bắt đầu lặp lại những điều đã nói trong các giờ giải
lao trước đó. Ông Võ Văn Kiệt thì khác. Sau khi Trợ lý Vũ Quốc Tuấn “bật mí” vài
điều muốn giải toả của Thủ tướng với các nhà báo quen biết, ông Kiệt sẽ tươi
cười xuất hiện ở tam cấp của Hội trường Ba Đình, bắt đầu một cuộc họp báo không
chính thức.

Với Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt, ông Đỗ Mười bao giờ cũng thể hiện sự tương kính.
Khi có việc gì cần trao đổi, đích thân ông Mười đi thẳng vào “Thành” gặp ông Lê
Đức Anh hoặc ra tận sân tennis gặp ông Võ Văn Kiệt. Nhưng với Chủ tịch Quốc hội
Nông Đức Mạnh thì ông lại thường thể hiện cách “lãnh đạo” rất khác thường. Khi
Quốc hội không phê chuẩn ông Đào Đình Bình, một ứng cử viên trẻ vào chức Bộ
trưởng Bộ Giao thông, từ hàng ghế đầu, ông Đỗ Mười đã nhấp nha nhấp nhổm. Đến
giờ giải lao, ông bước ngay lên bục Chủ tịch Đoàn, đuổi theo ông Nông Đức Mạnh
ra tận hậu phòng của Hội trường Ba Đình. Ông Đỗ Mười dí tay sát cổ áo Chủ tịch
Quốc hội và nói: “Anh lãnh đạo Quốc hội thi hành nghị quyết của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng như thế à?”(414).

Ông Đỗ Mười sùng bái nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và chấp hành nghị quyết một
cách chân thành. Năm 1958, khi làm Bộ trưởng Bộ Nội thương, ông chỉ huy đánh tư
sản ở Hà Nội. Hai mươi năm sau, cũng chính ông dẫn “đại quân” vào Sài Gòn đánh
tư sản ở miền Nam. Nhưng đến Tết năm 1989, khi đã trở thành người đứng đầu của
một chính phủ thi hành nghị quyết “đổi mới”, ông lại lên tivi “chúc mọi người
làm ăn phát tài”. Theo ông Trần Xuân Giá: “Khi về làm chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng, từ tư duy cho đến cách điều hành của ông Đỗ Mười thay đổi một cách không
ngờ. Ông lắng nghe và thấy được những cân đối lớn của nền kinh tế, có khả năng
tổng hợp và đưa ra được những quyết định sắc sảo”. Ông Đỗ Mười cũng chọn mang
theo sang Văn phòng Tổng bí thư những người gần gũi trong đội ngũ chuyên gia đã
giúp ông chống lạm phát thành công như Lê Đức Thuý, Nguyễn Văn Nam… Đặc biệt,
không ít người bất ngờ khi ông chọn ông Hà Nghiệp làm người giúp việc. Ông Hà
Nghiệp được coi là một trong những người có đóng góp trong tiến trình thay đổi
tư duy của ông Trường Chinh. Sau khi ông Nguyễn Văn Linh lên Tổng bí thư, ông
Trường Chinh có ý giới thiệu Hà Nghiệp với hy vọng ông Linh tiếp tục phát triển
tư duy đổi mới, nhưng ông Linh gạt đi. Ông Hà Nghiệp phải sang làm trợ lý cho
Tổng bí thư của Lào rồi về nước “ngồi chơi xơi nước”.

Tháng 8-1991, khi được đưa lên làm chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông Võ Văn Kiệt
đã nhờ ông Hà Nghiệp viết cho mình bài diễn văn nhậm chức và theo ông Kiệt, ông
dự định sẽ mời Hà Nghiệp sang làm việc cho mình. Khi Hà Nghiệp ở không thì không
thấy ai hỏi han, khi ông Kiệt định mời thì ông Đỗ Mười đã đi trước một bước ra
quyết định đưa Hà Nghiệp về làm trợ lý.

Tiểu sử chính thức của ông Đỗ Mười ghi: “Xuất thân từ một gia đình nông dân, bản
thân là thợ sơn”. Nhưng, khi trở thành Tổng bí thư, theo thư ký của ông, Tiến sỹ
Nguyễn Văn Nam, ông lại có tham vọng trở thành một nhà lý luận. Bên cạnh hai nhà
Marxist cứng rắn là Đào Duy Tùng và Nguyễn Đức Bình, ông trọng dụng Lê Xuân Tùng
và tới đại hội giữa nhiệm kỳ, đưa thêm một nhà lý luận khác, ông Nguyễn Phú
Trọng, vào Trung ương. Sự say sưa của ông đã tập hợp thêm được Nguyễn Hà Phan,
Lê Khả Phiêu, hai nhân vật được ông bổ sung vào Bộ Chính trị trong hội nghị giữa
nhiệm kỳ tháng 1-1994.

Nhưng, theo ông Nguyễn Văn Nam: “Ông Đỗ Mười vẫn là một con người hành động chứ
không phải là một con người lý luận. Cho nên khi điều hành bên chính phủ, ông có
thể nhận biết thực tế để có những quyết định phù hợp; khi làm công tác Đảng,
đụng đến các vấn đề lý luận thì ông phải trông cậy vào Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức
Bình, về sau có thêm Nguyễn Phú Trọng và chịu ảnh hưởng không ít từ những người
này”.

Đỗ Mười tên thật là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày 2-2-1917, tại xã Đông Mỹ, huyện
Thanh Trì, Hà Nội. Chú ruột ông là Nguyễn Thọ Chân, Bộ trưởng Lao động trong
Chính phủ Phạm Văn Đồng. Thuở hàn vi, ông có hai người bạn thân là Hoàng Hữu
Nhân và Phạm Viết Đào. Cả hai đều sắc sảo, ông Nhân từng có những ý định đổi mới
táo bạo từ khi còn là bí thư Thành uỷ Hải Phòng, sau Đại hội VI làm trưởng Ban
Công nghiệp Trung ương nhưng phẫn uất, có lúc phải nhảy lầu, vì bị Tổng bí thư
Nguyễn Văn Linh o ép. Ông Đào thì ngang ngạnh, vui vẻ hưu trí với chức thứ
trưởng Bộ Ngoại thương, thậm chí còn “đàn đúm” với Lê Hồng Hà, Nguyễn Kiên
Giang, những người từng ủng hộ Trần Xuân Bách. Ông Đào thường gọi những người
được Đỗ Mười trọng dụng như Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình… là lũ “chim ri, chim
sẻ”.

Ông Đỗ Mười sống gần như độc thân trong ngôi nhà Tây phía sau Phủ Chủ tịch, vốn
là nơi ở của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Người gần gũi ông nhất suốt gần ba thập
niên tại ngôi nhà này là bà Thuận, người nấu cơm của ông. Năm 1997, ông Đỗ Mười
chuyển về sống trong biệt thự số 11 Phạm Đình Hổ. Bà Thuận, lúc này đã có một
người con, không về ở cùng. Trong phòng riêng của mình, ông Đỗ Mười cho treo bức
ảnh chụp ông và Fidel Castro, cho đặt một chậu địa lan bằng nhựa… Bàn làm việc
của ông đầy những tài liệu, bài báo chi chít những nét gạch đỏ. Một chiếc phản
cá nhân trải nệm bông gòn, bọc vải hoa màu đỏ sẫm, được kê gần đó. Ông thường
đặt lưng trên chiếc giường này sau những giờ xem tài liệu.

So với Lê Đức Anh, lý lịch tham gia cách mạng của ông Đỗ Mười rõ ràng hơn, và so
với ông Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười là bậc tiền bối cả về tuổi đời và tuổi Đảng(415).
Ông Đỗ Mười trở thành uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng từ năm 1955. Ông Võ Văn
Kiệt là uỷ viên dự khuyết năm 1960. Trong khi tới năm 1976, ông Lê Đức Anh mới
vào Trung ương. Đỗ Mười giữ chức phó phủ tướng từ năm 1969, nhưng, năm 1982, ở
Đại hội V, ông bị đặt thứ ba trong hàng kế cận do Tổng bí thư Lê Duẩn và nhà tổ
chức quyền biến Lê Đức Thọ sắp xếp: Tố Hữu, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười.

Ngày 12-8-1991, ba ngày sau khi trở thành chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông Võ
Văn Kiệt nhận xét: “Đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười vừa là người kế thừa những kinh
nghiệm rất lớn của đồng chí Nguyễn Văn Linh, vừa có những kinh nghiệm lớn về
quản lý nhà nước. Một khi đồng chí lãnh đạo cao nhất hiểu và thông cảm sâu sắc
những khó khăn của công tác quản lý nhà nước thì đó là một thuận lợi lớn cho
chúng tôi”(416). Theo ông Vũ Quốc Tuấn: “Sáu tháng sau, ông Kiệt mới nhận ra là
mình nhầm. Ông Kiệt nói với tôi: Tôi tưởng anh Mười đã từng làm việc nhiều năm ở
chính phủ, hiểu biết công việc chính phủ thì sẽ là một thuận lợi cho tụi mình.
Không ngờ, ông biết nhiều việc của chính phủ quá thì ông lại can thiệp nhiều
hơn, làm khó mình hơn”.

Theo ông Trần Xuân Giá: “Từ đầu đến cuối, ông Đỗ Mười không ủng hộ ông Kiệt, cả
về lối sống lẫn quan điểm. Cuối năm 1981, một buổi chiều sau những giờ họp căng
thẳng, tôi cùng ông tản bộ trên đoạn đường trước Lăng, ông cho tôi biết tin Võ
Văn Kiệt được điều ra Hà Nội. Khi đó, ông Đỗ Mười đã dùng những câu, những từ
rất nặng nề mà tôi không tiện nhắc lại để nói về ông Kiệt. Ông Mười cho rằng:
Thằng đó sẽ chết vì quan điểm kinh tế thị trường của nó”. Ông Phan Văn Khải cho
rằng: “Ông Đỗ Mười đổi mới là do áp lực chứ không phải do chuyển biến về nhận
thức như ông Trường Chinh. Ông cũng không được học hành căn bản để hiểu các vấn
đề một cách có hệ thống”.

Theo ông Đoàn Mạnh Giao: “Thời kỳ Đỗ Mười - Võ Văn Kiệt xuất hiện thuật ngữ Nhà
Đỏ - Nhà Trắng hay Hùng Vương Đông - Hùng Vương Tây để chỉ mối quan hệ giữa bên
Đảng và bên Chính phủ”. Nhưng, theo ông Phan Văn Khải: “Khi còn cầm quyền, ông
Kiệt không thèm nghe Đỗ Mười, ông Mười nói gì thì nói, ông cứ làm theo kiểu của
ông”. Ông Khải thừa nhận đây là lý do mà khi trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên
ngay khi vừa nhận chức, ông nói: “Về bản lĩnh chính trị tôi không thể nào so
sánh với đồng chí Võ Văn Kiệt”(417). Khi ông Kiệt làm “phó”, theo ông Vũ Quốc
Tuấn: “Những việc ông Đỗ Mười chủ trì thì ông Kiệt cũng ít tham gia. Có nhiều
cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, ông Kiệt không dự. Ông Kiệt tập trung cho những
công trình của mình ở Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là chương trình khẩn
hoang Đồng Tháp Mười. Ông Mười thấy ông Kiệt chủ động quá nên lại kéo ông Kiệt
về, hai ông tỏ ra tâm đầu ý hợp”.

Khi trở thành thủ tướng, ông Võ Văn Kiệt có các thành viên chính phủ như Phan
Văn Khải, Đỗ Quốc Sam, Lê Xuân Trinh và cả những người từng được cất nhắc bởi
ông Đỗ Mười như Trần Xuân Giá, Nguyễn Đình Lộc… Họ là những nhà kỹ trị, giúp ông
thiết kế các thiết chế pháp lý cho nền kinh tế thị trường vận hành. Ông Kiệt tập
trung thời gian của mình cho những công trình quốc gia và tích cực hoạt động
trong lĩnh vực đối ngoại. Trong thập niên 1990, “nụ cười Võ Văn Kiệt” trở thành
một gương mặt nổi bật không chỉ ở trong nước. Nhưng, uy tín trong dân không phải
bao giờ cũng trở thành sức mạnh trong một nền chính trị mà quyền lực được giải
quyết trong nội bộ(418).

Tướng Lê Đức Anh dường như không tham gia tranh luận về ý thức hệ, về kinh tế
thị trường. Chủ tịch nước, theo Hiến pháp, là một chức danh không mấy thực
quyền, nhưng trong thời gian giữ cương vị này, ông Lê Đức Anh đã tạo ra được một
ngoại lệ.

Năm 1986, khi từ Campuchia trở về thay thế tướng Lê Trọng Tấn làm Tổng tham mưu
trưởng, tướng Lê Đức Anh không ở những căn biệt thự dân sự bên ngoài mà chọn một
căn nhà thuộc cụm nhà khách Bộ Quốc phòng. Đó là một căn nhà hai tầng được xây
từ thời Pháp nằm trong khuôn viên Thành Hà Nội cũ. Tướng Anh thường vào ra Thành
bằng cổng chính, 51B Phan Đình Phùng nhưng có thể đón khách từ cổng phụ, số 5 
Hoàng Diệu. Bà Võ Thị Lê, người vợ thứ hai mà ông cưới năm 1956, sau khi tập kết
ra Bắc, sống như hình với bóng với ông trên tầng hai, trong khi những người giúp
việc thì ở tầng dưới hoặc các ngôi nhà nằm trong khuôn viên.

Ông Lê Đức Anh sinh ngày 1-12-1920 tại Truồi, một làng quê nghèo đói bên phá Tam
Giang, thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên. Cha ông vừa làm ruộng vừa có thêm
nghề thuốc nên cuộc sống gia đình, theo ông, đỡ cực hơn mọi người. Ông học vỡ
lòng ở trong làng rồi ra Huế học tiểu học. Năm mười một tuổi, ông được gửi ra
nhà chị gái, có chồng đang dạy học ở thành Vinh học tiếp nhưng cũng chỉ được
thêm một, vài năm. Học vấn của ông Lê Đức Anh ở mức đọc thông viết thạo.

Ông Lê Đức Anh bắt đầu được “giác ngộ” thông qua những câu chuyện về “một người
có tên là Nguyễn Ái Quốc” do hai người cậu ruột của ông, Lê Bá Giản và Lê Bá Dị,
kể. Theo lý lịch tự khai: Lê Đức Anh chính thức tham gia cách mạng từ năm 1937 
và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào ngày 1-5-1938. Năm 1939, khi bị
đàn áp, một số đồng chí bị bắt, ông lánh vào Đà Nẵng, lên Đà Lạt, rồi đến năm
1942 thì xuống đồn điền cao su Lộc Ninh. Cuộc hôn nhân với bà Lê cùng với một số
điểm không rõ ràng về thời điểm vào Đảng là hai vấn đề khiến ông Lê Đức Anh luôn
bị những người từng hoạt động với ông xới lên mỗi khi quyền lực của ông được nới
rộng(419).

Ông Lê Đức Anh gặp người vợ đầu tiên, bà Phạm Thị Anh, vào tháng 8-1945, khi ông
đang là “uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ phụ trách tổ chức và quân sự”(420) và bà Bảy
Anh đang là phó chủ tịch Hội Phụ nữ xã An Tây, huyện Bến Cát.

Bà Phạm Thị Anh sinh năm 1925, con một gia đình địa chủ nhỏ ở Bình Dương. Cả mấy
anh chị em đều đi theo Việt Minh, có người đang làm chủ tịch huyện, có người
đang làm bí thư xã. Thời gian ấy, bà Bảy Anh chỉ mới vừa đôi mươi lại được coi
là hoa khôi trong khi ông Lê Đức Anh thì bị rỗ và một bên mắt bị bệnh vảy cá.
Ông Lê Đức Anh “tìm hiểu” bà bằng cách cho mượn sách và mỗi lần như thế lại kẹp
vào một mảnh giấy ghi mấy chữ. Làm hậu thuẫn cho ông còn có hai tỉnh uỷ viên: Tư
Đang và Nguyễn Oanh(421); Tư Đang khi ấy là con nuôi của gia đình bà Bảy. Nhưng,
bà Bảy Anh cho rằng, việc bà chọn ông Lê Đức Anh chủ yếu vì nếu lấy ông thì bà
không phải làm dâu; ông Lê Đức Anh cũng ngỏ lời đúng khi bà muốn yên bề gia
thất.

Cuộc hôn nhân ngay ngày đầu đã gặp sự cố: Đám cưới vừa bắt đầu thì có Tây càn,
ông Lê Đức Anh đạp xe chở vợ về bên Hội Phụ nữ rồi quay lại chỉ huy chống càn.
Đứa con đầu lòng của họ ra đời khi bà Bảy Anh chỉ mới có bầu bảy tháng, bà ngoại
cháu đặt tên là Lê Thiếu. Vừa sinh xong lại gặp càn, y tế xã đưa lên võng gánh
chạy vào rừng, đứa bé nhiễm lạnh, chết. Sau đó, Lê Đức Anh được điều về Khu 8.
Năm 1950, khi xuống miền Tây thăm chồng, bà Bảy có thai đứa con thứ hai. Năm
1951, bà sinh hạ một người con gái đặt tên là Lê Xuân Hồng.

Sau Hiệp định Geneva, Lê Đức Anh nằm trong số những cán bộ được đưa ra miền Bắc.
Từ Bình Dương, hai mẹ con bà Bảy Anh xuống thăm chồng. Nhưng bà quyết định không
tập kết ra Bắc như những người phụ nữ khác. Khi ấy, mấy anh em bà Bảy theo kháng
chiến để lại một đám trẻ con lít nhít, bà không nỡ để cho cha, một người đàn ông
goá vợ phải một mình chăm nom bọn trẻ. Chỉ không lâu trước đó, gia đình bà Bảy
Anh đã phải mất ba anh em trai trong một vụ án oan lớn ở Bến Cát(422).

Lê Đức Anh ra Bắc, thoạt đầu được giao làm sư trưởng Sư đoàn 330, đóng ở Thanh
Hoá; sau được điều về Bộ Tổng tham mưu làm cục phó Cục Tác chiến. Thời gian này,
quân đội đang chịu cuộc “chỉnh huấn, chỉnh quân” khốc liệt do cố vấn Trung Quốc
chỉ đạo. Trong chi bộ của ông có hai người bị kiểm điểm nặng, ông và ông Bội
Dong, vì lấy vợ thuộc thành phần tư sản, địa chủ. Cả hai sau đó đều tuyên bố “ly
khai với gia đình vợ”(423).

Năm 1956, ông kết hôn với bà Võ Thị Lê, có chồng là một đại uý quân đội đã hy
sinh và đang có một người con riêng. Năm 1957, họ có với nhau một con trai, đặt
tên là Lê Mạnh Hà; năm 1959, họ sinh thêm một người con gái, cũng đặt tên là Lê
Xuân Hồng. Giữa thập niên 1960, Lê Xuân Hồng lớn, người con của ông Lê Đức Anh
và bà Bảy Anh, cũng được tướng Trần Văn Trà tổ chức đưa ra miền Bắc(424). Ở Hà
Nội, bà Lê làm y sỹ ở bệnh viện Hữu Nghị. Những năm ông làm Bộ trưởng Quốc phòng
rồi chủ tịch nước bà luôn ở bên cạnh chăm sóc ông. Đây là thời gian mà cuộc sống
của ông bà được mô tả là cẩn trọng tới từng chén cơm, viên thuốc. Gỡ cấm vận

Bộ ba Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt bắt đầu nhiệm kỳ khi “cánh cửa Trung
Quốc” đã được khai thông. Chuyến đi Bắc Kinh, từ ngày 5 đến 10-11-1991, của Tổng
bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt là chặng cuối trong
tiến trình bình thường hoá mà Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh bắt đầu và tướng Lê
Đức Anh đóng một vai trò trung gian quan trọng. Sứ mệnh của họ là gỡ bỏ lệnh cấm
vận thương mại và bình thường hoá quan hệ với Mỹ.

Việc ông Võ Văn Kiệt chọn Thái Lan và các nước ASEAN trước khi tới Bắc Kinh, mở
đầu chuyến công du ngay sau khi nhận chức chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng là có cân
nhắc. Theo ông Vũ Khoan: “Tại một cuộc họp của lãnh đạo Đảng và Nhà nước bàn về
cơ hội thoát khỏi tình thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ quốc tế, trong
lúc nghỉ giải lao anh Sáu gọi tôi - đại diện cho Bộ ngoại giao được triệu tập
sang dự họp - ra trao đổi ý kiến. Anh đặt vấn đề: đã có sự nhất trí cao về đánh
giá tình hình và chủ trương phá vây, song ta cần tính kỹ bước đi sao cho có hiệu
quả nhất. Anh gợi ý nên áp dụng chiến thuật ‘hoa sen nở’, đi từ trong ra, theo
đó trước hết cần cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực Đông Nam Á vốn có
lợi ích sát sườn trong quan hệ với ta đi đối với việc bình thường hoá quan hệ
với nước láng giềng phương Bắc là Trung Quốc; từ đó tạo ra thế mới để cải thiện,
thiết lập quan hệ với các nước ở vòng cung thứ hai thuộc khu vực Tây Thái Bình
Dương như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, rồi vươn sang vòng cung xa
hơn là EU; thành công của những bước đi ấy sẽ tạo thuận lợi cho việc thúc đẩy Mỹ
chấm dứt chính sách cô lập, cấm vận nước ta”.

Giữa ba ông gần như không có bất đồng trong các nỗ lực nhằm thoát ra khỏi lệnh
cấm vận thương mại của Mỹ. Tướng Lê Đức Anh thừa nhận: “Chúng ta bị dồn tới chân
tường”. Lệnh cấm vận mà người Mỹ áp dụng với Việt Nam đã khoá chặt cửa gần hai
thập niên: Việt Nam không thể nhập khẩu công nghệ mới từ các nước phương Tây,
không thể làm ăn trực tiếp với các công ty đa quốc gia, tài khoản bị phong toả,
không thể hưởng các trợ giúp đầy đủ từ ngay cả các định chế quốc tế như World
Bank, IMF…

Bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ gần như bế tắc kể từ khi những nỗ lực dưới
thời Tổng thống Jimmy Carter thất bại. Hai trở ngại chính cho tiến trình này là
việc Việt Nam đóng quân ở Campuchia và việc tìm kiếm tù nhân và người Mỹ mất
tích trong chiến tranh (POW /MIA). Cho tới lúc đó, Việt Nam thường chỉ được
người Mỹ nhớ tới như là tên của một cuộc chiến tranh, cuộc chiến được biết theo
cách mô tả của Hollywood.

Ngay sau Hiệp định Paris, 27-1-1973, 590 tù binh Mỹ bị bắt ở Việt Nam, Lào và
Campuchia đã được trao trả. Tuy nhiên, vẫn còn 2.646 người Mỹ bị xếp vào danh
sách mất tích. Không ai biết bao nhiêu trong đó bị chết mà không tìm được hài
cốt. Việc tìm kiếm MIA gần như phải đình lại sau ngày 30-4-1975. Trong khoảng từ
tháng 2-1973 đến tháng 3-1975, người Mỹ chỉ xác nhận được sáu mươi ba bộ hài cốt
trong đó có hai mươi ba chết trong thời gian bị giam giữ và năm trường hợp chết
tại Lào. Trong thập niên 1980, một số người Việt vượt biên đến Mỹ đã đổ thêm dầu
vào lửa khi nói là họ vẫn nhìn thấy tù binh Mỹ ở Việt Nam. Nhiều người Mỹ tin
rằng Hà Nội đã nói dối về số lượng tù nhân chiến tranh.

Những cố gắng tìm kiếm của Chính phủ Mỹ ở Lào và Campuchia sau năm 1975 không
làm hài lòng người dân. Một số cựu binh Mỹ trong vai người hùng đã quay lại Đông
Dương trong các nỗ lực được gọi là “chiến dịch giải cứu” tù binh. Hollywood làm
trầm trọng thêm vấn đề POW /MIA khi để trí tưởng tượng của mình tô vẽ những cuộc
phiêu lưu của những cựu binh này. Trong thập niên 1980, có lẽ không mấy người Mỹ
không biết đến Chuck Norris và Sylvester Stallone. Đặc biệt là Sylvester
Stallone trong vai Rambo. Trong khi tù binh Mỹ được mô tả là đã bị chính phủ của
mình bỏ quên thì hình ảnh Stallone và Chuck Norris vạm vỡ, quả cảm trên những
bích chương quảng cáo - “Chiến tranh chưa kết thúc cho đến khi chàng trai cuối
cùng trở về” - đã tác động rất lớn đến tinh thần người Mỹ.

Chính quyền của Tổng thống Reagan (1980-1988) phản đối việc bình thường hoá cho
đến khi có sự xác nhận Việt Nam đã rút hết quân ở Campuchia và có sự hợp tác đầy
đủ của Việt Nam nhằm đạt được mức độ cao nhất có thể về việc tìm kiếm những
người mất tích có tên trong danh sách.

Ronald Reagan cũng như người kế nhiệm ông, George H. W. Bush (1988-1992), đã
giao công cuộc tìm kiếm POW /MIA cho Bộ Quốc phòng, nhằm tránh áp lực của các
nhóm vận động hành lang. Năm 1987, Reagan phái tướng về hưu John Vessey đến Hà
Nội. Năm 1988, Hà Nội cho phép các nhóm tìm kiếm POW /MIA đến hoạt động trên
toàn lãnh thổ Việt Nam. Nhưng vấn đề người Mỹ mất tích vẫn không nhờ thế mà dịu
xuống.

Chính quyền Mỹ liên tục bị chỉ trích là đã che giấu thông tin, những sản phẩm
bịa đặt thường lại được tin cậy hơn là những thông tin chính thức. Tháng 7-1991,
một thăm dò trên tờ Wall Street Journal cho thấy: 3/4 số người được hỏi tin
chính quyền Mỹ đã không làm đủ những điều cần thiết để tù binh được trao trả.
Tổng thống Nga Boris Yeltsin, tháng 6-1992, đã đổ thêm dầu vào lửa khi nói với
NBC News rằng, một số tù binh Mỹ có thể đã được chuyển từ Hà Nội đến Liên Xô.

Năm 1991, theo đề nghị của Thượng nghị sỹ Bob Smith, Thượng viện lập Uỷ ban Đặc
biệt về POW /MIA. Uỷ ban do Thượng nghị sỹ John Kerry, một cựu binh trong chiến
tranh Việt Nam làm chủ tịch. Một cựu binh khác, Thượng nghị sỹ John McCain(425),
tham gia với tư cách uỷ viên. Tiếng nói của hai ông trở nên có trọng lượng nhất
trong vấn đề này(426).

Từ Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt cũng đã “đánh vào”
tâm lý của dân chúng Mỹ khi ông trả lời phỏng vấn báo Time, tuần lễ từ ngày 7 
đến 13-1-1992, nói rằng: “Sự nghi ngờ chúng tôi còn giam giữ một số người Mỹ còn
sống… là một điều ngớ ngẩn. Động cơ nào có thể thúc đẩy chúng tôi làm điều đó?”.
Báo Time hỏi: “Làm sao để dân chúng Mỹ có thể tin vào sự đảm bảo của các ông?”.
Ông Kiệt: “Ở Việt Nam có hàng chục ngàn gia đình có người thân bị mất tích. Tôi
cũng là một nạn nhân. Gia đình tôi có bốn người, vợ và ba con của tôi, bị mất
tích trong chiến tranh. Trực thăng Mỹ đã giết 300 người trong một trận càn dọc
sông Sài Gòn, vợ và con trai, một con gái của tôi đã mất trong trận càn đó. Tôi
có thể thấu hiểu được nỗi đau của tất cả các gia đình Mỹ có người thân bị mất
tích trong chiến tranh… Tôi mong muốn dân chúng Mỹ hiểu được hoàn cảnh của chúng
tôi trong vấn đề này. Chúng tôi xin mời bất cứ người nào nghi ngờ còn người Mỹ
sống ở Việt Nam hãy đến Việt Nam mà tìm hiểu”.

Cuối năm 1992, khi tới Hà Nội lần thứ hai, ông John Kerry đã đề nghị Chủ tịch
nước Lê Đức Anh cho phép một cộng sự của ông, Thượng nghị sỹ Bob Smith xuống
đường hầm ở khu vực lăng Hồ Chí Minh để tận mắt thấy không có lính Mỹ bị giam
dưới lăng như Hollywood nói.

Vào cuối nhiệm kỳ của mình, Tổng thống George H. W Bush đã đi được một quãng dài
trong “lộ trình” do phía Mỹ đơn phương đưa ra để bình thường hoá. Đáp lại việc
Việt Nam chấp nhận một văn phòng của Mỹ tại Hà Nội để xử lý vấn đề POW /MIA, Mỹ
bãi bỏ lệnh hạn chế đi lại trong bán kính hai mươi lăm dặm đối với các nhà ngoại
giao Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc, đồng thời cho phép người Mỹ được đi đến Việt Nam
một cách có tổ chức, thay vì chỉ được đi theo từng cá nhân. Tháng 12-1991, các
công ty Mỹ được phép có một số hoạt động kinh doanh ở Việt Nam. Tháng 11-1992,
lệnh hạn chế liên lạc điện thoại được bãi bỏ, dịch vụ gọi điện trực tiếp giữa Mỹ
và Việt Nam được thiết lập.

Lệnh cấm vận có thể đã được bãi bỏ nhanh hơn nếu G.H.W. Bush tái đắc cử. Nhưng
ông đã thua cuộc trước Bill Clinton, một thống đốc chỉ bằng tuổi con trai ông.
Bình thường hoá quan hệ với Việt Nam sẽ rất khó khăn với Bill Clinton, người đã
tránh nhập ngũ thời chiến tranh Việt Nam, nếu không có tiếng nói của hai cựu
binh, Thượng nghị sỹ Dân chủ John Kerry và Thượng nghị sỹ Cộng hoà John McCain.

Đầu tháng 4-1993, chính quyền Clinton lặng lẽ, thận trọng tìm kiếm những bước đi
tiến tới bình thường hoá với Việt Nam. Ngày 12-4-1993, tờ Wall Street Journal
tuyên bố “Bill Clinton dường như đã ở bên bờ của sự kết thúc hoàn toàn chiến
tranh Việt Nam”. Nhưng ngay trong ngày hôm đó, tờ New York Times giật tít lên
đầu trang nhất: “Nhiều tài liệu cho thấy năm 1972 Hà Nội đã dối trá về số lượng
tù binh”. Bài báo được viết bởi Celestine Bohlen, trưởng văn phòng tại Moscow
của tờ New York Times. Ngay trong ngày 12-4-1993, Hà Nội tuyên bố tài liệu này
là bịa đặt. Nhưng, cả báo chí và chính trường Mỹ lúc đó dường như không ai còn
đủ sự điềm tĩnh để đánh giá “bản báo cáo” về sau được chứng minh là nguỵ tạo
này(427). Báo chí Mỹ tuyên bố: “Chúng ta không thể thiết lập quan hệ với những
kẻ đã giết tù binh chiến tranh”. Một thăm dò do Wall Street Journal/NBC thực
hiện vào các ngày 17 và 20-4-1993 cho thấy 2/3 người Mỹ tin rằng tù binh Mỹ vẫn
còn bị giữ tại Đông Nam Á.

Ngày 18-4-1993, tướng John Vessey từ Hà Nội trở về khẳng định với Tổng thống
Bill Clinton, không có cơ sở để tin là vẫn còn người Mỹ bị giam giữ ở Việt Nam.
Tuyên bố này của tướng Vessay tiếp tục bị các tổ chức hoạt động chống Việt Nam
trong vấn đề POW /MIA phản đối. Khi đó, cựu Phó Thủ tướng Việt Nam Cộng hoà
Nguyễn Văn Hảo đang ở Washington, D.C.. Hơn hai năm trước, ông đã nhận giúp Hà
Nội vận động hành lang. Khi ông Hảo xuất cảnh năm 1981, ông Võ Văn Kiệt vẫn giữ
liên lạc với ông thông qua bà Bùi Thị Mè(428).

Tháng 2-1990, vừa tới Thuỵ Sỹ dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới, ông Kiệt gọi điện
thoại ngay cho ông Hảo, khi ấy đang là một chuyên gia tư vấn của World Bank. Ông
Nguyễn Văn Hảo kể: “Đang ở Haiti, tôi nhận được điện thoại, người đàn ông ở đầu
dây bên kia hỏi tôi có nhận ra ai không. Tôi đề nghị ông nói lại một lần nữa,
rồi kêu lên: Sáu Dân. Tôi hỏi ông đang ở đâu? Ông bảo: Geneva. Tôi nói: Mai tôi
qua”.

Tháng 12-1991, sau khi trở thành chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông Võ Văn Kiệt
mời ông Nguyễn Văn Hảo trở lại Việt Nam. Ông Kiệt bàn với ông Hảo việc quay trở
lại Washington, vận động Mỹ bỏ cấm vận và thúc đẩy nhanh tiến trình bình thường
hoá. Ông Kiệt không làm việc này “đơn tuyến”. Ông bố trí để ông Hảo gặp Chủ tịch
Lê Đức Anh và Tổng bí thư Đỗ Mười. Theo ông Hảo: Ông Đỗ Mười coi ông như một
“người của mình”. Ông Mười hỏi: “Anh về đã vào viếng lăng Cụ chưa?”. Ông Hảo trả
lời: chưa. Ông bảo: “Anh nên đi”. Ông Hảo nói: “Vậy anh đưa tôi đi đi”. Thế là
ông Đỗ Mười đích thân đưa ông Hảo viếng lăng Hồ Chủ tịch.

Sứ vụ của ông Nguyễn Văn Hảo bắt đầu cuối năm 1992, khi ứng cử viên của Đảng Dân
chủ, Bill Clinton dần dần thắng thế. Thông qua một nhà cung cấp thực phẩm cao
cấp, Marc Ashton, ông Hảo đã ba lần tiếp cận được ông Ron Brown. Lần đầu, khi
Ron Brown đang là chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc của Đảng Dân chủ, tổ chức thành công
đại hội của Đảng đưa Bill Clinton chính thức ra tranh cử tổng thống Mỹ. Cuộc gặp
gần như tình cờ khi ông Hảo đang ở nhà Ashton và Brown từ cuộc gặp với các thành
viên Đảng Dân chủ ở Virginia trở về ghé ngang. Họ kéo nhau ra một nhà hàng gần
đó. Bữa tối diễn ra khá thân thiện, Brown còn nói đến việc hợp tác làm ăn với
Việt Nam khi giao thương được tái lập.

Tháng 12-1992, khi cuộc bầu cử đã ngã ngũ với phần thắng thuộc về Bill Clinton,
Ashton đến thăm cô em vợ, Madsen, đang là “bạn rất thân” của Brown, đang ở trong
nhà của chính Brown, rồi rủ Brown cùng ghé lai rai chút đỉnh. Khi Brown đến thì
ông Hảo đã ở đó. Cuộc gặp được viết lại trên báo Time ngày 11-10-1993 rằng, ông
Hảo mang theo một lá thư được viết sẵn của Chính phủ Việt Nam chúc mừng ông
Brown và hy vọng quan hệ hai nước sẽ tốt đẹp hơn. Brown để lại lá thư trên bàn
sau khi nói rằng ông không muốn nhận một lá thư như thế. Mấy ngày sau, theo đề
nghị của Ashton, Brown gửi ông Hảo một mảnh giấy ghi: “Nice to have met you.
Happy holidays”. Lần gặp thứ ba diễn ra vào trưa 13-2-1993, Ashton lại mời Brown
ăn trưa cùng cô bạn Madsen, cùng đi có thêm ông Hảo. Rồi chính ông Ashton đề
nghị Brown đưa mọi người ghé thăm Bộ Thương mại nơi Brown vừa được bổ nhiệm làm
Bộ trưởng. Brown đồng ý.

Thượng nghị sỹ John Kerry đưa tên của Thủ tướng Võ Văn Kiệt lên đầu danh sách
những người Việt Nam mà ông cho là có đóng góp đặc biệt cho chương trình POW
/MIA và tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt-Mỹ. Thượng nghị sỹ John Kerry
gặp ông Kiệt nhiều lần, và năm 1993 khi ông Kiệt tiếp ông ở Thành phố Hồ Chí
Minh, John Kerry đã đề nghị ông Kiệt nên viết thư gửi Tổng thống Bill Clinton
yêu cầu Mỹ xoá lệnh cấm vận thương mại, tiến tới bình thường hoá. Ông Kiệt hỏi:
“Theo ngài thì tôi nên viết cho tổng thống như thế nào?”. Thay vì chỉ góp ý, ông
John Kerry đã lấy giấy bút ra tự tay thảo giúp ông Kiệt lá thư gửi Bill Clinton.
Theo ông Võ Văn Kiệt: “Tôi gần như chỉ phải sửa lại rất ít bản thảo mà ông John
Kerry chuẩn bị giúp. Tôi cho chuyển bức thư ra Hà Nội đóng dấu rồi gửi vào ngay
để kịp nhờ Thượng nghị sỹ John Kerry mang về Mỹ”. Ngày 2-7-1993, Clinton tuyên
bố: “Mỹ không còn phản đối những dàn xếp được ủng hộ bởi Pháp, Nhật, và các nước
khác nhằm nối lại sự giúp đỡ của các định chế tài chánh quốc tế cho Việt Nam”.

Đầu năm 1994, Việt Nam được Liên Hiệp Quốc mời đến Ohio dự một hội nghị của Tổ
chức Thương mại và Phát triển, UNCTAD. Thủ tướng Võ Văn Kiệt cử Bộ trưởng Thương
mại Lê Văn Triết đi với tư cách là trưởng đoàn. Ông Lê Văn Triết kể: Vừa tới
Ohio thì Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Boutros Boutros Ghali, gặp nói: “Tôi muốn
có một cuộc họp riêng giữa ông và ông Bộ trưởng Thương mại của nước chủ nhà”.
Không kịp xin ý kiến Hà Nội, ông Triết trao đổi với phiên dịch Trần Đức Minh và
một quan chức Bộ ngoại giao đi cùng rồi nhận lời. Hôm sau, ông B.B.Ghali giới
thiệu ông Triết với Bộ trưởng Thương mại Mỹ Ron Brown rồi lấy cớ bận một việc
khác, rút lui.

Sau vài câu xã giao, Ron Brown nói: “Tôi muốn có cuộc gặp này để thông báo với
ông, tổng thống của chúng tôi sắp tuyên bố bỏ cấm vận thương mại đối với Việt
Nam”. Ông Triết cố gắng giấu sự xúc động, trả lời: “Tôi rất hoan nghênh; điều đó
rất phù hợp với nguyện vọng của người Việt Nam cũng như người Mỹ”. Brown nói:
“Tôi muốn nghe ông nói sâu hơn về suy nghĩ của người Việt Nam”. Ông Triết: “Lịch
sử hai nước có sự bất hạnh là gặp nhau trong chiến tranh, tôi không nói lỗi của
ai, nhưng chiến tranh ở Việt Nam cũng là bất hạnh của cả nhân dân Mỹ. Lệnh cấm
vận gây thiệt hại rất lớn cho chúng tôi, chúng tôi có nhiều hàng hoá mà không
thể bán sang đây, nhưng nhiều doanh nghiệp Mỹ muốn làm ăn với Việt Nam cũng
không thể được”. Brown: “Tôi cám ơn ông. Tôi muốn hỏi thêm, sau dỡ bỏ cấm vận,
cái gì sẽ đi theo?”. Ông Triết: “Với tư cách cá nhân, tôi nghĩ, sau đó là thiết
lập quan hệ ngoại giao”. Brown: “Ở tầm nào?”. Ông Triết: “Đại sứ”. Brown: “Đó
cũng là ý kiến của Thủ tướng?”. Ông Triết: “Thủ tướng sẽ có ý kiến riêng, nhưng
tôi biết ông là một người cởi mở, đường lối của Đảng chúng tôi hiện nay là làm
bạn với tất cả, đây là một quyết định phù hợp với thời đại”. Ron Brown cám ơn
rồi nói tiếp: “Tôi đề nghị chúng ta nên thường xuyên quan hệ với nhau. Sau ngoại
giao, thương mại sẽ có rất nhiều việc để làm”.

Ở thời điểm Bộ trưởng Ron Brown gặp Bộ trưởng Lê Văn Triết, ông đang chuẩn bị để
ra trước một bồi thẩm đoàn. Giữa năm 1993, một cộng sự của Tiến sỹ Nguyễn Văn
Hảo, ông Lý Thanh Bình - Việt kiều ở Miami - tố cáo: Chính phủ Việt Nam đã hối
lộ ông Brown 700 nghìn USD nhằm đổi lại việc Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận và thiết lập
bình thường hoá. Theo Tiến sỹ Nguyễn Văn Hảo, Bình đã cùng ông về Việt Nam và
trong cuộc gặp các nhà lãnh đạo Việt Nam ông đã đưa Bình theo và ông ta biết
được phần nào câu chuyện. Sau khi máy kiểm tra không phát hiện ra Bình nói dối,
cảnh sát Miami đã khởi tố vụ án. Bình được trang bị các thiết bị ghi âm, mang
mật danh “radar” và được hướng dẫn cách đưa ông Nguyễn Văn Hảo vào bẫy điều tra
của cảnh sát. Nhưng những băng ghi âm của Bình sau đó đã không cung cấp được
thêm bằng chứng nào cho thấy ông Hảo đang thực hiện một âm mưu hối lộ.

FBI thu được hai bản fax ông Hảo gửi cho các quan chức Việt Nam hồi tháng
12-1992 nói rằng phản ứng của Ron Brown là tích cực. Theo tờ New York Times thì
FBI cũng tìm thấy dấu hiệu chính quyền Việt Nam dự định mở một tài khoản ở
Singapore. Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy việc mở các tài khoản này có
liên quan tới những hoạt động vận động hành lang của ông Hảo. Các tổ chức phản
đối tiến trình bình thường hoá Việt - Mỹ đã khai thác những lời tố cáo của Bình.
Nhưng cả ông Hảo và Brown đều chỉ nhận là có gặp nhau ba lần và không làm gì sai
trái. Sau bảy tháng điều tra công phu, ngày 1-2-1994, Bộ trưởng Thương mại Mỹ
Ron Brown phải ra hầu toà. Trong ngày, bồi thẩm đoàn cho rằng Ron Brown vô tội.
Hai hôm sau, 3-2-1994, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận
thương mại Việt Nam.

Tuyên bố của Tổng thống Clinton được đưa ra vào 5 giờ sáng ngày 4-2-1994 theo
giờ Việt Nam. Chưa đầy hai giờ sau, Công ty Pepsi Cola tung một quả bóng bay
khổng lồ (hình cái lon Pepsi) lên vùng trời Thành phố Hồ Chí Minh, và phát không
những lon Pepsi đầu tiên sản xuất tại Việt Nam. Ngày 5-2-1994, Coca Cola bảo trợ
một cuộc biểu diễn nhạc rock tại Việt Nam. Pepsi và Coca Cola là hai trong số
hơn 100 công ty Mỹ có mặt ở Việt Nam lúc đó.

Ngay trong tháng 4-1994, một hội chợ triển lãm hàng Mỹ lần đầu được khai mạc. Ở
thời điểm ấy, các doanh nghiệp Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật, Pháp và Úc
đã ký kết các dự án đầu tư lên tới 8 tỷ đôla. Giới doanh nghiệp Mỹ đã tạo sức ép
khá lớn để bỏ cấm vận. “Đa phương hoá”

Cả ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh đều thừa nhận vai trò của Thủ tướng Võ Văn Kiệt
trong các hoạt động đối ngoại. Tướng Lê Đức Anh nói: “Chủ trương làm bạn với tất
cả, bình thường hoá quan hệ với Mỹ, trước hết do các anh: anh Linh, anh Mười,
anh Kiệt trong Bộ Chính trị và anh Tô, cố vấn, đề ra. Nhưng nói cho đúng, hoạt
động nhiều là ông Kiệt”.

Tuy nhiên, mọi đường đi nước bước của Chính phủ, của Bộ ngoại giao đều phải được
các ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười chấp thuận dưới dạng các nghị quyết của Bộ Chính
trị. Ông Lê Đức Anh được phân công phụ trách an ninh, quốc phòng, ngoại giao.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm: “Các vấn đề về ngoại giao tôi đều phải xin ý
kiến ông Lê Đức Anh và thường được anh ủng hộ”. Ông Đỗ Mười cũng rất ít khi phát
ngôn, nhưng theo ông Võ Văn Kiệt: “Tôi hiểu ý anh ấy thông qua ý kiến của Đào
Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Nguyễn Đức Bình”. Ông Kiệt đôi khi còn nhận được thông
điệp bất lợi từ Tổng bí thư một cách trực tiếp.

Giữa năm 1993, trong một cuộc họp của Ban Bí thư do ông Đỗ Mười chủ trì để quán
triệt với cán bộ đối ngoại các ngành. Ông Đoàn Mạnh Giao kể: “Tôi tới muộn một
chút nên chỉ còn chiếc ghế trống trước mặt ông Đỗ Mười. Vào họp, ông Mười than
phiền: ‘Sao lại cho Tây ba lô mắc võng nằm cả ở Hồ Tây’. Tôi bảo: ‘Họ cũng là
dân Tây nghèo đi du lịch thôi ạ’. Ông Mười nói: ‘Chúng nó làm gián điệp đấy! Tớ
vừa ký cho cậu lên thứ trưởng mà nói gì cũng cãi’. Ông Đỗ Mười vừa dứt lời thì
Chánh Văn phòng Trung ương Hồng Hà lấy ra một đống sách do sứ quán các nước châu
Âu in bằng tiếng Việt, rồi nói: ‘Các sứ quán in tài liệu tuyên truyền công khai
anh ơi’. Ông Đỗ Mười hỏi: ‘Chủ nghĩa xã hội dân chủ à?’, rồi quay sang tôi: ‘Tại
sao Chính phủ lại cho in như vậy?’. Tôi nói: ‘Thưa bác, luật lệ ngoại giao không
cấm điều này. Hồi xưa, sứ quán ta ở Trung Quốc cũng in những tài liệu tuyên
truyền. Những tài liệu này để trong sứ quán, vấn đề là cán bộ ta vào đó rồi mang
ra thôi ạ”.

Cho dù về đối nội, Tổng bí thư là người giữ vị trí cao nhất trong hệ thống chính
trị Việt Nam, nhiều quốc gia vẫn không thể tiếp đón ông Đỗ Mười với các nghi
thức dành cho nguyên thủ. Trong thời gian đầu, gần như ông Đỗ Mười chỉ có thể
thăm viếng những nước như Trung Quốc, Lào, Cuba… về sau có thêm Hàn Quốc, Nhật…
đồng ý tiếp ông. Trong khi đó, “nguyên thủ quốc gia” trên danh nghĩa là tướng Lê
Đức Anh lại bị ấn tượng là quá cứng rắn.

Mãi tới tháng 11-1993, Chủ tịch nước Lê Đức Anh mới bắt đầu chuyến thăm chính
thức tới Lào và chặng kế tiếp theo thông lệ là tới Bắc Kinh. Năm 1994, ông đến
Indonesia và Iran. Năm 1995, thăm Kuwait, Syria, Cambodia, Brazil, Cuba,
Philippines. Cũng trong năm 1995, Lê Đức Anh đến Pháp dự lễ kỷ niệm 50 năm chiến
thắng phát xít và sau đó tới New York dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Liên
Hiệp Quốc. Ông là người duy nhất trong thế hệ các nhà lãnh đạo vào Đảng trước
năm 1945 và là vị nguyên thủ cộng sản Việt Nam đầu tiên tới Mỹ.

Trong khi đó, ngay từ tháng 10-1991, ông Võ Văn Kiệt đã bắt đầu các chuyến công
du “phá băng” xuống các nước ASEAN. Không chỉ đi nhiều hơn những người đồng
nhiệm, thật khó giải thích vì sao ông Võ Văn Kiệt, một người xuất thân từ nông
dân, lại chính là nhà lãnh đạo đầu tiên nhận ra việc phải chấn chỉnh từ bên
trong để chuẩn bị một tư thế mới, không chỉ cho cá nhân ông mà cho cả Việt Nam,
trước khi thiết lập quan hệ rộng rãi hơn với các quốc gia trên thế giới.

Ngày 5-11-1991, trên chuyến chuyên cơ từ sân bay Nội Bài đi Bắc Kinh, ông Võ Văn
Kiệt nói với ông Đỗ Mười ý định mở ngay một tuyến cao tốc từ Hà Nội lên Nội Bài
và đã được ông Đỗ Mười ủng hộ. Ngày ấy, để đi từ Hà Nội đến sân bay, xe phải qua
Cầu Đuống, sang Đông Anh, vừa phải lòng vòng xa, vừa đi qua những khu phố nhếch
nhác, chật hẹp. Không chỉ rút ngắn khoảng cách từ sân bay quốc tế về Thủ đô,
đoạn đường cao tốc đầu tiên được làm với nguyên tắc BOT này đã gieo những ấn
tượng đầu tiên về một Việt Nam đang thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

Ông Kiệt cũng cho chuyển nơi đón các vị nguyên thủ quốc gia từ Nhà khách Chính
phủ số 12 Ngô Quyền về Phủ Chủ tịch. Ông Kiệt nói: “Một lần tôi được cử tháp
tùng Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công đi đón Tổng bí thư Rumania
Ceausescu. Lễ đón được tổ chức trước Nhà khách Ngô Quyền, hình Hồ Chủ tịch đặt
trên nóc toà nhà Ngân hàng Nhà nước, một phông vải lớn căng che nhà Ngân hàng,
cờ quạt trông như một sân khấu hát bội. Cả chúng tôi và dân chúng được huy động
đến phải đứng đợi giữa nắng. Tôi thấy không ổn, nghĩ, phải thay đổi từ những
việc tưởng là nhỏ như thế này. Nhưng khi đó tôi mới chỉ là phó chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng”.

Chuyển nơi đón khách thì buộc phải phá một “vườn hoa con cóc” ở trước sân Phủ
Chủ tịch, Quyết định của ông Kiệt bị phản ứng. Ông Kiệt kể: “Có người tố cáo với
anh Phạm Văn Đồng: Ông Kiệt san bằng di tích. Anh Đồng gọi tôi đến, tôi thưa:
anh biết rõ cái gọi là di tích ở đó, chỉ là một cái mỏ neo cắt trên một thảm cỏ
cây. Rồi tôi nói, để tổ chức một lễ đón các nguyên thủ cho có tư thế quốc gia,
không có chỗ nào trang trọng như trước Phủ Chủ tịch. Mặt khác, chúng ta cũng
không thể phơi nắng, phơi mưa cả chủ lẫn khách như lâu nay vẫn làm. Anh Đồng
nói: anh nói cũng phải. Thế là tôi về, cho sửa. Lúc đầu ta vẫn đón khách theo
kiểu duyệt binh, có đủ hải-lục-không quân. Tôi bỏ duyệt binh, chỉ để đại diện
các binh chủng đứng thành hàng và không còn bắt dân phơi nắng nữa”.

Ông Kiệt nói: “Các anh làm đối ngoại lâu năm như anh Nguyễn Duy Trinh, anh
Nguyễn Cơ Thạch, đặc biệt, anh Thạch là một Bộ trưởng ngoại giao rất có tầm, sau
anh không có ai bằng. Nhưng, lạ là các anh ấy vẫn để cho việc lễ tân trong những
cuộc họp hành, đón khách quốc tế rất luộn thuộm. Gần như không có đối chiếu, gần
như không để ý đến cái không phù hợp của mình, để sửa”. Ngay như quyết định của
ông Kiệt cấm đi dép lê và yêu cầu mặc comple, thắt cà vạt tại các nghi lễ trọng
thể, theo ông Vũ Khoan: “Anh em làm ngoại giao lúc đầu cũng cho rằng đó là một
quyết định không thực tế. Cho tới một lần, lên một tỉnh miền núi họp, tôi bị hố
vì chỉ có tôi ăn mặc tuềnh toàng trong khi các vị lãnh đạo địa phương đều mặc
comple, đeo cravat”.

Ông Võ Văn Kiệt cũng là nhà lãnh đạo đầu tiên nhận ra nhu cầu chấn chỉnh cung
cách thiếu chuyên nghiệp của các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài. Năm
1990, khi tới Davos dự Diễn đàn Kinh tế thế giới, ông Kiệt nhận ra sự thiếu
chuyên nghiệp của các quan chức ngoại giao. Nữ phiên dịch của ông trong chuyến
đi, bà Tôn Nữ Thị Ninh kể: “Khi tiễn ông ra sân bay, sứ quán nói, đại sứ ra
trước để chuẩn bị, tôi với ông đi sau. Nhưng cậu lái xe lại không biết phòng VIP
ở đâu, ba thầy trò loay hoay mãi. Cuối cùng, tôi đành phải tìm một góc yên tĩnh,
để ông ngồi đấy. Tôi đi được ít phút thì người của sứ quán chờ không thấy ông,
đi tìm. Ông không la mắng gì nhưng rất bực mình, trên đường về ông nói, cơ quan
ngoại giao của mình ở nước ngoài chưa đủ tầm và thiếu chuyên nghiệp”.

Chuyến đi Davos tháng 2-1990 là chuyến đi đến phương Tây đầu tiên của ông Võ Văn
Kiệt. Trước ngày lên đường, bà Phan Lương Cầm, phu nhân của ông, cho mời bà Tôn
Nữ Thị Ninh đến, nói: “Chị sống ở bên đó lâu, xin chị mạnh dạn góp ý, kể cả
chuyện ăn mặc, anh Sáu nên thế nào?”. Bà Ninh nói: “Ông Kiệt có phong thái của
một chính khách rất gần với phương Tây”.

Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm cho rằng: “Quan hệ cá nhân đóng một vai trò
quan trọng trong công tác đối ngoại. Trong đàm phán, ông Kiệt thường tạo được
cảm tình và độ tin cậy rất cao, không chỉ với những nhà lãnh đạo châu Á như
Mahathir, Than Shwe, Chatichai, Aquino… Các nhà lãnh đạo ASEAN như Chatichai,
Mahathir, đặc biệt là Lý Quang Diệu đều giữ quan hệ khá thân mật với ông Võ Văn
Kiệt.

Ông Võ Văn Kiệt gặp ông Lý Quang Diệu năm 1990, ở Davos, khi cả hai cùng tham dự
Diễn đàn Kinh tế thế giới. Lần đó khi phát biểu trên diễn đàn, ông Lý Quang Diệu
nói: “Tôi qua đây, có tiếp xúc với mười đoàn, và hiện đoàn Việt Nam đang muốn
gặp”. Ngồi ở dưới nghe, ông Kiệt nghĩ: “Ông này chơi mình đây. Cuộc gặp là thoả
thuận của đôi bên, nhưng ổng nói như mình xin gặp ổng”. Sau đó khi gặp nhau, Lý
Quang Diệu lại chỉ trích: “Việc chọn đi theo mô hình Liên Xô đã làm cho nền kinh
tế Việt Nam lạc hậu mất hai mươi năm”. Nhưng, thay vì tạo thêm xung đột, ông
Kiệt đã tìm cách kết bạn với người đã phê phán mình.

Năm 1991, khi ông Võ Văn Kiệt tới Singapore, Lý Quang Diệu đã thôi làm thủ tướng
được đúng một năm, nhưng vẫn là một nhân vật đầy quyền uy. Trong một dạ tiệc đón
tiếp, ông Kiệt ngồi gần, nói với ông Lý Quang Diệu: “Chúng tôi hân hạnh mời ngài
qua thăm Việt Nam và ngài nên bố trí thời gian đi thăm nhiều nơi, qua đó ngài có
thể có những ý kiến đề xuất, gợi ý vì chúng tôi từ chiến tranh ra, chưa có nhiều
kinh nghiệm xây dựng kinh tế”. Ông Kiệt kể: Ông Lý cảm ơn lia lịa và nhận lời.
Sáng hôm sau, khi báo chí phỏng vấn, Lý Quang Diệu nói: “Thủ tướng Việt Nam mời
tôi làm cố vấn và tôi đã nhận lời”. Ở nhà, ông Đỗ Mười, rất lo. Ông Kiệt về, ông
Mười hỏi: “Anh mời Lý Quang Diệu làm cố vấn à?”. Ông Kiệt kể: “Tôi thuật lại sự
tình nhưng có vẻ như ông Mười không tin lắm. Ông nói, như thế là bất lợi. Tôi
động viên, không sao, biết đâu về chính trị, không phải bất lợi mà hay, vì mình
được tiếng chịu chơi. Thực tế là hay. Sau đó, báo chí nước ngoài viết: Việt Nam
mời một ông chống cộng làm cố vấn chắc đã đổi mới lắm”.

Năm 1992, Việt Nam được mời làm quan sát viên của ASEAN với điều kiện năm năm
sau mới có thể trở thành quốc gia thành viên. Nhưng, theo ông Nguyễn Mạnh Cầm:
“Chỉ hai năm, họ đặt vấn đề, nếu Việt Nam đã chuẩn bị và sẵn sàng gia nhập ASEAN
thì phải trả lời trong hội nghị ngoại trưởng các nước ASEAN năm 1994 để năm 1995 
gia nhập chính thức”. Đúng lúc đó, theo Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm:
“Trong Bộ Chính trị có anh phân vân, quan hệ với ASEAN thì được nhưng gia nhập
ASEAN thì không được. Đào Duy Tùng nói: ASEAN là sự tiếp nối của khối
SEATO(429)”. Ông Cầm cho rằng: “Nhận thức của một số đồng chí trong Bộ Chính trị
lúc bấy giờ không theo kịp những thay đổi của tình hình thế giới”.

Đầu năm 1994, ASEAN thông báo nếu Việt Nam đủ điều kiện tham gia thì đến Hội
nghị các Bộ trưởng ngoại giao ASEAN tại Bangkok phải trả lời. Tháng 7-1994,
trước giờ ông Nguyễn Mạnh Cầm đi Bangkok, Hà Nội vẫn chưa đưa ra quyết định. Ông
Cầm kể: “Sáng sớm, gặp Thường vụ Bộ Chính trị, tôi nói: Khi còn vấn đề
Campuchia, ASEAN có những đối kháng với mình. Nay, họ cũng có nhu cầu quan hệ
với mình, ta phải tranh thủ. Bán anh em xa mua láng giềng gần. Mình có quan hệ
được với ASEAN thì mới quan hệ được với các nước”. Đỗ Mười, Lê Đức Anh đồng ý
nhưng, Đào Duy Tùng kiên quyết phản đối. Ông Tùng cho rằng vào ASEAN không mang
lại lợi ích gì trong khi lại làm tăng nguy cơ “diễn biến hoà bình”. Đến giờ ông
Cầm phải ra máy bay, Đào Duy Tùng vẫn bảo lưu ý kiến, ông Đỗ Mười dặn: “Anh cứ
đi nhưng chưa trả lời, chờ điện của Bộ Chính trị”.

Rồi, ông Đỗ Mười cử ông Vũ Khoan vào Sài Gòn gặp ông Võ Văn Kiệt, lúc bấy giờ
đang làm việc với Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Kiệt từ cuộc họp trong
86 Lê Thánh Tôn ra bảo: “Tôi đã nói từ lâu, chuyện này còn có gì mà phải cân
nhắc nữa. Anh báo ngay với anh Cầm là ta đồng ý”. Ông Kiệt nói: “Các chính khách
thân tình của ASEAN nói với tôi, nếu ASEAN đặt vấn đề mà Việt Nam do dự thì sẽ
mất thời cơ vì họ sẽ nghĩ, Việt Nam chỉ thăm dò chứ không thành thật. ASEAN làm
việc theo nguyên tắc đồng thuận, chỉ cần vài nước rút lại ý kiến là sẽ rất bất
lợi”.

Ông Nguyễn Mạnh Cầm kể: “Ông Đỗ Mười dặn phải chờ điện trả lời của Bộ Chính trị.
Theo kế hoạch, các Bộ trưởng sẽ gặp nhau trong bữa ăn tối ngày hôm đó, tôi hy
vọng nhận được điện vào buổi chiều nhưng chờ tới sáng hôm sau vẫn không thấy
đâu. Tôi quyết định vẫn trả lời ‘có’ với ASEAN. Anh Kiệt đã nỗ lực để đưa Việt
Nam gia nhập ASEAN và tôi tin nếu có gì thì anh sẽ đấu tranh trong nội bộ. Mãi
tới chiều hôm sau mới có điện của Bộ Chính trị đánh sang trả lời đồng ý”. Điện
do Uỷ viên Thường trực Thường vụ Bộ Chính trị Đào Duy Tùng ký.

Khi nhận được câu trả lời từ ông Cầm, Bộ trưởng Ngoại giao Malaysia, ông Badawi,
vui vẻ: “Cầm ơi, năm tới Việt Nam sẽ là thành viên của ASEAN nhưng với anh thì
còn hai điều kiện”. Ông Cầm hỏi: “Điều kiện gì?”. Badawi: “Đến đây, anh không
nói tiếng Pháp hoặc tiếng Nga nữa mà phải nói giỏi tiếng Anh và, điều kiện thứ
hai là phải biết đánh golf”. Ông Cầm: “Tiếng Anh thì tôi cố gắng được còn golf
thì tôi sợ lắm. Thời gian để tôi chuẩn bị đánh golf còn khó hơn Việt Nam chuẩn
bị điều kiện gia nhập ASEAN”. Badawi: “Việt Nam điều gì cũng làm được. Tôi sẽ
giúp anh chuẩn bị. Golf là làm việc chứ không phải chơi”.

Thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc, quốc gia mà cho tới khi đó vẫn được
Việt Nam gọi là Nam Triều Tiên, cũng là một mốc đáng nhớ trong tiến trình hội
nhập, cho dù bên thúc đẩy không phải Việt Nam. Việt Nam và Hàn Quốc bắt đầu có
quan hệ buôn bán, đầu tư từ năm 1983, nhưng chỉ ở mức phi chính phủ. Ông Vũ
Khoan kể: “Năm 1991, Uỷ ban Kinh tế Xã hội của Liên Hợp Quốc về châu Á và Thái
Bình Dương, ESCAP, họp ở Seoul. Nam Triều Tiên muốn có đại diện của Việt Nam, họ
mua vé và chi phí cho cả đoàn. Tôi trở thành quan chức đầu tiên của Việt Nam đến
Nam Triều Tiên. Tại Seoul, chúng tôi bắt đầu đàm phán về thiết lập ngoại giao.
Họ muốn đặt sứ quán tại Hà Nội ngay, nhưng mình chủ trương mở trước ở cấp tổng
lãnh sự. Hai bên thoả thuận là bàn kín nhưng đang bàn thì họ lộ tin cho báo chí,
tôi bỏ ra về”.

Sau đó, Nam Triều Tiên đề nghị đàm phán ở cấp vụ. Họ cử đại sứ tại Thái Lan sang
Hà Nội. Theo ông Nguyễn Mạnh Cầm: “Trong quá trình đàm phán có mấy điểm phải xin
ý kiến Bộ Chính trị: Mình đòi bồi thường chiến tranh, họ nói nếu chúng tôi nhận
bồi thường, người Mỹ sẽ gây khó khăn; mình đòi họ phải có trách nhiệm với Việt
Nam, họ nói, vậy cũng không được vì Mỹ có trách nhiệm lớn hơn. Thay vì bồi
thường, họ hứa sẽ ưu tiên vốn ODA cho Việt Nam và thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ giữa
hai nước”.

Việc thiết lập ngoại giao với Nam Triều Tiên cũng không suôn sẻ. Trước 1975, Nam
Triều Tiên là nước đồng minh của Mỹ, cùng với Australia, Chính quyền Park Chung
Hee có gửi quân đến tham chiến ở miền Nam Việt Nam. Họp Bộ Chính trị, ông Nguyễn
Hà Phan phát biểu: “Tôi không bao giờ quên tội ác của lính Park Chung Hee, các
anh muốn quan hệ thì phải giải trình, phải làm tư tưởng với người dân miền Đông
nơi lính Park Chung Hee đã gây nhiều tội ác. Tôi tin là người dân sẽ phản ứng”.
Ông Phan nói: “Anh Đào Duy Tùng cũng có ý kiến là tụi này nó xấu lắm”. Cả ông
Nguyễn Hà Phan và Đào Duy Tùng thật ra chỉ là người phát ngôn. Theo ông Võ Văn
Kiệt, nói Nam Triều Tiên đã từng đưa quân tới Việt Nam chỉ là cái cớ. Việc thiết
lập ngoại giao với Nam Triều Tiên bị Bắc Triều Tiên phản ứng và Trung Quốc thì
tỏ ý không hài lòng(430). Tháng 4-1992, hai nước đồng ý thiết lập văn phòng liên
lạc.

Ngày 24-5-1992, sau một chuyến thăm Đại Hàn, Xuân Lương, thành viên Hội Nhà báo
Việt Nam viết bài “Seoul, Mùa Xuân Thoáng Qua” đăng trên tờ Hà Nội Mới Chủ Nhật.
Bài viết mô tả: Nam Triều Tiên sau giải phóng rất nghèo bởi tài nguyên hầu như
không có gì đáng kể, lại sau ba năm “chiến tranh huynh đệ tương tàn”. Cũng Xuân
Lương, ngày 30-5-1992, có bài đăng trên báo Nhân Dân, tựa đề: “Nam Triều Tiên
Chặng Đường Đi Tới Phồn Vinh, mô tả “sự xuất hiện của bốn con rồng Châu Á” theo
đó, ca ngợi “con rồng” Nam Triều Tiên đi lên nhờ “tinh thần dân tộc, tính nhẫn
nại cộng với chủ trương đúng đắn của nhà nước”.

Ngay sau đó, Đại sứ Bắc Triều Tiên tại Hà Nội đã gặp Vụ phó Vụ Báo chí Bộ ngoại
giao Đỗ Công Minh để phản ứng về hai bài báo của Xuân Lương. Ông Đại sứ cho
rằng, cuộc chiến tranh năm 1953 ở bán đảo Triều Tiên là “chiến tranh giải
phóng”; sở dĩ Nam Triều Tiên phát triển là vì “họ sống bám vào viện trợ của Mỹ,
Nhật”. Ông Đại sứ còn đặt vấn đề: “Có thể dẫn tới sự chia tay giữa ngành báo chí
hai nước”(431).

Từ trước đó, các phản ứng của Bình Nhưỡng đã được đưa ra cân nhắc trong các cuộc
họp của Bộ Chính trị. Yếu tố xã hội chủ nghĩa được đặt lên bàn cân. Ông Võ Văn
Kiệt phát biểu: “Bắc Triều Tiên là xã hội chủ nghĩa nhưng khi ta đánh sang
Campuchia, họ là nước tiên phong chống ta nhất chứ không phải Nam Triều Tiên.
Nếu nói về xấu tốt thì chưa chắc ai đã hơn ai”. Bộ Chính trị không có lý do để
từ chối quan hệ với một nước quan trọng như thế trong khu vực. Ngày 22-2-1992,
Bộ trưởng Ngoại giao hai nước ký tuyên bố chung thiết lập ngoại giao ở cấp đại
sứ.

Tháng 2-1993, khi Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đến Seoul, ông được đón tiếp rất
trọng thị. Ông Cầm nói: “Cả tổng thống đương nhiệm và tổng thống đắc cử đều bảo
tôi, họ muốn mời Thủ tướng Võ Văn Kiệt sang thăm. Tôi trả lời: Tôi nghĩ là Thủ
tướng sẽ đồng ý”.

Trước chuyến đi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt vào tháng 5-1993, đại sứ Nam Triều
Tiên tại Hà Nội trình lên Bộ ngoại giao một lá thư, đề nghị Việt Nam, từ nay gọi
họ là Hàn Quốc thay vì gọi Nam Triều Tiên. Ông Đoàn Mạnh Giao kể: “Ông Kiệt tham
vấn, tôi nói: Thưa chú, cháu tên là Giao, cháu yêu cầu mọi người gọi cháu đúng
tên không lẽ hàng xóm có quyền không chịu. Ông Kiệt cười. Trước khi ông lên
đường, Văn phòng Chính phủ có một công văn yêu cầu các cơ quan trong nước từ nay
chính thức gọi Nam Triều Tiên là Hàn Quốc”. Khi tiếp ông Võ Văn Kiệt, theo Bộ
trưởng Nguyễn Mạnh Cầm: “Tổng thống Kim Young Sam nói: Ngày trước, Hàn Quốc có
một món nợ với Việt Nam. Đó là điều đáng tiếc xảy ra trong một thời điểm mà
chúng tôi không thể tránh vì là đồng minh với Mỹ. Giờ đây tôi xin sửa bằng cách
hợp tác với nhau tốt hơn”.

Khi đàm phán để ký kết hiệp định hợp tác với EU, trong Bộ Chính trị, cũng có
nhiều ý kiến phản đối cho dù lúc đó Việt Nam rất cần các bạn hàng châu Âu nhất
là bạn hàng dệt may. Ông Võ Văn Kiệt nói: “Bàn đi, bàn lại rất nhiều. EU đưa ra
các điều kiện đòi Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền. Có ý kiến cho rằng, đó là
điều kiện chính trị, không thể chấp nhận. Tranh luận không ngã ngũ. Năm 1995,
khi tôi chuẩn bị đi châu Âu, tôi nói với ông Đỗ Mười: Đề nghị anh đồng ý với tôi
về mặt nguyên tắc, nếu như trong các hiệp định mà EU ký với các nước khác không
có điều kiện nhân quyền mà chỉ đặt ra khi ký với mình thì tôi sẽ thuyết phục họ
rút lại. Nếu đó là nguyên tắc mà EU áp dụng chung thì đề nghị anh cho tôi quyết
định vì mình không phải là một ngoại lệ. Việt Nam cũng không thể đặt mình trong
một sự khác biệt và không thể từ chối các đòi hỏi hợp lý về nhân quyền. Ông Mười
đồng ý về mặt nguyên tắc”.

Trong lịch sử ngoại giao, theo ông Nguyễn Mạnh Cầm, hiếm khi trong một tháng có
tới ba sự kiện lớn như tháng 7-1995: Gia nhập ASEAN, bình thường hoá quan hệ với
Mỹ, ký hiệp định khung với EU. Kể từ khi Việt Nam đổi mới cho tới năm 1996,
ngoài việc phục hồi quan hệ với một số quốc gia, Việt Nam thiết lập quan hệ mới
với năm mươi bốn nước. Năm 1950, chỉ có các nước xã hội chủ nghĩa công nhận Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ 1950-1987, Việt Nam thiết lập quan hệ với 112 nước. Năm
1996, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 166 nước. Tổng cục II

Khi nhận chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tướng Lê Đức Anh chọn người đã kế vị mình
ở Campuchia, tướng Đoàn Khuê, làm Tổng tham mưu trưởng. Năm 1992, Đoàn Khuê trở
thành Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và, năm 1991, một nhân vật khác cũng từng ở Quân
khu IX và Bộ tư lệnh 719 với Lê Đức Anh, tướng Lê Khả Phiêu, được đưa lên làm
chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Ngoài những chức năng hiến định, ông Lê Đức Anh còn được Bộ Chính trị phân công
phụ trách công tác quốc phòng, an ninh và ngoại giao. Nhưng, khi nói đến thực
quyền của ông không thể không nhắc đến lực lượng tình báo quân đội mà cho dù
trong thời bình, đã được ông nâng từ cấp cục lên tổng cục.

Cuối năm 1986, khi tướng Lê Trọng Tấn mất đột ngột, Lê Đức Anh thay vị trí Tổng
tham mưu trưởng. Chỉ huy tình báo quân đội, tướng Phan Bình, được cho về hưu.
Trung tướng Phan Bình là người kế nhiệm Đại tá Lê Trọng Nghĩa làm cục trưởng Cục
II kể từ năm 1968, thời kỳ mà tình báo quân đội thực sự phục vụ cho quốc phòng.
Sau khi bàn giao, tướng Phan Bình vào Sài Gòn. Ông nghỉ tại nhà khách Cục II, số
30 Lê Quý Đôn. Đêm 13 tháng Chạp năm Bính Dần (đầu năm 1987), ông chết ở tư thế
“ngã sấp trên thềm nhà trước phòng khách, ở đầu bị bắn toác một lỗ rộng”.

Những thông tin không chính thức sau đó nói rằng “đồng chí Phan Bình bị bệnh tâm
thần, tự sát”(432). Tướng Lê Đức Anh đưa Nguyễn Như Văn, vốn là trưởng Đoàn 12,
cơ quan tình báo quân đội bên cạnh Bộ tư lệnh 719 ở Campuchia lên làm cục trưởng
Cục II. Đại tá Vũ Chính, người kế vị ông Tư Văn ở Đoàn 12 được đưa lên làm cục
phó. Năm 1995, Cục II được nâng cấp thành Tổng cục II, tướng Vũ Chính thay
Nguyễn Như Văn nắm quyền tổng cục trưởng. Một triều đại mới của tình báo quân
đội bắt đầu.

Không dừng lại ở quy mô tổng cục. Dưới sự chỉ đạo của tướng Lê Đức Anh, chủ tịch
nước kiêm phó bí thư thứ nhất Đảng uỷ Quân sự Trung ương, tướng Vũ Chính bắt đầu
soạn thảo Pháp lệnh tình báo theo đó thay đổi gần như căn bản chức năng nhiệm vụ
của cơ quan tình báo. Pháp lệnh được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua và được
Chủ tịch Nông Đức Mạnh ký vào ngày 14-12-1996. Sau khi có Pháp lệnh, Tổng cục II
soạn thảo một nghị định trình lên Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Ông Kiệt thừa nhận là khi nhận thấy sự bất ổn của nghị định tình báo, lẽ ra ông
phải đủ can đảm để từ chối ký (Nghị định 96/CP). Nhưng, ông Kiệt giải thích:
“Phần do ông Lê Đức Anh không ngừng thúc ép, phần do, theo nguyên tắc, Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội đã thông qua pháp lệnh thì Chính phủ có chức năng phải hướng
dẫn thi hành nên chín tháng sau, ngày 11-9-1997, tôi đã phải ký”. Ông Phan Văn
Khải giải thích thêm: “Nghị định tình báo mở rộng quá, ông Kiệt cảm thấy bất ổn
nhưng không vượt qua được”(433).

Từ một cơ quan trực thuộc Bộ Tổng tham mưu, Pháp lệnh Tình báo đã đặt những cơ
quan như Tổng cục II “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Đảng
Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của
Chính phủ”. Pháp lệnh cũng biến Tổng cục II, từ một cơ quan thay vì chỉ làm chức
năng chuyên trách tình báo về quân sự và thực thi các nhiệm vụ của Bộ Quốc
phòng, trở thành một cơ quan có chức năng “tình báo” trong nội bộ, có quyền: cài
người vào các địa phương, các cơ quan của Đảng, Nhà Nước, các tổ chức chính trị,
xã hội, văn hoá và kinh tế, được phép thiết lập kênh thông tin đặc biệt với lãnh
đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước.

Trong quá trình đàm phán Hiệp định Thương mại Việt Mỹ, theo ông Nguyễn Đình
Lương(434), nhiều uỷ viên Bộ Chính trị nhận được những “báo cáo tình báo” của
Tổng cục II do tướng Vũ Chính trực tiếp đưa tận tay. Những báo cáo này đã từng
có tác động không nhỏ đến tiến trình đàm phán. Theo ông Võ Viết Thanh: “Xem lại
các báo cáo của Tổng cục II thấy, phần lớn đó là những báo cáo mang tính chất
tác động vào nội bộ của lãnh đạo Việt Nam, tạo bất lợi về mặt tâm lý trong các
hoạt động đối ngoại, có khuynh hướng đẩy tới sự đối đầu với Mỹ. Tôi không hiểu
tại sao khi đọc những báo cáo như vậy mà Bộ Chính trị không yêu cầu chấn chỉnh”.

Ông Phan Văn Khải thừa nhận: “Ông Lê Đức Anh dùng quân đội, lực lượng tình báo
quân đội để tạo thế và dùng tin tình báo để gây ảnh hưởng lên cả các vấn đề nhân
sự. Năm 2002, khi Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm tổng cục trưởng Tổng cục II
thay bố vợ là Vũ Chính, tôi có dặn: anh đừng có dùng Tổng cục II vào những việc
như bố vợ anh đã từng làm, Vịnh nói, cháu sẽ nghe lời chú”(435). Thời Vũ Chính
còn làm tổng cục trưởng, Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cũng đã không thoát khỏi “lưới
Tổng cục II” của tướng Lê Đức Anh. Đất quân đội

Hai ông Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt chính thức nhận vị trí “nguyên thủ” ngay sau Đại
hội Đảng lần thứ VII, trong khi ông Lê Đức Anh phải đợi Chủ tịch Hội đồng Nhà
nước Võ Chí Công chủ trì việc thông qua Hiến pháp mới. Tướng Lê Đức Anh nhận
chức Chủ tịch nước vào tháng 9-1992, khi Quốc hội khoá IX bắt đầu nhóm họp. Ông
có lẽ là vị nguyên thủ đầu tiên kết hợp khá nhuần nhuyễn quyền lực trên thực tế
với vai trò mang tính biểu tượng của chức danh chủ tịch nước. Không phải ngẫu
nhiên khi đã trở thành nguyên thủ quốc gia, ông Lê Đức Anh vẫn ở trong Thành.
Quân đội vẫn là một lãnh địa mà ông tiếp tục nắm vững rồi từ đó toả ra sức mạnh.

Tướng Lê Đức Anh là người đưa ra sáng kiến phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam
anh hùng(436). Ngày 10-9-1994, Lê Đức Anh ký Lệnh ban hành Pháp lệnh 29-8-1994 
và ngày 29-12-1994, trong một đại lễ được Đài truyền hình Việt Nam trực tiếp
truyền đi, Lê Đức Anh đã cùng với hàng trăm bà mẹ, khi ấy ở tuổi ngoài 70, cùng
duyệt hàng quân danh dự trong khuôn viên Phủ Chủ tịch.

Chiến tranh đã cướp đi hàng triệu sinh linh của cả hai bên, chỉ riêng phía Cộng
sản đã có tới 44.253 bà mẹ Việt Nam đủ mất mát để được gọi là anh hùng: miền Bắc
có 15.033 bà; miền Nam có 29.220 bà. Họ là những người phụ nữ bị mất đứa con duy
nhất, bị mất cả chồng lẫn con, bị mất ba con, thậm chí, có những người như bà
Nguyễn Thị Thứ, ở xã Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam, có tới 9 người con được
Chính quyền công nhận là liệt sỹ.

Từ năm 1987, khi Việt Nam bắt đầu rút quân ở Campuchia, căng thẳng biên giới với
Trung Quốc giảm dần, hơn 600 nghìn sỹ quan, binh lính được cho giải ngũ: 37.338 
người đã được Bộ Quốc phòng “xuất khẩu lao động” sang các nước Đông Âu, trong đó
có 9.333 sỹ quan; 25.454 hạ sỹ quan và quân nhân chuyên nghiệp; 2.551 người
thuộc diện con em cán bộ quân đội. Phần lớn phải tự mình xoay xở: một số trở lại
quê hương lam lũ; một số đưa vợ con vào Nam, lên Tây Nguyên… Các chàng trai chỉ
mong có ngày cởi bỏ những bộ quân phục, chia tay với súng đạn, ít ai nghĩ tới
những ưu đãi mà quân đội sắp dành cho những người ở lại.

Đầu thập niên 1990, sỹ quan quân đội bắt đầu được hưởng mức lương ưu đãi theo hệ
số 1,8. Theo đó, một sỹ quan sẽ nhận được số lương trên thực tế cao gấp 1,8 lần
so với một viên chức dân sự có cùng ngạch bậc. Theo ông Vũ Quốc Tuấn: “Ông Võ
Văn Kiệt không đồng ý. Ông Kiệt cho rằng, nếu anh ở chiến trường hoặc ở biên
cương, hải đảo thì mức lương đó tôi tán thành. Nhưng nếu anh ở Hà Nội hay Sài
Gòn, hằng ngày về với vợ con mà hưởng lương thế là vô lý”(437). Tranh cãi kéo
dài suốt từ năm 1991 đến 1994 nhưng không có kết quả. Vấn đề không phải là công
bằng mà là vai trò quân đội trong tương quan chính trị.

Tướng Lê Đức Anh có một quyết định khác làm đổi đời nhiều sỹ quan, đó là quyết
định lấy đất doanh trại và đất mà các đơn vị quân đội đang nắm giữ ở các thành
phố như Sài Gòn, Hà Nội, Cần Thơ, Đã Nẵng… chia cho cán bộ xây nhà. Ở Hà Nội là
các phần đất quân sự xung quanh sân bay Bạch Mai, sân bay Gia Lâm, khu Lý Nam
Đế… Ở Sài Gòn là các vùng đất bao quanh Trung tâm như: trại Hoàng Hoa Thám; trại
Đào Duy Từ; căn cứ 26; Bộ Tổng Tham mưu; căn cứ Hải quân, từ khu vực Ba Son ăn
thông sang khu Lê Thánh Tôn, kéo xuống Tân Cảng; các nhà máy thuộc Tổng cục Kỹ
thuật kéo từ đường 3-2 đến Chí Hoà…

Con trai tướng Lê Đức Anh, ông Lê Mạnh Hà nói: “Trong thời gian ông (Lê Đức Anh)
làm Bộ trưởng Quốc phòng, ngoài những việc về vấn đề chiến lược quốc phòng, hay
bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, mà tôi không dám lạm bàn, có một việc
ông làm mà tôi nghĩ được nhiều quân nhân đánh giá cao, nếu không nói là biết ơn.
Đó là việc chia đất cho sĩ quan quân đội, những người hầu như không có gì cả sau
khi các cuộc chiến kết thúc. Cuộc sống của họ rõ ràng có sự thay đổi, bởi như
các cụ vẫn nói an cư lạc nghiệp” (theo Vietnamnet).

Những người được cấp đất có thể sẽ dễ dàng đồng ý với ông Lê Mạnh Hà. Nhưng,
trong số hơn 1,6 triệu quân lúc đó, chỉ có hơn 50.000 sỹ quan và quân nhân
chuyên nghiệp được cấp đất, họ là những người may mắn công tác trong những đơn
vị đóng quân tại các thành phố lớn. Nhiều tướng lĩnh đã có biệt thự ở cư xá Bắc
Hải, cư xá Lam Sơn… vẫn được cấp đất trên đường Sư Vạn Hạnh, trên đường 3-2 hay
đường Cộng Hoà. Trong khi, nhiều sỹ quan khác, có người là tướng, là sỹ quan cao
cấp, trở về quê chỉ nhận được một ít lương, trợ cấp.

Đặc biệt, hàng trăm nghìn người lính, nhất là những người đang bám trụ ở biên
giới, hải đảo, đã không may mắn được hưởng đặc ân đất đai, nhà cửa. Không chỉ
tạo ra sự không công bằng trong quân đội, việc cấp đất ồ ạt cho sỹ quan xây nhà
trên những khu đất không được đầu tư cơ sở hạ tầng đã tạo ra nhiều vấn nạn về đô
thị và xã hội. Phần lớn các khu nhà này đều được xây lên mà không có đường sá,
cầu cống, đặc biệt là không có điện nước. Các gia đình tự khoan giếng và câu
điện. Nhiều nơi, mỗi khi mưa xuống là cả khu ngập ngụa, lầy lội.

Ông Lê Văn Năm, khi ấy là Viện trưởng Viện Quy hoạch Thành phố Hồ Chí Minh, nói:
“Thành phố biết trước những khu đất này sẽ được chuyển giao cho mục tiêu dân sự
nên muốn chủ động quy hoạch để phát triển đồng bộ. Nhưng, những năm 1987, 1988,
mỗi lần vào khu vực Tân Sơn Nhất hay Hoàng Hoa Thám, chúng tôi đều phải xin phép
trước. Chủ tịch Thành phố Phan Văn Khải dặn: Giữ thân, Lê Văn Năm ơi. Tôi đến
Quân khu 7 xin cho làm quy hoạch, làm không công, tôi nói: Làm xong sẽ trình các
anh trước. Nhưng chỉ khi chia đất, xây nhà xong, quân đội mới giao cho Thành
phố. Chúng tôi lại phải điều chỉnh quy hoạch, khép mối các tuyến đường vừa mở”.

Năm 1989, Chính phủ lập Đoàn Thanh tra 186. Mặc dù chỉ ra nhiều điều bất cập về
quy hoạch phát triển và không ít tiêu cực trong quá trình phân phối đất, Đoàn
Thanh tra chỉ đóng vai trò hợp thức hoá quyền cấp đất cho Bộ Quốc phòng. Ngày
24-5-1990, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Địa chính ban hành một thông tư liên bộ,
thừa nhận quyền cấp đất của các quân chủng, quân khu với yêu cầu quân nhân được
cấp đất trước khi xây nhà phải liên hệ với chính quyền sở tại.

Nhưng, các khu nhà ở vẫn mọc lên theo cách tự phát vì bản thân chính quyền các
địa phương cũng không hài lòng khi quyền chia đất không nằm trong tay mình.
Không phải sỹ quan nào được cấp đất cũng có tiền mua nhà, một số xẻ đất ra bán
một phần, hoặc bán hết rồi về quê.

Không chỉ tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người được cấp đất và những người
không được cấp, hệ luỵ do sự cát cứ đất đai của các cơ quan không chỉ quân đội
khiến cho tài nguyên quốc gia quan trọng này đã không được huy động theo cách
đúng đắn nhất cho quá trình xây dựng đô thị. Sau năm 1975, đất đai, nhà cửa ở
miền Nam cũng được coi như một loại chiến lợi phẩm. Từng ngành tiếp quản các cơ
sở mà Việt Nam Cộng hoà đã sử dụng cho các chức năng tương ứng. Ví dụ: Bộ Công
nghiệp vào tiếp quản các nhà máy; Bộ Giáo dục tiếp quản trường học; Bộ Y tế vào
nắm các bệnh viện… Vì Sài Gòn là thủ đô của một bộ máy chiến tranh, Bộ Quốc
phòng tiếp quản nhiều đất đai, nhà cửa nhất, với tổng diện tích lên tới 1.600 
hecta.

Đất đai do các đơn vị quân đội tiếp quản trở thành các lãnh địa mà địa phương
bất khả sử dụng. Theo ông Vũ Quốc Tuấn, trợ lý của ông Kiệt, đây cũng là một
trong những vấn đề khiến cho Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt thường có những bất đồng.
Đất đai, nhà xưởng mà quân đội nắm giữ rộng mênh mông. Ở Đà Nẵng, có lần địa
phương dẫn ông Kiệt đi xem cả một dọc dài những vùng đất có thể phát triển hạ
tầng cho các khu kinh tế nhưng Đà Nẵng không thể làm gì vì nó đang nằm trong tay
quân đội. Ở Sài Gòn, quân đội nắm phần lớn những vị trí có vai trò yết hầu.

Theo ông Lê Văn Năm, khi Thành phố trình phương án Quy hoạch Tổng mặt bằng, dự
kiến bắc bốn cây cầu qua sông Sài Gòn ở hướng Thủ Thiêm, ông Lê Đức Anh nói:
“Tại sao các cậu đòi nhiều cầu thế, trước nay Sài Gòn chỉ có một cầu cũng đủ kia
mà”. Theo quy định, Bộ Chính trị trực tiếp xem xét và quyết định quy hoạch của
những thành phố như Hà Nội, Sài Gòn. Thay vì dự báo mức tăng trưởng để phát
triển hạ tầng tương ứng, các nhà quy hoạch phải “vẽ” một thành phố chỉ với quy
mô dân số mà Bộ Chính trị phê duyệt. Theo ông Lê Văn Năm: “Năm 1993, Bộ Chính
trị yêu cầu khống chế quy hoạch Thành phố ở quy mô 5 triệu dân. Khi đó, chúng
tôi đã thấy là không thể nào đáp ứng yêu cầu. Năm 1998, Bộ Chính trị phải đồng ý
điều chỉnh quy mô dân số Thành phố lên 10 triệu”(438).

Khi trở lại Sài Gòn làm Chủ tịch, ông Võ Viết Thanh có ý định di chuyển xưởng Ba
Son và Tân Cảng về Thủ Thiêm, ông nói: “Tôi và anh Mai Xuân Vĩnh, Tư lệnh Hải
quân nhất trí với nhau, trước sau cũng phải dời, thấy trước, chủ động thì đỡ tốn
kém”. Một trong những cây cầu mà Thành phố định làm, được bắc từ đường Tôn Đức
Thắng, thẳng theo con đường này tính từ hướng Đinh Tiên Hoàng chạy xuống bờ
sông, trước khi nó uốn cong về phía cột cờ Thủ Ngữ. Chủ tịch Võ Viết Thanh nói:
“Tôi trình bày riêng với Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ông nhất trí. Nhưng, theo lời
khuyên của ông Kiệt, tôi mời Bộ trưởng Quốc phòng Đoàn Khuê vào, dẹp hết các ấn
tượng cá nhân về con người này, tôi đích thân cùng ông đi ca - nô dọc sông Sài
Gòn để xem kế hoạch di dời Tân Cảng, Ba Son trong điều kiện xây cầu Thủ Thiêm.
Ông Đoàn Khuê không kết luận gì, nhưng sau chuyến đi ấy, thấy anh Mai Xuân Vĩnh
cho Thành phố mượn trước 30 tỷ để giải phóng mặt bằng”.

Nhưng khi phương án được trình lên, theo ông Võ Viết Thanh: “Tại cuộc họp Bộ
Chính trị, khi ông Đỗ Mười chưa kịp nói gì, ông Đoàn Khuê đã phản ứng gay gắt.
Đoàn Khuê nói rằng, xây cầu, nếu có chiến tranh thì làm sao bảo vệ. Tôi nói
thẳng, vấn đề là làm sao đừng để chiến tranh xảy ra, chứ khi đã có chiến tranh
thì không chỉ cầu mà đường hầm cũng không bảo vệ được. Tôi không nghĩ là tất cả
Bộ Chính trị đều không nhận ra tư duy quân sự ấu trĩ ấy của Đoàn Khuê”. Theo ông
Trần Xuân Giá: “Ông Lê Đức Anh cũng cho rằng, dứt khoát không được làm cầu nổi
vì Ba Son cần giữ bí mật”.

Khi làm đại lộ Đông - Tây, lẽ ra nếu làm cầu thì chỉ hết chưa tới 100 triệu
đôla, nhưng Thành phố cũng đã bị buộc phải làm đường hầm qua Thủ Thiêm với kinh
phí cao hơn gần gấp ba lần. Ông Võ Văn Kiệt nói: “Thôi, Bảy Thanh, hãy để cho 4 
triệu dân Thành phố đánh giá”. Nhưng, sẽ không có một thiết chế chính trị nào để
bốn triệu dân Thành phố đánh giá những quyết định của các nhà chính trị. Bản
chất vấn đề, theo ông Lê Văn Nam: “Ông Kiệt nói ngắn gọn: Tụi mình thua nhà
binh”.

Theo Bộ trưởng Trần Xuân Giá, nhiều lần, ông Võ Văn Kiệt “tức như bò đá” vì có
những dự án đầu tư đã xong đâu vào đấy nhưng không thể nào thực hiện vì Bộ Tổng
Tham mưu trả lời không. Theo nguyên tắc, tất cả các dự án đầu tư nước ngoài đều
phải có văn bản hỏi ý kiến Bộ Tổng Tham mưu về vị trí. Bộ Tổng Tham mưu sẽ căn
cứ vào bản đồ “Bố phòng Quốc gia” để trả lời được hay không mà không cần giải
thích.

Theo ông Giá, quốc gia nào cũng có một bản đồ bố phòng, nhưng vấn đề là những
người lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã sử dụng tư duy quân sự của thập niên 1960 để
điều chỉnh những bước đi của thập niên 1990, 2000. Có lần ông Kiệt phải kêu lên:
“Tôi là Thủ tướng, là Uỷ viên Bộ Chính trị mà cũng không được xem bản đồ bố
phòng”. Theo ông Giá, đấu tranh mãi cuối cùng ông Kiệt mới yêu cầu Bộ Chính trị
tổ chức một cuộc họp, đưa bản đồ bố phòng quốc gia ra, thống nhất chỗ nào dứt
khoát người nước ngoài không được đầu tư, chỗ nào có thể xem xét.

Tuy nhiên, ông Kiệt cũng không dễ dàng thắng “tư duy nhà binh”. Theo ông Giá:
“Khi xem xét những vấn đề cụ thể như khu đô thị Nomura, ông Lê Đức Anh cũng phản
đối. Lê Đức Anh nói: Chúng ta để cho người nước ngoài đứng ở những đầu cầu vững
chắc để tấn công Hà Nội. Có lẽ ông ấy nghĩ, Nomura được đầu tư bởi người nước
ngoài thì cũng có thể thành một căn cứ quân sự của nước ngoài”. Hoá giá nhà

Ở Sài Gòn và các tỉnh phía Nam, sau ngày 30-4-1975, Chính quyền tiếp quản hàng
trăm nghìn căn nhà, phần từ quỹ nhà công của Việt Nam Cộng hoà, phần nhà tư của
những người di tản trước ngày 30-4-1975 hoặc tịch thu của những người ở
lại(439).

Hơn 70.000 căn nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có hàng ngàn căn biệt thự,
được phân phối cho cán bộ, công nhân viên, dưới danh nghĩa là “thuê”. Nói là
thuê, nhưng những cán bộ ở trong đó đã coi việc thuê nhà như một động thái chiếm
hữu. Theo chính sách bao cấp, tiền thuê những căn nhà, kể cả những căn biệt thự
đó, được tính không quá 5% tiền lương của người thuê. Nhà nước chỉ thu được một
khoản tiền rất tượng trưng: một ngôi biệt thự chỉ từ 10 đến 20 nghìn đồng/tháng;
một căn hộ cấp II, 5000 đồng/tháng; một căn hộ trong chung cư có từ 2 -3 phòng,
giá chỉ từ 2000 đến 4000 đồng/tháng. Chính sách bao cấp đưa cả căn biệt thự rộng
400 - 500m2 cho một hộ 3-4 nhân khẩu, trong khi hàng triệu người vẫn không có
nhà.

Vì là chủ sở hữu nên Nhà nước vẫn có trách nhiệm phải sửa chữa những căn nhà này
khi có yêu cầu. Chính quyền Thành phố tính rằng, phải thu 100 năm tiền thuê nhà
mới bằng khoản tiền mà Nhà nước phải bỏ ra để sửa chữa trong hơn 10 năm đó.
Trong thời gian bao cấp, ít ai để ý, nhưng khi nền kinh tế chuyển dần sang thị
trường, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu vào, nhu cầu thuê nhà xuất hiện thì sự
bất hợp lý này càng bộc lộ. Giá biệt thự cho người nước ngoài thuê ở thời điểm
đầu thập niên 1990, trung bình từ 1000-3000 USD/tháng/căn, có khi lên tới 6.000 
USD, chủ nhà lại thường được trả trước một năm tiền nhà với một khoản tiền đủ để
đi mua nhà mới. Thành phố điều chỉnh bằng quy định, “điều tiết” một phần tiền từ
những người này với mức tối đa 25.000 đồng/m2, trong khi họ có thể cho thuê lại
với giá 10- 15 USD/m2.

Chính sách bao cấp đã làm cho diện tích bình quân về nhà ở ở Sài Gòn giảm từ
8m2/người năm 1945 xuống còn 5,1m2/người năm 1989. Với tốc độ tăng dân số bình
quân mỗi năm là 100.000 người, để giữ được diện tích tối thiểu của năm 1990:
5m2/người, mỗi năm Thành phố phải xây mới 500.000m2 nhà ở. Trong khi, theo thống
kê của Sở Nhà đất, 15 năm “sau ngày giải phóng”, Thành phố chỉ xây được từ
150.000 đến 175.000 m2 nhà ở/năm.

Ở thời điểm năm 1990, Thành phố có 43.000 căn nhà lụp xụp, rách nát, trong đó có
17.000 căn hộ sống trên kênh rạch ô nhiễm nặng cần phải cải thiện hoặc giải toả.
15 năm sau ngày “giải phóng”, trong số 185 hộ ở Cầu Ván, một vùng nghèo ở vùng
ven, chỉ có một hộ thay được mái lá bằng mái tôn, loại tôn cũ gỡ lại. Ở phường
12, quận Bình Thạnh, năm 1990, có 1.200 người sống trong 300 căn hộ dựng tạm
trên nghĩa địa, không nước, không điện. Toàn Thành phố còn hơn 10.000 người sống
lang thang dọc các vỉa hè hoặc gầm cầu.

Từ cuối năm 1989, Thành phố chủ trương tìm nguồn vốn bằng cách bán những căn nhà
đang cho thuê này cho những người đang thuê những căn nhà đó, chủ yếu họ là cán
bộ, công nhân, với giá nhà nước, thấp hơn nhiều so với giá thị trường, gọi là
hoá giá nhà.

Theo ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp, khi ấy là Chủ tịch Thành phố: “Đoàn của Hội đồng Bộ
trưởng đã đồng ý cho phép Thành phố làm và khuyến khích khẩn trương làm. Ngày
9-2-1990, Uỷ ban Nhân dân Thành phố ra thông báo về chỉ đạo này của Hội đồng Bộ
trưởng để các nơi tích cực chuẩn bị tổ chức thực hiện”. Từ đó cho tới tháng
7-1991, theo Báo cáo của giám đốc Sở Nhà đất: đã có 12.000 đơn xin hoá giá nhà
cấp III, IV; các ban chỉ đạo hoá giá nhà đã hoàn tất 3.349 hồ sơ, trong đó đã
thu tiền bán 1.761 căn nhà; trong số này, có 87 căn nhà theo diện chính sách
được cấp không.

Sau Đại hội Đảng lần thứ VII, tháng 6-1991, ông Đỗ Mười trở thành Tổng bí thư,
ông Võ Văn Kiệt, tuy chưa chính thức được Quốc hội bỏ phiếu bầu, nhưng theo sự
phân công của Đảng đã trở thành người thay thế ông Đỗ Mười đứng đầu Chính phủ.
Theo ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp, Thành phố cử ba cán bộ phụ trách lĩnh vực - ông
Nguyễn Văn Huấn, uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ, phó chủ tịch Uỷ ban Phụ trách
nhà đất; Ông Lê Văn Năm, uỷ viên Uỷ ban; Ông Lê Thanh Hải, giám đốc Sở Nhà đất -
ra Hà Nội xin ý kiến Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng và Bộ Xây dựng cho hoá giá nhà
cấp I, II và biệt thự”. Đây là những cán bộ đã từng có mối quan hệ gần gũi với
ông Võ Văn Kiệt và sau khi tiếp xúc, cả chính thức và tại nhà riêng, Đoàn về báo
cáo với Thường vụ Thành uỷ, Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng và Bộ Xây dựng đồng ý
cho thành phố làm.

Sáng 12-7-1991, trong một cuộc họp có báo chí tham dự, Chủ tịch Nguyễn Vĩnh
Nghiệp chỉ thị phải tăng nhanh tiến độ hoá giá nhà để đến cuối tháng 9-1991 phải
hoá giá xong nhà cấp III, IV. Ngày 30-7-1991, Thành phố ra Quyết định “hoá giá
nhà cấp I, II và biệt thự”.

Hàng trăm căn biệt thự đã được bán ra với giá vô cùng rẻ mạt. Thế nhưng, để có
tiền mua hoá giá, nhiều người đã phải “bán lúa non” cho người khác với giá cao
hơn hàng chục lần so với giá thực trả cho Nhà nước. Thanh tra phát hiện ra bốn
trường hợp bán lại, trong đó có những trường hợp đã kịp bán lại hai lần trong
những tuần đầu. Một trong những người bán lại sớm nhất nhà hoá giá là Đại tá Lê
Hãn, con trai trưởng Tổng bí thư Lê Duẩn. Khi được điều vào Quân khu VII, ông
Hãn được cấp một căn biệt thự có khuôn viên rộng trên đường Nguyễn Thông, giữa
trung tâm quận Ba. Ngay sau khi “hoá giá”, ông Lê Hãn đã bán lại căn nhà này với
khoản chênh lệch giá lên tới 1,6 tỷ, một khoản tiền khổng lồ lúc đó. Ông Lê
Thanh Hải nói: “Tôi biết là có chuyện liền gửi thư cho Lê Hãn nói đừng làm thế,
nhưng Lê Hãn không nghe”.

Khi cho cán bộ công nhân viên thuê nhà, thực chất là Nhà nước đã trả lương cho
những cán bộ, công nhân đó một khoản tiền lương bằng hiện vật. Nhưng, có tới 70%
cán bộ, công nhân viên và lực lượng vũ trang trên cả nước không được cấp nhà,
nghĩa là không được hưởng phần lương bằng hiện vật này. Trong số 30% được cấp
nhà ấy, phần lớn sống tại các thành phố phía Nam, đặc biệt là Sài Gòn.

Trừ một số vị công thần của Đảng, đa số cán bộ ở Hà Nội, đầu thập niên 1990 chỉ
được sống trong những căn hộ chật hẹp, hoặc có khi, hàng chục hộ chia nhau một
căn biệt thự. Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc và Chủ tịch thành phố Hà Nội
Hoàng Văn Nghiên khi nhận chức đều đang sống trong những căn hộ chỉ có 24m2.
Trong khi, chỉ cần cán bộ cấp sở ở Sài Gòn cũng đã có thể được cấp những căn
biệt thự có khuôn viên rộng hàng trăm mét. Con số chênh lệch giá lên tới hàng
trăm lượng vàng sau khi được hoá giá nhà trở thành những thông tin làm rúng động
cả nước. Ông Nguyễn Văn Huấn nói: “Bà Ngô Bá Thành cho rằng Thành phố tham nhũng
tập thể. Nhiều ý kiến nói Thành phố chia chiến lợi phẩm, cướp công trạng của cả
dân tộc, chia chác xương máu của cả nước”.

Ngày 13-9-1991, Hội đồng Bộ trưởng có công điện yêu cầu Thành phố đình hoãn việc
hoá giá nhà. Nhưng, như đã đâm lao, Thành phố không thể dừng lại ngay vì sức ép
của chính các cán bộ đang ở trong những căn nhà mà nếu được hoá giá ngay lập tức
họ trở thành triệu phú. Nếu như, trong khoảng từ 30-7 đến 13-9-1991, Thành phố
chỉ hoá giá được 465 căn nhà cấp I, II và biệt thự, thì chỉ bảy ngày sau khi có
lệnh ngưng của Hội đồng Bộ trưởng, từ ngày 13 đến 19-9-1991, số nhà được hoá giá
lên tới 991 căn.

Bộ Chính trị triệu tập lãnh đạo Thành phố, Bí thư Võ Trần Chí, Phó Chủ tịch
Trương Tấn Sang và Giám đốc Sở Nhà đất Lê Thanh Hải, ra Hà Nội. Những người ở
hậu trường biết rõ, mũi tên hoá giá nhà chủ yếu nhắm thẳng vào ông Võ Văn Kiệt.
Ông Võ Văn Kiệt lúc đó buộc phải nói rằng những người gặp ông hồi đầu tháng
7-1991 đã hiểu sai câu nói của ông, Hội đồng Bộ trưởng chưa có chủ trương cho
hoá giá nhà cấp I, II và biệt thự.

Trước áp lực chất vấn của Quốc hội (ngày 20-12-1991), Bộ trưởng Xây dựng Ngô
Xuân Lộc nói: “Việc hoá giá nhà cấp III, IV là hợp lệ vì Hội đồng Bộ trưởng đã
cho phép. Tuy nhiên, hoá giá nhà cấp I, II và biệt thự thì Hội đồng Bộ trưởng
chưa có chủ trương. Việc Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ký quyết định cho
hoá giá là vượt thẩm quyền”. Ông Lộc còn cho rằng: “Chúng ta đang điều hành Nhà
nước theo pháp luật nhưng đấy là một việc làm sai pháp luật, gây thất thoát lớn
tài sản của Nhà nước. Hội đồng Bộ trưởng tiếp tục yêu cầu hoãn hoá giá nhà cấp
I, II; những người đã mua, đã có chủ quyền, tạm thời không được bán; khẩn trương
xác định danh sách khu vực nhà không được bán để thu lại những nhà đã hoá giá”.

Bộ trưởng Ngô Xuân Lộc vừa trả lời xong thì đại biểu Dương Xuân An công bố trước
Quốc hội văn bản số 96, ký ngày 2- 12-1991 của Thành phố nói rằng “việc hoá giá
nhà, Thành phố chỉ làm sau khi có thỉnh thị ý kiến của Hội đồng Bộ trưởng và Bộ
trưởng Bộ Xây dựng”. Gần hai mươi đại biểu có ý kiến ngay sau đó, nhiều người
đòi “đặt vấn đề hoá giá nhà của Thành phố trong bối cảnh chống tham nhũng” để xử
lý, nhất là với những cán bộ đương chức được hoá giá nhà với giá rẻ có thể bán
lại thu lợi hàng trăm lượng vàng. Chánh án Phạm Hưng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp
luật Nguyễn Tài, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Ngô Bá Thành, đòi “vụ việc phải được
xử lý trước pháp luật”(440).

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt phải xuất hiện, ông nói: “Tôi tán thành
với ý kiến của các đại biểu và đề nghị Quốc hội lập một đoàn thanh tra, nếu phát
hiện sai phạm pháp luật thì xử lý theo pháp luật”. Các đại biểu Quốc hội cho
rằng lập đoàn thanh tra là cần thiết để xử lý các sai phạm, để thu hồi tài sản
thất thoát và đòi Quốc hội phải ra một nghị quyết bày tỏ thái độ(441).

Lúc ấy, nhiệm kỳ của “tam nhân” chỉ mới bắt đầu, sức ép đã đủ để ông Võ Văn Kiệt
có những bước lùi. Về mặt công khai, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo cho trì hoãn
việc Quốc hội ra nghị quyết bằng cách hứa là Hội đồng Nhà nước sẽ ra quyết định.
Ông Võ Văn Kiệt vượt qua được sóng gió nhưng đã phải chịu những tổn thất lớn
trong tình cảm với những người bạn ở Sài Gòn(442). Đường dây 500

Không còn như thời kỳ “nhà nước đảng”. Bắt đầu từ thập niên 1990, Chính phủ trực
tiếp ban hành và trở thành trung tâm điều hành các chủ trương, chính sách lớn.
Một trong những chủ trương lớn của thời kỳ đó là cho xây dựng đường dây tải điện
siêu cao áp từ Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình vào miền Nam, về sau gọi là Đường dây
500 kV(443).

Cuối năm 1991, miền Nam thiếu điện nghiêm trọng, trong khi, Nhà máy thuỷ điện
Hoà Bình, dự kiến vào năm 1995, sẽ sản xuất ra một lượng điện mà miền Bắc không
có khả năng khai thác hết. Bộ Năng lượng tuy đưa ra hai phương án: bán sang
Trung Quốc hoặc làm đường dây siêu cao áp để tải vô Nam. Nhưng Bộ trưởng Vũ Ngọc
Hải vẫn nói trong Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng: “Chúng tôi khảo sát, nếu bán
sang Trung Quốc thì giá không đến nỗi nào nhưng do phải xây dựng một đường dây
220 kV để tải điện sang nên tính ra không còn dư bao nhiêu. Nếu chuyển điện vào
miền Nam thì phải xây một đường dây siêu cao áp”.

Việt Nam khi ấy vừa bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, phương án bán điện
cho họ cũng được một số người tán thành. Nhưng, theo ông Kiệt: “Nam Bộ thiếu
điện trầm trọng, các nhà đầu tư vào, câu đầu tiên là hỏi về điện. Vấn đề không
chỉ là Trung Quốc, trong đầu tôi không có chuyện bán điện. Cũng may là khi bàn
chuyện bán điện, có người phản ứng, miền Bắc thiếu gạo thì miền Nam đưa ra, bây
giờ miền Nam thiếu điện, không lẽ miền Bắc đưa bán sang Trung Quốc”. Theo ông Vũ
Ngọc Hải: “Ông Kiệt nói: Tôi còn làm Thủ tướng thì không bán điện đi đâu cả”.
Ông Kiệt quyết định sớm làm đường dây siêu cao áp để đưa điện vào Nam. Chủ
trương này được Tổng bí thư Đỗ Mười đồng tình.

Về mặt thủ tục, ông Võ Văn Kiệt thừa nhận, quá trình hình thành chủ trương xây
dựng đường dây 500 kV cũng có những thiếu sót. Ông Kiệt nói: “Tôi và ông Đỗ Mười
trao đổi, hai bên thống nhất lắm. Hai, ba lần họp Bộ Chính trị, ông Mười nhắc:
Anh Kiệt nên làm gấp đường dây 500. Nhưng, ông Mười không bao giờ cho bàn chính
thức để đi đến một quyết nghị của Bộ Chính trị. Thế rồi, khi anh Nguyễn Văn Linh
hỏi anh Đỗ Mười: Chủ trương đâu, thì té ra, trong Bộ Chính trị cũng có nhiều
người không đồng tình, tỏ ra bực bội, nói ông Kiệt tự ý làm. Anh Mười im lặng.
Ông Linh dựa vào đó nạt mình”.

Trước Tết năm 1992, nghĩa là ở thời điểm mà chủ trương đã hình thành, Giáo sư
Nguyễn Khắc Nhẫn, một Việt kiều ở Pháp, nêu ra ba nghi vấn về đường dây 500 kV:
Đường dây dài gần 1.500 km, tạo ra chênh lệch 1/4 bước sóng cho nên không thể
tải điện đi miền Nam; Chưa có luận chứng mà đặt mục tiêu thi công trong hai năm
là không tưởng; Giá thành sẽ rất cao, về mặt hiệu quả kinh tế là không có. Nhà
báo Minh Thu kể: “Tôi đến gặp ông không lâu sau khi có thư của ông Nhẫn. Ông đưa
lá thư cho tôi coi rồi nói: Chú đã cho thư ký photo gửi hết cho anh em. Tôi kêu
lên: Trời ơi, sao chú làm thế? Ông cười: Không có ai chỉ ra những điểm yếu của
mình đầy đủ như những người phản đối mình. Ở đây có những cảnh báo mà anh em
chưa đặt ra hết”.

Ông Vũ Ngọc Hải thừa nhận: “Dù tin anh em, ông Kiệt vẫn bị ám ảnh bởi ý kiến của
Giáo sư Nhẫn”. Ông Kiệt triệu tập khẩn cấp ông Vũ Ngọc Hải. Ông Hải nói: “Tôi
thức trắng một đêm, xem tài liệu và tự mình tính toán. Việc xử lý chênh lệch 1/4 
bước sóng bằng năm trạm bù đã được các chuyên gia nước ngoài thẩm định. Tôi
quyết định ký và đảm bảo với Thủ tướng: Anh an tâm, tôi lo nhất là vấn đề an
ninh chứ không phải là an toàn. Anh đảm bảo vấn đề an ninh, vấn đề kỹ thuật, tôi
đảm bảo. Ông Kiệt quyết định và nói: Cứ làm, nếu thất bại thì không đợi cách
chức, tôi sẽ chủ động từ chức”.

Nhưng lá thư của ông Nhẫn đã được những người phản đối công trình khai thác.
Theo ông Vũ Ngọc Hải, ông Nguyễn Văn Linh vốn ủng hộ phương án bán điện, lấy
tiền xây nhà máy nhiệt điện ở miền Nam, nhưng trước đó, chưa có đủ lập luận để
phản bác. Sau khi có được lá thư của ông Nhẫn, từ miền Nam, bà Ngô Bá Thành,
người được ông Nguyễn Văn Linh đưa lên chức Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội,
nói gần nói xa: Làm đường dây 500 là tự sát. Ông Đỗ Mười lúng túng.

Trụ điện đầu tiên của công trình đường dây 500 kV được khởi công vào ngày
1-3-1992. Ông Võ Văn Kiệt đã “đổ thêm dầu vào lửa” khi, ngày 24-3-1992, ngày
Quốc hội khoá VIII khai mạc kỳ họp cuối cùng, ông bay lên Hoà Bình dự lễ khởi
công công trình xây dựng cột điện ở nơi khởi nguồn của đường dây. Ông Nguyễn Hà
Phan nói: “Bữa ông đi khởi công, tôi khuyên: Anh đợi tới chiều hẵng đi, dự khai
mạc Quốc hội đã. Nhưng ông vẫn đi. Bà Nguyễn Thị Bình, Phó Chủ tịch nước nói:
Ông này bất kể thiên địa. Một ông rất to trong Quốc hội lo: Gió bão nó đổ một
cây cột thì ai chịu? Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo nói với tôi: Sáu Phan à, làm
cái này coi bộ vướng”.

Trong khi đó, Hà Nội nhận được những tín hiệu mà Cố vấn Nguyễn Văn Linh phát ra
từ Sài Gòn. Khi không chính thức đưa công trình đường dây 500 ra bàn ở Bộ Chính
trị, ông Đỗ Mười cũng có những tính toán. Năm 1989, hai lần ông Đỗ Mười cho thảo
một nghị quyết để Bộ Chính trị hoặc Ban Chấp hành Trung ương thông qua, hợp thức
hoá chủ trương chống lạm phát bằng “lãi suất cưỡi sóng” của ông, nhưng cho dù
ủng hộ, ông Nguyễn Văn Linh lờ đi. Chỉ khi làm thí điểm ở Hải Phòng có kết quả,
Hội nghị Trung ương 6 khoá VI mới đưa vấn đề chống lạm phát vào Nghị quyết.

Không phải ông Võ Văn Kiệt không biết tình huống chính trị này, nhưng khi không
hối thúc ông Đỗ Mười chính thức có chủ trương, ông Kiệt cũng có những cân nhắc.
Ông Kiệt không muốn tạo tiền lệ Chính phủ làm gì cũng phải được bàn trước trong
Bộ Chính trị và phải xin ý kiến Quốc hội(444). Việc ông Kiệt phát lệnh khởi công
một công trình lớn ba tuần trước khi Quốc hội khoá VIII họp kỳ cuối cùng đã làm
mếch lòng rất nhiều đại biểu.

Ngày 13-4-1992, trong phiên họp toàn thể của Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa
học, Công nghệ và Môi trường, Giáo sư Vũ Đình Cự nói: “Uỷ ban chúng tôi đã phải
làm một việc rất khó khăn vì phải phát biểu ý kiến về một công trình quan trọng,
nhân dân cả nước quan tâm, đã có quyết định của Hội đồng Bộ trưởng và lại vừa
được cử hành lễ khởi công rất trọng thể ở nhiều nơi trong nước”(445).

Ông Vũ Đình Cự nói tiếp: “Ngày 3-2-1992, Bộ Năng lượng mới trình hồ sơ luận
chứng kinh tế kỹ thuật, ngày 17-2-1992, Hội đồng Thẩm tra Nhà nước chỉ làm việc
trong một ngày, vậy mà đến ngày 19-2-1992 đã trình lên Hội đồng Bộ trưởng để phê
duyệt. Từ đó dẫn đến một số khiếm khuyết. Nhiều vấn đề khoa học kỹ thuật và công
nghệ chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo… Chúng tôi xin nói thêm là khi đề
nghị các chuyên gia đầu ngành về kỹ thuật điện cho biết là đã có những nước nào
làm đường dây 500 kV dài trên 1000 cây số, thì các đồng chí không nắm vững; có
một đồng chí cho biết đường dây của chúng ta là đường dây thứ ba. Trên thế giới
mới có hai đường dây trên dài trên 1000 cây số và điện áp là siêu cao áp. Sau
khi xây dựng chỉ có đường dây của Pakistan, dài 1200 cây số là dùng được, còn
đường dây kia, dài 1700 cây số thì không dùng được”. Đặc biệt, theo ông Vũ Đình
Cự: “Chưa có cơ sở về khả năng thi công hoàn thành đúng thời gian trong hai năm
khi mà nguồn vốn chưa được xác định vững chắc, vật tư chủ yếu đều phải nhập
ngoại”.

Một thành viên của Hội đồng Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước Đặng
Hữu, cũng dấy lên không ít hoài nghi khi ông nói trước Quốc hội: “Chủ trương đặt
ra là cần thiết nhưng, có nhiều vấn đề khoa học chúng ta chưa kịp nghiên cứu.
Anh em cũng hơi băn khoăn lo lắng… Cái phần 1/4 bước sóng, tôi đồng ý như anh
Nguyễn Đình Tứ đã nói. Thực ra, về lý thuyết anh em hiểu hết và trên thực tế các
nước đã làm rất nhiều ở Liên Xô và Mỹ. Nhưng vấn đề lại là chúng ta chưa có đội
ngũ chuyên gia để làm những công việc đó. Lo là lo chỗ đấy!… Nếu như làm một cái
trụ thôi thì có lớn hơn chúng ta cũng có thể làm được. Nhưng mà đây là làm một
dãy dài hơn 3.000 cái trụ trong một thời gian ngắn. Mặt thứ hai, nếu dựa vào
nước ngoài một nửa thì hôm trước anh Hiệu có đề xuất với anh Sáu (Võ Văn Kiệt),
anh Sáu cũng đồng ý có thể mời chuyên gia Liên Xô cùng tham gia vào đây”.

Nhưng hai tiếng “chuyên gia Liên Xô” được nói lên ở thời điểm này lại dấy lên
những quan ngại khác. Bí thư Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện kiểm sát Tối cao
Trần Quyết nói: “Liên Xô trước đây thì chúng ta rất an tâm bởi vì là nước xã hội
chủ nghĩa, Đảng Cộng sản cầm quyền, bây giờ Đảng Cộng sản mất rồi, chính quyền
Xô viết mất rồi. Những chuyên gia mà lại là đảng viên cộng sản thì còn được dùng
không? Có được gửi sang Việt Nam không? Hay người ta gửi những thứ ba vạ sang
đây, mang tiếng chuyên gia Liên Xô. Cái ông Yeltsin ấy, Quốc hội chẳng lạ lùng
với những gì họ làm ở nước Nga. Họ phá tan Đảng Cộng sản, phá tan Liên bang Xô
viết. Vậy thì đối với Việt Nam thì như thế nào”.

Tháng 8-1992, tại Hội nghị Cán bộ tổ chức toàn quốc, họp tại Thành phố Hồ Chí
Minh, ông Nguyễn Văn Linh, bấy giờ đang là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương đến
dự đã nói: “Làm đường dây 500 kV là một chủ trương phiêu lưu, mạo hiểm. Là lợi
dụng tiền Nhà nước để gây thanh danh cá nhân”. Đặc biệt tại đây, ông Linh đã dấy
lên những lo ngại về vấn đề tham nhũng.

Nữ nhà báo Minh Thu nhớ lại: Đầu thập niên 1980, khi lên Trị An làm phóng sự, bà
chứng kiến một nhóm cán bộ đứng trong rừng trước một tấm bản đồ. Chính giữa họ
là một người đàn ông trạc 60 tuổi, phong trần, mặc áo may ô, đang nói rất say
sưa: “Tôi nói với mấy anh rằng, xây dựng một công trình như thế này mà tham ô,
ăn cắp, thì cũng như ăn đồ dơ”. Ông chấm dứt câu nói bằng một cú chém tay rất
mạnh ngang trong không khí. Minh Thu, một phóng viên mới vào nghề, sau đó mới
biết đó là Bí thư Thành uỷ Võ Văn Kiệt.

Hơn mười năm sau khi bắt đầu đường dây 500 kV, ông Kiệt cũng căn dặn “các tướng”
của mình là “không được tắt mắt”. Ngày 24-3-1992, khi ông Kiệt lên xã Mạc Đức,
Hoà Bình làm lễ khởi công trụ điện số Một, một công nhân đã bỏ vào túi ông Vũ
Quốc Tuấn, thư ký ông Kiệt, một lá thư tố cáo vụ mất cắp năm tấn xi măng ở công
trường. Ông Vũ Ngọc Hải nói: “Ông Tuấn báo với ông Kiệt, ông Kiệt đọc và nói với
tôi: Phải xử lý ngay để làm gương”. Vừa bắt đầu ra quân đã phải trảm tướng: Giám
đốc Công ty xây lắp Điện I bị cách chức.

Về sau, chính tác giả của đường dây 500, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Vũ Ngọc Hải
cũng phạm phải một sai lầm chết người. Ban Quản lý công trình do ông Hải đứng
đầu có thẩm quyền nhập thẳng thiết bị, vật tư từ nước ngoài. Nhưng, ông Hải đã
đồng ý cho một “công ty đời sống” của Hội hữu nghị Việt Nam - Ba Lan mà ông làm
Chủ tịch, đấu thầu đứng ra nhập 4.000 tấn thép, giúp công ty này hưởng một khoản
lời khá lớn. Công trình đường dây 500 lúc ấy có hàng chục nghìn công nhân nhưng
đồng thời cũng có hàng triệu con mắt để ý đến từng chi tiết. Áp lực chính trị đè
nặng lên ông Võ Văn Kiệt khi có nhiều ý kiến yêu cầu bỏ tù ông Hải.

Ông Vũ Ngọc Hải lúc bấy giờ đang là một uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, theo
nguyên tắc Đảng, việc khởi tố ông chỉ có thể tiến hành sau khi Trung ương họp
quyết định hình thức kỷ luật. Ông Hải kể: “Hôm Trung ương họp để kỷ luật tôi, họ
có mời tôi đến nhưng tôi không được vào phòng họp ngay. Một chuyên viên của Văn
phòng Trung ương đợi tôi ở cổng số 4 Nguyễn Cảnh Chân, kèm tôi đi vào một phòng
riêng, đợi đến khi Hội nghị Trung ương khai mac mới cho tôi vào dự. Trước Hội
nghị Trung ương, tôi thừa nhận đã ‘bút phê’ để công ty của Hội có thể tham gia
đấu thầu và cho rằng việc đó không có gì sai pháp luật. Nếu là một công ty khác,
tôi vẫn giới thiệu”. Trình bày xong, người của Văn phong Trung ương lại đến bên
ông Hải nói: “Theo yêu cầu của Ban Bí thư, mời anh về”.

Ông Hải không được có mặt trong phần “luận tội” sau đó. Thủ tướng Võ Văn Kiệt
thấy “cách làm không dân chủ” cũng bỏ về. Theo Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng
Chính phủ Lê Xuân Trinh: Cuộc họp do ông Đỗ Mười chủ trì. Thứ trưởng Bộ Nội vụ
Phạm Tâm Long chi nói một câu: “Nếu không khởi tố anh Hải với anh Lê Liêm thi vụ
án coi như bỏ đi”. Ông Đỗ Mười kết luận: “Cứ khởi tố, nếu điêu tra xong mà không
thấy vấn đề gì thì thôi”. Sau Hội nghị Trung ương, ông Đỗ Mười cho gọi Bộ trưởng
Nội vụ Bùi Thiện Ngộ và Chánh án Tối cao Phạm Hưng lên, quán triệt: “Đây là Nghị
quyết của Ban Chấp hành Trung ương, các anh chấp hành”.

Sau đó, theo ông Vũ Ngọc Hải, ông Nguyễn Văn Linh có ra Hà Nội găp ông Lê Thanh
Đạo, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Cáo trạng, được điều chỉnh từ
khung 1, cảnh cáo, lên khung 2, có mức án từ ba năm tủ trở lên. Ông Hải sau đó
lãnh án 3 năm tù giam. Thứ trưởng Lê Liêm lãnh án tù treo.

Mất tướng giữa đường, ông Võ Văn Kiệt càng quyết tâm cao hơn để hoàn thành công
trình. Ông có mặt ở những nơi cam go nhất. Ông chứng kiến những công nhân gùi
vật tư leo lên đèo Lò Xo, đầu người đi sau chạm vào gót chân người đi trước.
Thay vì dùng trực thăng kéo cáp như Thái Lan, ông chứng kiến cảnh công nhân cầm
bó mía đi trước dụ con voi đang cong lưng kéo những đoạn cáp mồi. Đường dây hoàn
thành đúng tiến độ. Nhưng chính đây lại là thời điểm ông Kiệt lo lắng nhất: Đóng
điện.

Chiều ngày 27-5-1994, báo chí túc trực trước cổng Tổng công ty Điện lực Việt
Nam, ông Kiệt đến từ cổng sau. Gần 6 giờ mà báo chí vẫn chưa được vào. Nhà báo
Minh Thu kể: “Tôi viết vào một mảnh giấy nhỏ: Xin chú cho quay làm tư liệu thôi.
Sát giờ đóng điện, ông nói với Điện lực: Cho truyền hình vào. Tôi là người duy
nhất có mặt. Khi ấy ông vẫn rất căng thẳng, môi ông khô khốc, miệng há hốc,
ngước nhìn lên bảng điện. 19 giờ 07, đèn bật sáng, báo: Phú Lâm đã nhận được
dòng điện đúng như tính toán. Ông thở phào bước lên phòng tiếp tân. Người đầu
tiên mà ông đi tới, ôm lấy, là Thứ trưởng Lê Liêm, đang thụ án treo. Ông Liêm,
khi ấy đã ngoài 60 tuổi, mếu máo trong vòng tay Thủ tướng”.

Sáng hôm sau, vào lúc 5 giờ sáng ở trại giam Thanh Xuân, phạm nhân Vũ Ngọc Hải
đang tập thể duc ở sân thi một Trại phó chạy tới báo: “Anh Hải về mặc quần áo
nhanh lên, Thủ tướng vào thăm đấy”. Ông Hải nhớ lại: Tôi thay đồ, lên phòng
khách, Thủ tướng đã ngồi đó. Ông mang theo hai chai sâm banh, ba chiếc ly, vì sợ
trong tù không có ly. Ông đứng dậy nắm chặt tay tôi, hỏi tôi có khoẻ không, sinh
hoạt ra sao. Trầm ngâm một chút, ông hỏi: “Có biết vì sao mình vào không?”. Tôi
bảo: “Tôi biết hôm nay đóng điện, chỉ không biết đóng vào giờ nào thôi! Nhưng
tôi tin là đóng điện đã thành công”. Ông bảo: “Mấy hôm nay mình mất ngủ vì lo”.
Tôi hỏi: “Thế còn tối hôm qua anh có ngủ được không?”. Ông nói: “Cũng mất ngủ vì
vui sướng quá!”. Rồi ông gắn huy hiệu đường dây 500KV cho tôi. Ông bảo: “Anh là
người đầu tiên được gắn huy hiệu này đấy”. Ông tự tay rót ba cốc sâm banh, một
cốc đưa cho tôi, một cốc đưa cho Giám thị trại giam. Chúng tôi cùng chạm cốc.
Còn một chai nữa, ông đưa cho tôi: “Hải cầm lấy”.

Phạm nhân được giữ lại trong trại cho đến khi Thủ tướng về. Khi vừa ra khỏi
phòng, họ giơ tay chào ông Hải, có người hỏi: “Bộ trưởng vừa mới tiếp Thủ tướng
a?”. Ông Hải: “Bộ trưởng cái cóc khô”. Nhưng rõ ràng là ông Hải đã ở tù như Bộ
trưởng. Ông Hải kể: “Khi tôi nhập trại, ông Lê Minh Hương, khi đó là thứ trưởng
Bộ Nội vụ vào kiểm tra trại giam và cho giải phóng một cai trạm xá cũ để tôi vừa
ở vừa tiếp khách. Cái trạm xá này một nửa nằm trong trại, một nửa nằm nhô ra khu
tập thể của cán bộ trại. Hằng ngày, khách đến thăm tôi nhiều nên anh em bố trí
một phồng gần phòng làm việc của cán bộ trại giam. Đồng thời bố trí một phạm
nhân phục vụ, cứ có khách đến đăng ký thì họ lại gọi tôi lên phòng đó tiếp
khách, tiếp không có công an ngôi kèm đâu. Trong thời gian tôi ở tù, ngoài Thủ
tướng, Phó Thủ tướng, có hai mươi tám Bộ trưởng, thứ trưởng và hai phu nhân Bộ
trưởng cũng vào thăm”.

Sau Têt năm 1995, Phó Thủ tướng Phan Văn Khả vào thăm. Ông Hải kể: “Anh Khải đem
hai chai rượu, nói: Đây là cơ quan tặng cậu. Rồi anh lấy ra một chiếc áo rét:
Cái này của tớ. Rồi rút ra một bao lì xì đỏ: Còn đây là của vợ tớ lì xì cậu! Anh
Khải bảo: “Đường dây 500KV đóng điện thành công thế mà có vị vẫn phản đối đấy”.
Tôi nói: “Cái này thì tôi biết. Khi mới bị khởi tố, tôi vào Thành phố Hồ Chí
Minh, đến chơi nhà vợ chồng ông Mười Hai, một người cũng vừa bị khởi tố trong vụ
án khác, ông Mười Hai nói: “Vị ấy đã đồng ý sẽ tha tớ, nhưng cậu sẽ chết”.

Sau khi vào trại gắn huy hiệu cho ông Hải, ông Kiệt tác động để ông được tha.
Ông Nguyễn Văn Linh nghe tin, điện cho ông Đỗ Mười ngăn chặn. Ông Mười nói với
ông Kiệt: “Tình hình chưa thể cho anh Hải ra trước Tết được”. Ông Kiệt nói: “Ta
có bản lĩnh của ta, vì sao lại phải sợ?”. Ông Mười: “Thôi cứ để sau Têt”. Sau
Tết ông Hải được đặc xá cùng với hàng ngàn phạm nhân khác. Lần đầu tiên, lệnh
đặc xá được Hà Nội áp dụng, ở Sài Gòn, ông Nguyễn Văn Linh nói: “Đây là con bài
để tha thằng Hải!”.

Đường dây 500 kV thành công nhưng Ban Bí thư không đồng ý cho làm lễ khánh
thành. Một người thư ký cũ của ông Kiệt lúc bấy giờ là Phó Chủ tịch trực Uỷ ban
Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Huấn, nói: “Chẳng lẽ không làm
gì? Tôi nói với anh Sáu Dân: Để tôi làm cho. Anh Sáu dặn, không được lấy một cắc
từ ngân sách. Tôi huy động Hàng không, Sài Gòn Tourist tài trợ, tổ chức một bữa
tiệc mời 600 quan khách. Trước Dinh Độc Lập treo băng-rôn: Thành phố Hồ Chí Minh
mừng dòng điện 500 kV”.

Nhà báo Minh Thu kể: “Tôi vào Dinh, không có một quan chức nào của Ban Bí thư
hay Bộ Chính trị vào dự. Thấy ông ngồi một mình, tôi đến, hỏi: Chú, cái nhà trẻ
xây xong còn có lễ khánh thành, sao một công trình thế này mà không có ngày
khánh thành hả chú. Ông kéo tôi ngồi xuống: Thôi, đóng điện an toàn là tao mãn
nguyện lắm rồi”.

Suốt buổi lễ, ông Kiệt im lặng. Một diễn từ cực ngắn được ông Nguyễn Văn Huấn
đọc: “Cái tên Phú Lâm giờ đây đã trở nên quen thuộc, thân thương. Bởi, Phú Lâm
là điểm cuối cùng của đường dây huyết mạch nối liền với Hoà Bình. Sức mạnh sông
Đà qua Phú Lâm toả khắp phương Nam, làm đẹp, làm giàu thêm, miền đất Cửu Long và
Thành phố Hồ Chí Minh có thêm điều kiện mới để tiến lên trong vận hội mới. Cho
phép tôi được thay mặt đồng bào Thành phố gửi tới hai vạn người anh hùng, vẫn
đang đứng trên công trường, bất chấp tất cả”. Nhiều năm sau, khi kể lại câu
chuyện này, ông Nguyễn Văn Huấn vẫn tỏ ra vô cùng tâm đắc với câu: Bất chấp tất
cả!




Chú thích

(413) Phó Ban Tổ chức Trung ương khoá V, VI; Trưởng Ban Bảo vệ Trung ương Đảng
khoá VII.

(414) Sau đó, khi họp Bộ chính trị, ông Nông Đức Mạnh đã bảo vệ quyết định này
của Quốc hội.

(415) Ông tham gia Mặt trận Bình dân năm 1936, vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm
1939. Từng bị kết án mười năm tù giam, và đã phải nằm ở Hoả Lò bốn năm. Năm
1945, khi Nhật đảo chính Pháp ông cùng với các đồng chí của mình vượt ngục, bắt
liên lạc ngay với Đảng rồi tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Hà Đông. Sau đó, ông
đã từng làm bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông, bí thư Tỉnh uỷ Hà Nam, bí thư Thành uỷ kiêm
chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ tỉnh Nam Định. Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã từng
là khu uỷ viên Khu III, bí thư Tỉnh uỷ Ninh Bình, phó bí thư Liên khu uỷ III,
chính uỷ Bộ Tư lệnh Liên khu III, bí thư Khu uỷ Tả Ngạn sông Hồng kiêm chủ tịch
Uỷ ban Kháng chiến Hành chính và chính uỷ Bộ Tư lệnh khu Tả Ngạn; Năm 1955, ông
được phân công chỉ đạo tiếp quản khu 300 ngày rồi làm bí thư Thành uỷ kiêm chủ
tịch Uỷ ban Quân chính thành phố Hải Phòng.

(416) Huy Đức, Một Giờ với Tân Chủ tịch HĐBT Võ Văn Kiệt, Tuổi Trẻ 13-8-1991.

(417) Huy Đức, Phỏng vấn Tân Thủ tướng Phan Văn Khải, Thanh Niên 27-9-1997.

(418) Ông Võ Văn Kiệt cũng có những quyết định gây tranh cãi rộng rãi trong công
chúng. Một trong những quyết định đó là Chỉ thị 406- TTg ngày 8-8-1994 về việc
“cấm sản xuất, buôn bán và đốt pháo”. Đốt pháo trong các dịp cưới xin, hội hè
đặc biệt là trong ngày Tết là một truyền thống lâu đời. Tuy nhiên, những năm đầu
thập niên 1990, khi kinh tế khởi sắc, đốt pháo càng trở nên phổ biến hơn. Theo
chỉ thị 406: “Các đêm giao thừa, việc đốt pháo trong các thành phố Hà Nội, thành
phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Nam - Đà Nẵng v.v… kéo dài liên tục từ 30 đến
40 phút, tạo tiếng nổ ồn ào, làm cho người già, trẻ em, người yếu tim, thần kinh
yếu không chịu nổi, khói pháo dày đặc kéo dài, xe ô tô, xe gắn máy có lúc không
đi lại được, gây tắc nghẽn giao thông. Theo báo cáo của 44/53 địa phương, trong
dịp Tết Nguyên đán Giáp Tuất (1994) đã có 728 vụ tai nạn do pháo gây ra, làm
chết 71 người, làm bị thương 765 người và tiêu tốn hàng 20-30 tỷ đồng”. Kể từ
ngày 1-1-1995, việc “sản xuất, buôn bán và đốt các loại pháo nổ, thuốc pháo nổ
trong phạm vi cả nước (trừ các loại pháo hoa và thuốc làm pháo hoa)” đều bị
nghiêm cấm. Quyết định này được thi hành nghiêm tới mức, trước Tết, báo Người Hà
Nội sau khi đăng một bài viết bày tỏ chút trắc ẩn với pháo đã lập tức bị Bộ Văn
hoá - Thông tin đình bản.

(419) Các ông: Phạm Văn Xô, nguyên Uỷ viên Thường vụ Xứ uỷ Nam Bộ thời kháng
chiến chống Pháp sau là Uỷ viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam; tướng Đồng
Văn Cống, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 99 Nam Bộ; Tư lệnh quân khu 9, Phó Tư
lệnh quân giải phóng miền Nam; Đại tá Nguyễn Văn Thi, nguyên Uỷ viên Thường vụ
Tỉnh uỷ Thủ Dầu Một, cho tới lúc chết vẫn ký đơn tố cáo Lê Đức Anh. Những nhà
cách mạng đàn anh của Lê Đức Anh cho rằng: Ông Lê Đức Anh không phải là công
nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người phụ trách việc chế biến thực
phẩm (chef des cooperatives) cho chủ đồn điền và các quan chức Pháp ở Lộc Ninh,
bị công nhân cao su đặt cho biệt danh là “cai lé” do chột mắt vì bệnh đậu mùa.
Lê Đức Anh cũng là người giúp việc thân cận của chủ đồn điền De Lalant, một sĩ
quan phòng nhì của Pháp. Ông đã từng bị nghi ngờ là “surveillant”, là “2è bureau
(phòng nhì)”, không phải là đảng viên từ năm 1938 ở quê mà được kết nạp tháng
4-1945, trong một cuộc họp của Ban cán sự Đảng Thủ Dầu Một có ông Nguyễn Văn Thi
cùng dự…Vào thời điểm những là thư tố cáo của ba vị lão thành này được phát tán
rộng rãi, ông Anh cho xuất bản cuốn Đại tướng Lê Đức Anh, thanh minh: Khi ở Đà
Lạt, ông làm cu ly, quét nhà, quét sân cật lực cũng chỉ được trả lương tháng 15 
đồng. Nhưng: “Làm được hai tháng, ông thấy mình phải cố gắng học lấy một nghề,
có nghề vững mới kiếm được tiền đủ sống và hoạt động cách mạng” và một “thằng
Tây” đã hướng dẫn ông làm pa-tê, xúc xích, dăm bông. Về “chủ đồn điền De
Lelant”, mà các vị lão thành tố cáo là “phòng nhì”, ông Lê Đức Anh giải thích:
“Thằng chủ Tây đích thực của sở cao su này khi thì ở thành phố khi thì ở Paris…
Cả hai thằng Đờ La-lan và Man-đông cũng đều là những thằng làm thuê. Man-đông
thoả thuận trả lương tháng cho ông 30 đồng. Thấy Pa-tê, xúc xích ông làm ra ngon
nên nó yêu cầu ông làm thêm giờ… và trả thêm cho ông mỗi tháng 15 đồng. Như vậy,
mỗi tháng ông có thu nhập đều đặn 45 đồng. Có tiền dư dật, công việc lại không
bị quản thúc như phu cạo mủ nên ông bắt đầu hoạt động cách mạng” (Đại tướng Lê
Đức Anh, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân 2005, trang 20-21).

(420) Đại tướng Lê Đức Anh, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân 2005, trang 30.

(421) Tên ông được đặt cho một con đường ở Gò Vấp.

(422) Phòng nhì Pháp đã đánh vào một điệp viên để cho những người kháng chiến
“bắt được”. Người này khai ra hàng chục cán bộ chủ chốt “nhận làm điệp viên” cho
Phòng Nhì. Ngay lập tức, hàng chục cán bộ bị các đồng chí của mình đưa đi thủ
tiêu, trong đó có 3 người anh và em trai của bà Bảy Anh.

(423) Theo Đại tá Khuất Biên Hoà.

(424) Bà Phạm Thị Anh biết tin này từ cuối thập niên 1950 nhưng bà không đi bước
nữa, sau 1975 bà về sống với con gái tại Cư xá Bắc Hải. Bà mất ngày 8-1-2011.
Trong thời suốt thời gian ấy hai người chưa bao giờ gặp lại nhau.

(425) John McCain đã từng trải qua sáu năm bị giam giữ trong nhà tù Hoả Lò sau
khi máy bay của ông bị bắn hạ và dù của ông rơi xuống hồ Trúc Bạch.

(426) John Kerry nhớ lại: “Chúng tôi đã trở về nhà trên hai con đường khác nhau
nhưng cùng có những trải nghiệm giống nhau trong thời gian tại ngũ. Chúng tôi
cùng chia sẻ một tầm nhìn về con đường phía trước, không phải như những cộng sự
mà như hai người bạn… Chúng tôi cam kết truy tìm sự thật cho dù điều đó dẫn
chúng tôi tới đâu”. Thượng nghị sỹ John Kerry mô tả công việc sau đó của Uỷ ban
là “hàng nghìn giờ chậm rãi, đau xót và tỉ mẩn”, giải mật hàng triệu trang tài
liệu của Chính quyền Mỹ. John Kerry nói tiếp: “Tôi đã bay tới Việt Nam và các
nước trong khu vực mười bốn chuyến, nghiên cứu từng chi tiết các câu chuyện kể
về hàng trăm trường hợp mất tích và hồi tưởng từng ký ức chiến tranh của cá nhân
mình gần như hàng ngày”.

(427) Tài liệu trên đây, còn được gọi là “Russian Doccument” hay “smoking gun”,
được nói là một báo cáo 30 trang của tướng Trần Văn Quang gửi Bộ Chính trị Việt
Nam được KGB dịch ra tiếng Nga ngày 15-9-1972, được tìm thấy trong kho lưu trữ
Liên xô bởi một nhà nghiên cứu có uy tín người Úc, Stephen J. Morris, đang làm
việc tại đại học Harvard. “Russian Doccument” đề cập đến số lượng tù binh bị giữ
ở Việt Nam cho tới trước 15-9-1972 là 1.205 người Mỹ thay vì chỉ 368 người như
thừa nhận lúc đó của Lê Đức Thọ. Nếu báo cáo này là đúng thì Hà Nội còn giữ tới
614 tù binh Mỹ vì 591 tù binh đã được trao trả vào tháng 3-1973.

(428) Nguyên “thứ trưởng” trong Chính phủ Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam,
người đồng thời làm “hộp thư” giữa ông Kiệt và Đại tướng Dương Văn Minh, sau khi
ông Minh sang định cư ở Pháp vào năm 1978.

(429) The Southest Asia Treaty Oganization, Hiệp ước phòng thủ chung, của các
nước Đông Nam Á, ra đời tháng 2-1955.

(430) Cho đến giữa thập niên 1980, Việt Nam vẫn còn giữ bảy viên tướng của Hàn
Quốc bị bắt giữ sau năm 1975. Theo ông Trần Tam Giáp, thời gian đó là thư ký Thủ
tướng Phạm Văn Đồng (Lê Đức Thọ, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2011): “Chủ
trương của ta là tạo điều kiện cho Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên trong
cuộc đàm phán với Cộng hoà Triều Tiên để Chính phủ ta thả bảy viên tướng của Hàn
Quốc về nước. Lúc đó hai bên đàm phán ở New Dehli, Ấn Độ, tại Đại sứ quán Việt
nam. Sau nhiều năm, hai bên không đi đến thoả thuận nào do Hàn Quốc không đáp
ứng đòi hỏi của Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên mà họ cho là quá cao. Qua
cuộc trao đổi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng chí Lê Đức Thọ cho biết số tướng
lĩnh này tuổi đã cao, điều kiện giam giữ của ta không đảm bảo, sức khỏe của họ
giảm sút, nếu tính mạng họ có vấn đề gì nảy sinh thì sẽ rất khó cho ta. Sau đó,
ta đã giao cho Bộ ngoại giao gợi ý bạn (Cộng Hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên)
nên có phương án hợp lý hợp tình. Bạn đòi giao số này cho họ nhưng ta không nhất
trí. Lúc đó có sự vận động của Chính phủ Thuỵ Điển, qua Đại sứ Oberg chuyển thư
cho Tổng thống Pak Chung Hy thỉnh cầu Chính phủ ta (trong số này có người là bạn
thân hoặc gia đình của Tổng thống). Thủ tướng Phạm Văn Đồng và đồng chí Lê Đức
Thọ đã thảo luận với nhau nhiều lần, bàn nhiều khía cạnh và cuối cùng đã đi đến
kết luận là thả tự do số tướng lĩnh này vì lý do nhân đạo. Đây là một quyết định
không dễ dàng khi đưa ra Bộ Chính trị quyết định. Cuối cùng, qua trung gian của
Chính phủ Thuỵ Điển, một chuyên cơ đã được phép đến Hà Nội nhận số tướng lĩnh
nói trên. Phía Hàn Quốc rất cảm kích và đánh giá cao quyết định của ta, họ tỏ ý
muốn viện trợ kinh tế xứng đáng cho ta”.

(431) Báo cáo số 8/BC, ngày 10-6-1992 của Vụ phó Vụ Báo chí Bộ Văn hoá - Thông
tin và Văn hoá Nguyễn Thắng.

(432) Theo ông Trần Quốc Hương, bí thư Trung ương Đảng Khoá VI: “Tin ông Phan
Bình bị bệnh tâm thần, tự sát là do Cục II báo cáo”.

(433) Khi ba ông cố vấn bị kiểm điểm bởi vụ “Lê Khả Phiêu”, ông Võ Văn Kiệt nói
ông đề nghị kiểm điểm luôn trách nhiệm của những người liên quan đến Pháp lệnh
Tình báo và ông sẵn sàng nhận phần trách nhiệm của mình khi ký Nghị định 96/CP.
Ông Võ Văn Kiệt còn phải chịu trách nhiệm về một nghị định gây tranh cãi khác đó
là Nghị định số 31/CP theo đó “những người có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm
đến an ninh quốc gia được quy định tại Chương I phần các tội phạm của Bộ luật
hình sự nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”(Điều 2) có thể bị quản
chế tại địa phương từ 6 tháng đến 2 năm (như trường hợp của tiến sỹ Hà Sỹ Phu)
hoặc có thể bị đưa đi quản chế ở nơi khác (như trường hợp của các linh mục
Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín…). Nghị định 31/CP của Chính phủ do ông Võ Văn Kiệt ký
ngày 14-4-1997 về mặt pháp lý là một văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chánh do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 6-7-1995. Cũng
như Nghị định Tình báo, phải gần hai năm sau khi có Pháp lệnh xử phạt hành
chánh, ông Võ Văn Kiệt mới ký Nghị định 31/CP. Tuy nhiên việc chấp nhận áp dụng
một biện pháp hành chánh để tước một số quyền tự do của công dân thay vì phải
bằng quyết định của toà án cho thấy ông Võ Văn Kiệt đã không vượt qua được khung
chính trị đương thời và thiếu dứt khoát với tinh thần pháp quyền mà ông cổ vũ.
Biện pháp này càng bị chỉ trích nhiều hơn khi nó chủ yếu được áp dụng với những
người bất đồng chính kiến.

(434) Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định thương mại Việt - Mỹ.

(435) Tướng Nguyễn Chí Vịnh sinh năm 1957 là con trai út của Đại tướng Nguyễn
Chí Thanh. Sự nghiệp của ông trầy trật sau khi bị kỷ luật ở Học viện kỹ thuật
Quân sự vào cuối thập niên 1970, phải chuyển sang học tiếp ở trường sỹ quan
thông tin. Năm 1981, sau khi ra trường, Vịnh được tướng Lê Đức Anh đưa sang
Phnom Penh, công tác trong Đoàn 12, một đơn vị của Cục Tình báo Quân đội đặc
trách chiến trường Campuchia. Tại đây, ông kết hôn với con gái một lãnh đạo Đoàn
12, đại tá Vũ Chính. Tháng 5-1995, tức là chỉ mấy tháng sau khi Vũ Chính thay
tướng Tư Văn làm tổng cục trưởng Tổng cục II, Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm giữ
chức cục phó Cục 12, với quân hàm trung tá. Chỉ bốn năm sau ông được phong hàm
thiếu tướng, sau hơn một năm giữ chức tổng cục phó.

(436) Những bà mẹ: Có ba con là liệt sỹ; Có hai con và có chồng hoặc mình là
liệt sỹ; Có một con duy nhất mà người đó là liệt sỹ; Có hai con mà cả hai đều là
liệt sỹ thì được phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”.

(437) Chính sách ưu đãi này đã khiến cho chi tiêu quốc phòng chiếm phần 40% chi
tiêu của Chính phủ cho khu vực phi xã hội, tương đương với 4,2% GDP trong năm
1990, tương đương với mức chi cho quốc phòng trong giai đoạn chiến tranh 1986:
4,4% GDP, tuy có giảm hơn năm 1988: 5,3% GDP.

(438) Quy mô phát triển đến năm 2020.

(439) Phần bị tịch thu theo Quyết định 111/CP ngày 14-4-1977; phần từ những nhà
mà “giai cấp tư sản” bị buộc phải “hiến” lại cho nhà nước. Chính quyền cũng ra
lệnh “quản lý” nhà của những người vượt biên trong thập niên 1970, 80. Từ thập
niên 1990, Chính quyền quản lý thêm một lượng nhà không nhỏ của những người được
đi xuất cảnh mà không được quyền bán nhà vì họ thuộc đối tượng bị “quản lý nhà”
theo Quyết định 111/CP và 305/CP mà, trước đó, chưa bị tịch thu. Họ gồm: sỹ quan
từ cấp thiếu tá trở lên; cảnh sát từ cấp trung uý trở lên; chủ sự phòng của các
cơ quan trung ương; phó ty và mật vụ, chiêu hồi… Theo ông Mười Hải, Giám đốc sở
Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh: “Ông Võ Văn Kiệt cho rằng, Quyết định 111/CP, cải
tạo nhà sỹ quan cũ, có những điểm không hợp lý. Sỹ quan từ cấp trung uý trở lên,
Nhà nước lấy nhà cửa hết. Trong khi, theo ông, có nhiều loại trung uý, có anh
trung uý quân y, có anh trung uý thổi kèn. Quan chức trong bộ máy hành chánh của
Sài Gòn, từ quận phó trở lên cũng bị tịch thu. Anh đề nghị nên phân loại ra và
sau đó, Thành uỷ đã đề nghị Trung ương sửa đổi Quyết định 111/CP theo đó, thêm
hai chữ “ác ôn” vào sau thành phần sỹ quan, nghĩa là chỉ những “sỹ quan ác ôn”
mới bị thu nhà. Quyết định sửa đổi này là Quyết định 305/CP ngày 17-11-1977 của
Hội đồng Chính phủ.

(440) Năm tháng sau, trong cuộc bầu cử Quốc hội khoá IX, bà Ngô Bá Thành đã
không đắc cử khi ứng cử tại quận 5 và quận 10 của Thành phố Hồ Chí Minh. Ngay
lập tức bà nói với đài BBC Việt Ngữ rằng, cuộc bầu cử bị gian lận và đây là hành
động đáp trả của Thành phố cho việc chỉ trích chính sách hoá giá nhà của bà.

(441) Về sau, cả Hà Nội, Sài Gòn và nhiều địa phương đều áp dụng chính sách hoá
giá nhà. Hầu hết các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hoặc con cái họ, đều có nhà ở
Sài Gòn, và đều được hoá giá với giá gần như cho những căn biệt thự trị giá hàng
nghìn lượng vàng. Các bậc công thần như Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Dương
Quang Đông… đều nhận nhà hoá giá rồi vội vàng bán lại với giá hơn hai nghìn
lượng vàng. Ông Kiệt cũng có được sở hữu tư nhân căn biệt thự 16 Tú Xương theo
chính sách hoá giá của Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng, về sau, ông viết thư gửi
Thành uỷ xin trả lại căn nhà này sau khi ông và bà Phan Lương Cầm qua đời.

(442) Theo ông Nguyễn Văn Huấn: Sau đó, Thành uỷ nhận mức kỷ luật “khiển trách”,
mức thấp nhất trong thang kỷ luật của Đảng. Nhưng, ông Lê Đức Anh nói: “Phải kỷ
luật đồng chí nào trực tiếp cầm chịch”. Sức ép buộc ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp phải
viết thư gửi cho 15 vị chủ chốt trong Bộ Chính trị và Hội đồng Bộ trưởng khẳng
định là ông đã có sự đồng ý của Hội đồng Bộ trưởng trước khi cho hoá giá nhà.
Thư của ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp viết: “Tôi nghĩ trong dân gian đối xử với nhau họ
còn tin và tôn trọng lời hứa miệng với nhau, huống chi chúng tôi 30 năm kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ cũng đã quen chỉ thị miệng, đối với cấp trên dù chỉ
thị miệng chúng tôi đều răm rắp chấp hành và chấp hành nghiêm chỉnh… Tôi đề nghị
Bộ Chính trị cho mời các đồng chí liên quan gặp lại nhau để làm sáng tỏ vấn đề
này”.

(443) Ông Võ Văn Kiệt là một người quyết đoán, có rất nhiều công trình lớn mang
đậm dấu ấn của ông, đồng thời cũng gây ra nhiều tranh cãi. Việt xây dựng nhà máy
lọc dầu ở Dung Quất là một ví dụ. Những người chỉ trích cho rằng chính trị đã
xen vào quyết định kinh tế. Năm 1995, tập đoàn Total SA của Pháp bỏ đi vì rằng
vị trí đặt nhà máy nằm cách quá xa những cơ sở hạ tầng dầu mỏ trong nước. Các
định chế quốc tế như WB, IMF cũng nghi ngờ hiệu quả kinh tế của Dung Quất. Ngày
8 và 9-6-2005, các đại biểu Quốc hội (kỳ họp thứ 7,khoá XI) đã chất vấn về quyết
định và tiến độ xây dựng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và
Chủ tịch Quốc hội đã phải “nhận lỗi trước cử tri”. Ngày 10-6-2005 ông Võ Văn
Kiệt có thư gửi Quốc hội (đăng trên báo Tuổi Trẻ số ra cùng ngày) giải thích:
Total muốn địa điểm đặt tại Long Sơn (Vũng Tàu)… nhưng Chính phủ không muốn “tập
trung quá lớn những công trình trọng điểm quốc gia vào một khu vực”; ở Long Sơn
không có cảng nước sâu, để xây nhà máy lọc dầu phải làm 3 km cầu cạn nhưng lý do
chính, Chính phủ e “quá trình vận chuyển dầu, nếu có sự cố rò rỉ sẽ đe doạ trực
tiếp hoạt động của khu du lịch Vũng Tàu”. Petronas (Malaysia) sẵn sàng xây dựng
nhà máy lọc dầu ở Dung Quất với điều kiện được phân phối sản phẩm ngay tại thị
trường VN để tránh khỏi phải chi phí vận chuyển về lại Malaysia để rồi mới xuất
đi. Theo ông Kiệt đề nghị này đã không được ông Đỗ Mười chấp thuận do đó Chính
phủ đã xin ý kiến Bộ Chính trị đi đến quyết định tự mình làm lấy. Thư của ông Võ
Văn Kiệt viết: “Cho đến nay, nếu được xem xét lại, tôi vẫn chọn Dung Quất làm
địa điểm xây dựng nhà máy lọc dầu như nhận định ban đầu, góp phần rất có ý nghĩa
cho khu vực kinh tế miền Trung và cho cả nước trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu bây
giờ, trước những diễn biến của tình hình, Quốc hội phân tích và kết luận việc
lựa chọn đó là sai thì người nhận lãnh hoàn toàn trách nhiệm đó phải chính là
tôi, Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng Chính phủ”.

(444) Khi ấy Quốc hội chưa ban hành quy chế Công trình quốc gia, công trình buộc
Chính phủ phải xin chủ trương của Quốc hội.

(445) Theo ông Cự, ngày 23-3-1992 trong phiên họp Uỷ ban Khoa học và Công nghệ
của Quốc hội nhiều thành viên của Uỷ ban đã nêu nhiều vấn đề về đường dây Bắc
Nam 500 kv nhưng do không có thông tin nên Uỷ ban đã phải gửi công văn số 426 
KH-KT ngày 24-3-1992, yêu cầu uỷ ban khoa học Nhà nước cung cấp những thông tin
cần thiết về đường dây nói trên. Ngày 24-3-1992 cũng là ngày Quốc hội khoá VIII
khai mạc kỳ họp thứ 11.

Chương 19 

Giữa thập niên 1990, đổi mới có khuynh hướng chững lại. Đây là giai đoạn trong Đảng vẫn có những người được coi là “bảo thủ”, có những người được coi là “đổi mới”. Các nỗ lực phát triển kinh tế theo hướng thị trường rất có thể bị các nhà lý luận quy là “chệch hướng”; các nỗ lực dân chủ hoá cũng có thể bị quy là “diễn biến hoà bình”. Trong tình hình đó, thay vì có những tháo gỡ về mặt lý luận để tránh tụt hậu và tiếp tục cải cách, Đại hội VIII, diễn ra đầy kịch tính vào cuối tháng 6-1996, chủ yếu để những nhà lãnh đạo tuổi cao sắp xếp các vị trí cầm quyền trong Đảng. Khúc dạo đầu Nhân sự Đại hội VIII được chuẩn bị trong tình huống Tổng bí thư Đỗ Mười đã bước vào tuổi tám mươi, người trẻ nhất trong “tam nhân” - ông Võ Văn Kiệt - cũng sắp bước sang tuổi bảy mươi tư,

Read More

Chương 20 Lê Khả Phiêu và ba ông cố vấn

Tháng 6-1991, ông Lê Khả Phiêu mới được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương; năm 1992, vì giữ chức chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông được cơ cấu vào Ban Bí thư và tháng 1-1994, tại đại hội Đảng giữa nhiệm kỳ, ông được đưa vào Bộ Chính trị. Vậy mà tháng 12-1997, ông Lê Khả Phiêu đã trở thành Tổng bí thư. Nhưng, ông Lê Khả Phiêu làm Tổng bí thư ở một giai đoạn mà các nhà chính trị Việt Nam bắt đầu bị quan sát bởi Internet. Ông cũng làm Tổng bí thư khi các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt vẫn giữ quyền bính như những “thái thượng hoàng”. Cho dù có không ít nỗ lực để thay đổi bên trong Đảng Cộng sản Việt Nam, người bị thay thế lại là ông Lê Khả Phiêu chỉ sau hơn ba năm giữ chức. Kỷ nguyên Internet Tuy con đường phát triển hạ tầng viễn thông được đắp bởi công lao của rất nhiều người, sự chấp thuận của ông Lê Khả Phiêu vào năm 1997 là rất quan trọng để Việt Nam

Read More

Chương 21 Định hướng xã hội chủ nghĩa

Cho dù vẫn là quốc gia một đảng, kể từ khi chấp nhận kinh tế nhiều thành phần, về
bản chất, Việt Nam không còn là quốc gia cộng sản. Thế nhưng, định hướng xã hội
chủ nghĩa vẫn như một “nơi trú ẩn” của đảng cầm quyền và ý thức hệ vẫn ảnh hưởng
sâu sắc đến tiến trình ban hành chính sách. Thật khó để khẳng định, chủ nghĩa xã
hội có thực sự là niềm tin của một số nhà lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ nhưng nó đã
trở thành quyền lực chính trị, ngăn chặn thành công những chính sách phát triển
đất nước theo hướng kinh tế thị trường. Quan điểm lấy quốc doanh làm chủ đạo
được thiết lập trong thập niên 1990 đã để lại di chứng lâu dài cho đất nước.
Quốc doanh chủ đạo

Không phải ngẫu nhiên mà ở giai đoạn 1991-1995, GDP tăng bình quân 8,2%, mức
tăng trưởng cao nhất so với cả thập niên sau đó(535). Từ chỗ bị cấm đoán, trên
nhiều lĩnh vực, Nhà nước đã để cho người dân được tự do làm ăn(536). Kinh tế thị
trường đã đánh thức khát vọng cơm no, áo ấm của người dân và trong giai đoạn sơ
khai, các nguồn lực trong dân như những chiếc lò xo đã bung ra mạnh mẽ(537).
Nhưng, khi sức đàn hồi tự nhiên yếu dần, những bất cập về chính sách, luật pháp
và thủ tục hành chính mới bắt đầu bộc lộ.

Đổi mới bắt đầu chững lại vào giữa thập niên 1990, và tốc độ chuyển sang kinh tế
thị trường có nguy cơ dẫm chân tại chỗ. Sự sốt ruột được ông Võ Văn Kiệt thể
hiện một phần trong “Thư gửi Bộ Chính trị”(538). Nhưng Đại hội Đảng lần thứ
VIII, giữa năm 1996, từ nhân sự cho đến đường lối, đã không cung cấp được nhân
tố mới nào. Theo ông Phan Văn Khải, nói là Đảng bắt đầu đổi mới từ năm 1986,
nhưng trên thực tế trong suốt nhiệm kỳ VI (1986-1991), trong Đảng vẫn tranh cãi
liên miên về đường đi. Chấp nhận kinh tế tư nhân vì thấy “vẫn còn cần” nhưng mối
quan tâm chính của Đảng vẫn là kinh tế quốc doanh.

Trước khi cho phép tư nhân lập công ty, tháng 3-1989, tại Hội nghị Trung ương 6,
khoá VI, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nói: “Ban Chấp hành Trung ương đòi hỏi phải
có những biện pháp mạnh mẽ, đồng bộ và thiết thực để cởi trói, tháo gỡ các khó
khăn vướng mắc cho kinh tế quốc doanh nâng cao hiệu quả kinh tế của nó, khẳng
định vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh trong cơ cấu kinh tế nhiều thành
phần”. Cuối năm 1989, sau mấy tháng áp dụng các biện pháp chống lạm phát, trong
đó áp dụng khá triệt để nguyên tắc tự hạch toán kinh doanh đối với các doanh
nghiệp, thị trường tốt hẳn lên. Nhìn kết quả chung của toàn nền kinh tế thì đó
là một thành công. Khu vực kinh tế phi nhà nước được lợi, người dân được lợi
lớn. Nhưng các doanh nghiệp nhà nước thì bế tắc.

Quen được bao cấp từ cung cấp vật tư cho tới khâu tiêu thụ, nay phải tự vay vốn,
tự tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm, nhiều doanh nghiệp nhà nước đứng bên
bờ vực vì thiếu vốn, hàng làm ra không bán được. Than Quảng Ninh bốn năm tháng
không có lương trả công nhân. Nhà máy Diesel Sông Công, Thái Nguyên, niềm tự hào
của nền công nghiệp Việt Nam, trong năm 1989 sản xuất được 5.000 đầu máy 50 mã
lực nhưng chỉ bán ra được một cái.

Theo ông Nguyễn Văn Nam, thư ký của ông Đỗ Mười: “Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh
bốn lần gặp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười phê phán. Giữa năm 1989, khi họp
Trung ương, nghe ông Đỗ Mười báo cáo những mặt tích cực của nền kinh tế, ông
Linh nói: ‘Mất chủ nghĩa xã hội tới nơi rồi còn nói thành tích’. Ông Linh đòi
ông Mười phải bỏ áp dụng các biện pháp chống lạm phát áp dụng từ quý II năm
1989. Ông Mười triệu tập các chuyên gia bàn cách thi hành lệnh của Tổng bí thư”.

Thôi áp dụng các nguyên tắc trong đề án chống lạm phát đồng nghĩa với việc từ bỏ
những nguyên tắc của kinh tế thị trường, yếu tố giúp nền kinh tế vượt qua khủng
hoảng. Các chuyên gia gặp nhau, hết sức lo lắng, Giáo sư Đào Xuân Sâm đề nghị:
“Tôi đến tuổi rồi, có gì thì về hưu, các cậu cứ để đấy tôi nói”. Vào họp, Giáo
sư Đào Xuân Sâm hỏi ông Đỗ Mười: “Anh làm thủ tướng của sáu mươi triệu dân hay
chỉ là sáu triệu cán bộ quốc doanh?”. Ông Đỗ Mười nói: “Làm gì tới sáu triệu,
chỉ khoảng ba, bốn triệu thôi”. Giáo sư Sâm tiếp: “Quốc hội bầu anh đứng đầu
Chính phủ là để lo cho toàn dân chứ đâu phải chỉ lo cho mấy triệu công nhân quốc
doanh. Một phương án đang đem lại lợi ích cho đất nước, cho nhân dân mà anh tính
bỏ sao được”. Bị đặt giữa hai dòng áp lực, ông Đỗ Mười đành phải duy trì những
chính sách đang phát huy hiệu quả đồng thời yêu cầu: “Các anh tìm cho tôi phương
án cứu quốc doanh”.

Nhóm chuyên gia của ông Đỗ Mười bàn và đưa ra lý lẽ: Kinh tế thị trường là thả
các doanh nghiệp, trong đó có quốc doanh, ra bơi chung trong một biển hồ. Vì
quốc doanh chưa biết bơi nên thả ra là chết. Ngày xưa bao cấp như những chiếc
lồng ấp, nên nếu quốc doanh ngắc ngoải có thể vớt lên đưa vào lồng may ra sống
lại. Nhưng nay, những chiếc lồng ấp không còn, có vớt lên bờ nó cũng chết.
Nguyên tắc của doanh nghiệp là phải bơi trong thị trường. Nếu chưa biết bơi thì
thả thêm phao cho nó.

Ông Nguyễn Văn Nam giải thích: “Cái phao được thả ra vào thời điểm này là vốn,
toàn bộ khấu hao, Chính phủ cho các doanh nghiệp quốc doanh giữ lại. Các doanh
nghiệp còn được cấp trực tiếp một khoản tiền: Than Quảng Ninh và Diesel Sông
Công được cấp bốn tỷ trả lương; quốc doanh được áp dụng tín dụng ưu đãi, được
vay vốn với lãi suất khoảng 6-7% thay vì 13% như thị trường”. Các ngân hàng quốc
doanh lại trở về với nguyên tắc bao cấp khi phải cung cấp một lượng tín dụng rất
lớn cho ngân sách có tiền chi tiêu và cho các xí nghiệp quốc doanh(539).

Theo ông Nguyễn Văn Nam: “Sự trì trệ của quốc doanh bắt đầu từ chính sách này.
Họ đã không dựa vào phao để học bơi mà suốt đời cứ bám vào cái phao Nhà nước.
Sức bám càng ngày càng nặng dần đó là lý do mà khu vực kinh tế quốc doanh chậm
đổi mới và hiệu quả của nền kinh tế thì càng ngày càng thấp”. Sự tồn tại của
quốc doanh, từ đó, theo ông Trần Đức Nguyên(540), “chủ yếu dựa vào những ưu ái
của Nhà nước: được khai thác tài nguyên, đặc biệt là đất đai; được độc quyền
trong những ngành mà Nhà nước giữ quyền chi phối; nhận được tín dụng ưu đãi theo
kênh hành chánh, người vay không phải chịu trách nhiệm gì”.

Những người soạn thảo “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm
2000”(541), một trong ba văn kiện chính của Đại hội Đảng lần thứ VII, tháng
6-1991, đã cố gắng đặt các khung chính trị để phát triển kinh tế nhiều thành
phần, chỉ giữ quốc doanh trên những lĩnh vực mà các thành phần khác không có
điều kiện hoặc không muốn đầu tư kinh doanh. Tổ phó Biên tập Chiến lược, ông
Trần Đức Nguyên, thừa nhận những quan điểm này được hình thành sau chuyến đi
“khảo sát kinh nghiệm phát triển kinh tế ở bốn nước châu Á”(542).

Tuy ghi nhận kinh nghiệm sử dụng vai trò nhà nước trong giai đoạn đầu đối với
các nước từ nông nghiệp lạc hậu đi lên(543), nhưng đoàn của ông Phan Văn Khải
chủ yếu tiếp thu các khuyến cáo về kinh tế quốc doanh. Ở cả bốn nước mà đoàn đi
qua đều có tình trạng chung: trong cùng một ngành hoạt động, quốc doanh thường
kém hiệu quả hơn tư nhân, do ít tự chủ, được ưu đãi nhưng lại bị nhà nước can
thiệp sâu, nên bị động và ỷ lại.

Báo cáo chuyến khảo sát của ông Phan Văn Khải viết: “Cuối cùng chính các quốc
gia này rút ra: cái gì tư nhân làm được thì để tư nhân làm; Khác với quan điểm
cái gì quốc doanh không làm được mới để tư nhân làm. Cả bốn nước đều tư nhân hoá
khu vực quốc doanh, nhưng vẫn giữ lại những cơ sở cần thiết như cơ sở phục vụ
công cộng, cơ sở khai thác tài nguyên quan trọng như dầu mỏ, cơ sở ở những lĩnh
vực tư nhân không muốn làm hoặc không đủ sức làm”(544). Thị trường và lập trường

Đầu thập niên 1990, người Nga sang Việt Nam đàm phán không nói chuyện buôn bán
mà chỉ đòi nợ cũ của Liên Xô. Nền công nghiệp gia công mũi giày, may áo sơ mi,
xuất sang Liên Xô, Đông Âu bắt đầu điêu đứng vì thị trường truyền thống không
còn nữa. Hàng vạn công nhân thất nghiệp. Việt Nam bắt đầu phải tìm kiếm bạn hàng
từ những thị trường khác.

Các doanh nghiệp phải trầy vi, tróc vảy, đi dần từng bước, từ các bạn hàng Hồng
Kông, Đài Loan rồi mới nhích tới EU. Đã có biết bao công ăn, việc làm được phục
hồi nhờ những bạn hàng mới đó. Nhưng do chưa quen gia công hàng cao cấp, hàng
hoá cứ bị trả vì không đạt chất lượng. Khách hàng khắc phục bằng cách cử chuyên
gia sang kiểm tra. Hàng hoá không còn bị trả lại nữa nhưng việc các chuyên gia
tư bản ngồi trong các nhà máy quốc doanh làm cho nhiều người chạnh lòng.

Bộ trưởng Lê Văn Triết kể: “Tôi báo với ông Kiệt, ông Kiệt nói: làm với ai, làm
gì mà có lợi cho đất nước thì mình cứ làm. Nhưng rồi bên Ban Bí thư nói vô nói
ra, có người sợ cho tư bản kiểm tra hàng hoá của mình là mất chủ quyền, mình lệ
thuộc vào nó. Có người thậm thà, thậm thụt với ông Đỗ Mười. Ở nhiều hội nghị, kể
cả trong hội nghị trung ương, ông Đỗ Mười cảnh báo: Coi chừng mất định hướng,
mất chủ nghĩa xã hội”. Theo ông Phan Văn Khải, tết năm 1989, tuy chúc “người dân
làm giàu”, nhưng ông Đỗ Mười vẫn dùng ảnh hưởng của mình để bảo vệ quan điểm
kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác là nền tảng.

Ông Phan Văn Khải nói: “Tôi và Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho rằng, phải phá bằng
được thế kế hoạch hoá tập trung, phải chuyển nền kinh tế từ chỗ nhà nước quyết
định đến chỗ do thị trường quyết định. Nhà nước chỉ tạo ra hành lang pháp lý còn
chuyện làm giàu thì phải để cho người dân, nhân dân phải là người quyết định sự
nghiệp của đất nước. Trong suốt một thời gian dài chúng tôi phải tranh cãi để
bảo vệ quan điểm này với những nhà lý luận mà ông Đỗ Mười tập hợp, từ Đào Duy
Tùng đến Nguyễn Đức Bình và kể cả Lê Xuân Tùng. Mãi về sau này, chúng tôi mới có
thêm những người ủng hộ như Phan Diễn, Nguyễn Văn An. Còn những người còn lại
trong Bộ Chính trị thì không quan tâm đến lý luận”.

Trong hai ngày 30 và 31-7-1993, ông Võ Văn Kiệt tổ chức một phiên họp thường kỳ
của Chính phủ tại Dinh Thống Nhất. Sau khi đánh giá: “Tình hình kinh tế xã hội
đang có những chuyển biến tích cực, đúng hướng, đã vượt qua được những thử thách
to lớn, đi dần vào thế ổn định”. Trước sự có mặt của báo giới, ông Kiệt gửi đi
thông điệp: Phải làm bật dậy mọi tiềm năng trong cả nước, khai thác khả năng
tiềm tàng của các thành phần kinh tế, đồng thời tranh thủ tối đa nguồn lực bên
ngoài nhằm đẩy nhanh công cuộc xây dựng đất nước.

Ngay sau phiên họp, khi trả lời phỏng vấn Tuổi Trẻ, Phó Thủ tướng Phan Văn Khải,
tuy cho rằng “trong giai đoạn trước mắt, dân doanh còn nghèo, quốc doanh còn
phải trụ cột”, nhưng vẫn nhấn mạnh: “Quốc doanh vẫn chủ yếu đầu tư cơ sở hạ tầng
để tạo điều kiện cho các thành phần, các ngành kinh tế phát triển”. Mặc dù vẫn
“hướng tới thành lập những công ty lớn và những tập đoàn [quốc doanh] có sức
cạnh tranh với bên ngoài”, Chính phủ sẽ cho cổ phần hoá để huy động vốn đầu tư
vào những công trình quan trọng hơn”. Nhưng theo ông Phan Văn Khải: “Chính phủ
củng cố quốc doanh không có nghĩa là tiếp tục ôm lấy gánh nặng cho nền kinh
tế”(545).

Cũng từ giai đoạn này, chính phủ chủ trương bỏ dần khái niệm bộ chủ quản và khái
niệm xí nghiệp trung ương, xí nghiệp địa phương, tách bạch vai trò quản lý nhà
nước của các bộ với quản lý sản xuất kinh doanh. Chính phủ, kể từ năm 1991, thể
hiện khá nhất quán chính sách nhắm tới nền kinh tế nhiều thành phần(546).

Hơn bốn tháng sau khi đứng đầu chính phủ, ông Võ Văn Kiệt đã ký quyết định thành
lập Hội đồng Trung ương Lâm thời các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, bổ nhiệm cựu
Bộ trưởng Thương mại Hoàng Minh Thắng làm chủ tịch. Ông Thắng nói: “Chủ trương
của ông Kiệt khi cho ra đời tổ chức này là để khuếch trương kinh tế tư nhân, coi
tư nhân là lực lượng chủ lực của nền kinh tế”. Từ tháng 12-1991 cho đến tháng
10-1993, Hội đồng Trung ương Lâm thời đã tổ chức được ba mươi tám hội đồng lâm
thời ở ba mươi tám tỉnh, thành phố, trực thuộc trung ương, đặc biệt, cũng trong
giai đoạn này, các hợp tác xã đã được tổ chức lại theo tinh thần hợp tác tự
nguyện.

Nhưng, cuối tháng 10-1993, khi đại biểu của ba mươi tám tỉnh, thành bắt đầu về
Hà Nội để dự đại hội thành lập hội thì Trung ương Lâm thời được Ban Bí thư triệu
tập. Theo ông Hoàng Minh Thắng: “Tôi trình bày trước Ban Bí thư về công tác
chuẩn bị, về lực lượng hơn hai trăm nghìn doanh nghiệp tư nhân và ba trăm nghìn
hợp tác xã và tổ kinh tế hợp tác. Ông Đỗ Mười nghe, nói: rộng quá, to quá! Không
cần giải thích, ông quyết định thành phần hội viên chỉ còn là tổ hợp tác và hợp
tác xã, không cho bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân. Đại hội, do đó, vẫn diễn ra
vào ngày 30-10-1993 nhưng thay vì thành lập Hội Doanh nghiệp ngoài quốc doanh,
trở thành đại hội thành lập Liên minh các hợp tác xã”.

Ba tháng sau, từ ngày 20 đến 25-1-1994, tại hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng, ông
Đỗ Mười đã đọc một văn kiện chỉ ra bốn nguy cơ: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh
tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ chệch hướng xã hội
chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chủ trương, chính sách
và chỉ đạo thực hiện, nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu, nguy cơ “diễn
biến hoà bình” của “các thế lực thù địch”. Nói là “bốn nguy cơ”, nhưng chỉ có
“chệch hướng” và “diễn biến hoà bình” là thực sự được nhấn mạnh. Nền “kinh tế
thị trường” mà Đại hội Đảng lần thứ VII đưa vào văn kiện “Chiến lược phát triển
kinh tế xã hội đến năm 2000” đã được thêm “đuôi” để trở thành: “Xây dựng đồng bộ
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa”(547).

Không đơn giản chỉ là chuyện câu chữ, cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa”
được gắn vào “kinh tế thị trường” phản ánh mối tương quan quyền lực, cho thấy
những nỗ lực để Việt Nam thoát ra khỏi mô hình kinh tế kế hoạch hoá là không hề
dễ dàng. Sự nửa vời này gây bức bối cho cả khu vực kinh tế nhà nước lẫn khu vực
kinh tế tư nhân.

Ngày 8-2-1995, ông Võ Văn Kiệt vào Sài Gòn, gặp 300 nhà doanh nghiệp tại Dinh
Thống Nhất(548). Ông Kiệt phân bua: “Chính phủ đang làm dâu hai họ, quốc doanh
và tư doanh ai cũng kêu mình không được đối xử bình đẳng”. Các xí nghiệp quốc
doanh cho rằng họ đang phải chịu nhiều thuế và phí hơn tư doanh, trên đầu họ,
ngoài pháp luật còn có một cơ quan chủ quản. Trong khi, các giám đốc tư nhân lại
cảm thấy bị thua thiệt với không chỉ quốc doanh mà còn với các doanh nhân nước
ngoài(549). Sau cuộc họp đó, ông Kiệt cử người vào Nam và mặc dù bị các tổng
công ty nhà nước kinh doanh lúa gạo phản ứng khá dữ dội, ông Kiệt quyết định,
thay vì tập trung quyền xuất khẩu gạo cho hai tổng công ty, chính phủ còn trao
quyền này cho các tỉnh(550).

Ông Khải cho rằng chưa có một chính phủ nào trong một thời gian ngắn có thể ban
hành nhiều văn bản luật như Việt Nam của thập niên 1990. Điều mà nền kinh tế
cần, theo thuật ngữ lúc đó, là một “hành lang pháp lý” để các thành phần kinh tế
đều có thể vận hành theo kinh tế thị trường. Nhưng thị trường chính là điểm xung
đột đối với những người coi lập trường quan trọng hơn quốc gia phát triển.

Khi Luật Thương mại được Chính phủ Võ Văn Kiệt biên soạn theo nguyên tắc “công
dân có quyền tự do mua bán, tự do sản xuất kinh doanh”, theo Bộ trưởng Thương
mại Lê Văn Triết, trước khi Quốc hội họp, ông Đỗ Mười kêu ông lên, mắng: “Tự do
gì cũng phải ở trong khuôn khổ, quốc doanh phải nắm, nước nào nhà nước cũng phải
quản lý”. Rồi ông Đỗ Mười yêu cầu Bộ Thương mại biên soạn lại theo hướng “quốc
doanh thống lĩnh thị trường, kiên quyết không để cho tư thương đẩy lùi trận
địa”. Ông Triết nói với ông Mười: “Thưa anh, đây là Hiến pháp”. Ông Mười nói:
“Hiến pháp thì cũng phải vận dụng. Anh phải hiểu chứ”. Ông Triết buộc phải cắt
bớt mấy chữ “tự do mua bán”, các đại biểu không đồng tình, Quốc hội biểu quyết
giữ nguyên như dự thảo ban đầu. Ông Đỗ Mười lại kêu ông Triết lên, mắng: “Anh
làm lỡ hết, Quốc hội biết rồi. Bây giờ phải tìm cách sửa khi làm nghị định hướng
dẫn”.

Sở dĩ hàng chục năm sau đổi mới, Việt Nam vẫn không có một thị trường phát triển
đúng tầm, không có những nhà tư sản thương nghiệp có khả năng tìm kiếm thị
trường bên ngoài, theo Bộ trưởng Thương mại Lê Văn Triết, là do “những nỗ lực
theo đúng kinh tế thị trường rất dễ bị coi là chệch hướng. Đề án xây dựng thị
trường nội địa của tôi bị bác bỏ gần hết. Bản dự thảo sau khi đưa lên mấy tầng,
cuối cùng trở về không còn là bản của mình nữa. Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng không
bảo vệ được”.

Ngay cả khi không còn giữ chức Tổng bí thư, ông Đỗ Mười còn có ảnh hưởng quyết
định trong việc duy trì vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước. Khi chuẩn
bị Nghị quyết 05(551), Chính phủ Phan Văn Khải lưu ý: “Có nơi còn coi trọng số
lượng hơn chất lượng, hiệu quả, còn cho rằng doanh nghiệp nhà nước phải chiếm tỉ
trọng lớn, phải có mặt và phải chi phối ở hầu hết các lĩnh vực, các ngành kinh
tế thì mới làm được vai trò chủ đạo”(552). Nhận xét này đã bị ông Đỗ Mười phê
phán.

Trong thư gửi Bộ Chính trị đề ngày 2-11-2000, Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Đỗ Mười cho rằng quan điểm “thu hẹp doanh nghiệp nhà nước, phát triển mạnh
các thành phần kinh tế khác là một khuynh hướng sai lầm cần uốn nắn”. Theo ông
Đỗ Mười: “Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên ‘chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất là chủ yếu’ là một trong những đặc trưng của xã hội chủ nghĩa… Mọi sự
coi nhẹ, làm suy yếu kinh tế nhà nước chính là biểu hiện của nguy cơ chệch
hướng”. Ông Đỗ Mười cho rằng: “Luận điệu tuyên truyền và sức ép của các thế lực
tư bản đế quốc bên ngoài về ‘tư nhân hoá’ đã tác động không ít đến nhận thức một
số cán bộ, đảng viên ta”. Cuối năm 2000 mà ông Đỗ Mười còn đề nghị quốc doanh
nắm lại các ngành vận tải ô-tô, ngành bán buôn và bán lẻ vật tư và hàng hoá tiêu
dùng,… vì ông cho rằng đó là những ngành “then chốt của nền kinh tế”(553).

Cố vấn Đỗ Mười đưa ra nguyên tắc: “Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước phải nhằm
tăng cường kinh tế nhà nước, chứ không phải làm suy yếu nó”(554). Trong một bức
thư khác, gửi đi ngày 14-11-2000, Cố vấn Đỗ Mười còn dẫn những số liệu cho thấy
cổ phần hoá trên thực tế đã không theo đúng những nguyên tắc này(555).

Hội nghị Trung ương 3, cho dù họp vào tháng 9-2001, khi ông Đỗ Mười đã thôi cố
vấn hơn nửa năm, vẫn phải thông qua Nghị quyết 05, theo hướng tuy “đẩy mạnh cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nước, thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê,
sáp nhập, giải thể, phá sản doanh nghiệp nhà nước”, nhưng lại coi “quy mô còn
nhỏ là một trong những mặt hạn chế, yếu kém rất nghiêm trọng”. Nghị quyết 05 
“trao” cho kinh tế nhà nước “vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng
xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất
nước”.

Tháng Giêng năm 2004, khi vai trò thái thượng hoàng của “tam nhân” không còn
nhiều, Chính phủ của ông Phan Văn Khải mới có thể mạnh tay sắp xếp lại khu vực
kinh tế quốc doanh sau khi đạt được thoả thuận trong Nghị quyết Hội nghị Trung
ương 9, khoá IX: “Cổ phần hoá không chỉ được đẩy nhanh tiến độ mà còn được mở
rộng diện, kể cả một số tổng công ty và doanh nghiệp lớn”. Phan Văn Khải

Cuối thập niên 1990, sau khi ông Phan Văn Khải đã trở thành thủ tướng, gia tộc
họ Phan ở Nghệ An có mời ông về nhân một lần nhóm họ, ông Khải cho vợ, bà Nguyễn
Thị Sáu, mang quà về. Sự xuất hiện của phu nhân thủ tướng tại gia tộc họ Phan đã
khiến cho nhiều người tin vào những lời đồn đoán: Ông Phan Văn Khải là con của
ông Phan Đăng Lưu(556), một người từng lãnh đạo Xứ uỷ Nam Kỳ.

Trên thực tế, mãi tới năm 1939, Phan Đăng Lưu mới vào Nam Bộ trong khi ông Phan
Văn Khải sinh ngày 25-12-1933 tại xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi. Mẹ ông, bà
Phan Thị Mung(557) là con của ông Phan Văn Ngoan(558), một người có bảy mẫu
ruộng, theo Thiên Địa Hội và có uy tín ở trong làng. Ông Ngoan và vợ, bà Trần
Thị Lược(559), chỉ có được một người con gái sau bốn lần sinh con trai mà không
nuôi được.

Năm mười chín tuổi, bà Mung mang thai với ông Nguyễn Văn Phèn, thường gọi là ông
Cả Phèn, sinh ra Phan Văn Khải. Ông nội ông Cả Phèn từng làm cai tổng vùng Củ
Chi. Theo ông Phan Văn Khải: “Ông ngoại tôi ghét ông Cả vì mẹ tôi vừa lớn lên,
có bầu với ông rồi bị ông bỏ rơi. Nhưng, trong làng ai cũng biết, ông Cả hay đón
tôi ở ngoài đường rồi chở tôi đi chơi bằng xe đạp. Các ông anh cùng cha cũng
hiền và một người chị gái thì rất thương tôi. Vợ ông Cả thậm chí thỉnh thoảng
còn cho mẹ tôi tiền. Khi tôi đi kháng chiến ông Cả có nhắn về để ông lo cho ăn
học”(560).

Ông Phan Văn Khải kể: “Khi tôi ra đời thì gia đình phá sản, phải bán đất. Ông
ngoại chỉ còn lại một hecta ruộng và một hecta vườn. Ông không có con trai nên
không có lao động. Năm 1940 khó khăn, ông ngoại phải bán luôn cả cái nhà bằng
gỗ. Tôi lớn lên trong hoàn cảnh nghèo nhưng ông ngoại vẫn cho đi học. Học hết
tiểu học, thi lên lớp xong thì Việt Minh cướp chính quyền, thế là từ đó chỉ ở
nhà giữ em, chăn trâu, làm thuê; ai kêu gì làm nấy, nhổ đậu, cắt lúa, nhặt đậu”.
Chính những công việc này lại là cơ duyên để ông Khải “thoát ly”.

Ông Phan Văn Khải kể: “Một lần, đi chăn trâu ở Tân Phú Trung, tôi gặp mấy ông
cán bộ xã trốn ở đây, huyện đưa giấy tờ về họ đọc không được, họ nhờ tôi đọc,
riết thành ‘giác ngộ cách mạng’. Năm 1947, tôi về làng tham gia đội thiếu nhi
cứu quốc, lập ban chấp hành thiếu nhi cứu quốc, làm thư ký ban chấp hành chi
đội. Tháng 2-1948, ông Tám Hoà, chủ nhiệm Việt Minh Hóc Môn, thấy tụi tôi khai
hội, ông kéo lên huyện họp, lập Ban Chấp hành Thiếu nhi Hóc Môn, tôi là uỷ viên.
Họp xong, từ An Nhơn Tây về nhà, tới Mũi Lớn, nghe tin ông bố dượng là chủ nhiệm
Việt Minh thôn bị bắn chết, tôi lội bưng về thì má vừa chôn cất dượng xong”.

Bố dượng mất khi mẹ đang mang thai, ông Khải định ở nhà làm ăn đỡ đần mẹ nuôi
ông bà. Nhưng, ông Khải nói: “Cấp trên thấy tôi lâu không lên, cử một người
xuống xã Mỹ Hạnh gọi tôi qua. Ăn cơm xong, tôi nói hoàn cảnh. Vị đại diện này
nói một câu: ‘Xã đang căng, mày ở nhà trước sau cũng chết. Nợ nước thù nhà, mày
phải đi mới trả được’. Tôi nghĩ, chết mà không làm tròn nghĩa vụ thì không đáng
làm trai nên quyết dứt áo ra đi. Về gặp ông ngoại, ông nói ‘nên đi’, bà ngoại
dặn, ‘đừng ra nơi làn tên, mũi đạn’. Không dám gặp má từ giã, tôi viết thư, dặn
ông ngoại đợi tôi đi rồi mới đưa cho má”.

Từ đó, ông Phan Văn Khải học cách khai hội, phát biểu trước thanh niên. Huyện
Hóc Môn chia thành năm khu, ông phụ trách công tác đoàn đội ở một khu. Năm 1950,
ông được điều lên Văn phòng tỉnh đoàn Gia Định. Ông Khải nói: “Tất cả sách vở
của Xứ uỷ và Trung ương gởi vô, tôi đọc hết. Vừa làm vừa thi vào tiểu học tỉnh
Gia Định, đậu thứ chín nhưng ông tỉnh đoàn trưởng không cho đi vì có một thằng
nó đi ai làm. Tôi hứa sẽ vừa làm vừa học, 6, 7 tháng thì xong lớp 4”.

Đầu năm 1954, ông và bà Nguyễn Thị Sáu(561) cùng ba người bạn khác được đưa
xuống miền Tây học, mới tới Hồng Ngự thì nghe tin Pháp đầu hàng ở Điện Biên Phủ.
Ông cùng bà Sáu vào tỉnh uỷ, ông bí thư là Nguyễn Trọng Tuyển, giữ lại ăn cơm.
Đang ăn thì ông Tô Ký đi họp về, ngồi vào bàn, nói: “Cho mấy đứa này ra Bắc
học”. Tháng 10-1954, hai người cùng lên một chuyến tàu của người Pháp chạy ra
Sầm Sơn, Thanh Hoá.

Ông Phan Văn Khải kể: “Lúc đầu mấy ông định cho đi học, nhưng sau lại đưa đi làm
giảm tô đợt 7. Trước khi đi, ông Tố Hữu tới giáo huấn một buổi rồi đưa xuống
Bình Nghĩa, được bố trí ở trong một nhà nghèo. Mùa đông, đi cày, đi cấy, rét gần
chết. Năm ấy, dân tình rất đói. Tôi thấy một bãi đất rộng khoảng hai mươi hecta,
liền kêu gọi thanh niên trồng khoai lang. Đoàn về kiểm tra, thấy có thằng miền
Nam năng nổ, quyết định tặng Huân chương Lao động hạng III, nhưng khi huân
chương về thì tôi đã được đưa lên Sơn Tây, học trường cải cách ruộng đất. Học
xong được phân công về xã Võng Xuyên, Phúc Thọ, Hà Tây. Mấy ông Đội khác rất
hống hách. Ở Võng Xuyên, Đội tôi cũng có bắn một cai tổng vì được tố là đã giết
chết nhiều người ở gốc đa đầu làng. Lúc đó tôi là đội phó”.

Trong thời gian đó, bà Nguyễn Thị Sáu được đưa đi học Đại học Nhân dân, trường
do ông Phạm Văn Đồng kiêm hiệu trưởng. Bà Sáu và ông Khải bắt đầu phải lòng nhau
từ khi bị kẹt lại ở Hồng Ngự, mối quan hệ này trở thành tình yêu trong những
ngày họ cùng ở trên đất Bắc. Ngày 16-8-1956, tại Yên Mỹ, nơi ông đang làm cải
cách ruộng đất, họ chính thức làm lễ cưới với sự chứng kiến của ông chú ruột của
ông Khải, nguyên chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Chợ Lớn, cùng tập kết.

Tháng 9-1956, ông Khải nhận được thư của Ban Tổ chức Trung ương kêu về học
trường Bổ túc Công nông Trung ương, nơi mà những người nổi tiếng lúc đó như anh
hùng Ngô Gia Khảm, anh hùng La Văn Cầu đang học. Ông Phan Văn Khải kể: “Trường
bắt đầu với hai lớp, 4 và 5, tôi thi đậu vào lớp 5. Tôi học hết 6 lớp trong ba
năm thay vì theo quy định là bốn năm, vừa học vừa làm công tác Đoàn toàn trường.
Năm 1957, vợ tôi sinh con trai đầu lòng, hàng ngày tôi đi bộ từ trường về nhà ở
số 4 Thuỵ Khê. Năm 1959, ông anh vợ mới dành tiền, thương, mua cho cái xe đạp.
Sáng vô trường mua nắm xôi, vừa lật bài, vừa ăn, vừa học. Học hết cấp III tôi
thi đậu vào bách khoa, định sẽ làm kỹ sư điện nhưng vừa nhận chức lớp trưởng thì
có quyết định qua trường ngoại ngữ, ở đó, 1/3 sinh viên học tiếng Trung Quốc,
2/3 học tiếng Nga. Tôi học tiếng Nga rồi đi Liên Xô học ngành kinh tế kế hoạch”.

Năm 1965, tốt nghiệp về nước, ông Khải muốn đi dạy nhưng bà Sáu, lúc ấy làm ở Uỷ
ban Kế hoạch Nhà nước, muốn ông về cùng. Ba năm sau ông được cử giữ chức trưởng
phòng. Đến năm 1972, chuẩn bị ký Hiệp định Paris, ông Lê Duẩn có kế hoạch lập
chính phủ ba thành phần, ông Khải cùng một số cán bộ được đưa vào Trung ương
Cục. Khi kế hoạch này bất thành, hè năm 1973, ông ra Bắc trở lại nhận một chức
vụ phó ở Uỷ ban Thống nhất. Tháng Giêng năm 1976, ông Phan Văn Khải được đưa về
Sài Gòn. Lúc này, Uỷ ban Nhân dân Cách mạng vừa được thành lập, ông Khải được bổ
nhiệm làm phó chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch, ông Võ Văn Kiệt khi ấy là chủ tịch
Thành phố kiêm chủ nhiệm.

Ông Phan Văn Khải là một cán bộ mẫn cán. Thật khó để đánh giá ông là một người
không muốn tranh đua danh vọng hay là một người không muốn đặt mình trong các
tâm điểm của đấu trường. Khi về Sài Gòn, ông Trưởng Ban Tổ chức Trương Văn Tư
hỏi: “Mày về đây muốn làm chức gì?”. Ông Khải trả lời: “Ở ngoài kia, cháu vụ
phó, chú có thể giao cháu làm phó chủ nhiệm Uỷ ban, nếu một thời gian thấy cháu
không làm được thì cho cháu thôi”. Một năm sau ông Tư nói: “Mấy ổng kêu mày
khá”.

Làm phó cho ông Võ Văn Kiệt muốn được khen thì phải vô cùng nỗ lực. Ông Phan Văn
Khải kể: “Khi ở Liên Xô về, tôi cân nặng 52 kg, vào Thành phố một thời gian còn
43 kg, Thành phố cho ra Thanh Đa an dưỡng lên được 3 kg”. Năm 1976, ông Phan Văn
Khải được giới thiệu vô Thành uỷ nhưng đã rút lui để không chia phiếu của ông Vũ
Đại, một người đồng cấp lớn tuổi. Nhưng từ khi đó, ông đã là người được ông Lê
Đức Thọ xếp vào diện cán bộ nguồn. Năm 1978, ông được Ban Bí thư chỉ định làm
Thành uỷ viên, năm sau, 1979, được đưa bổ sung làm phó chủ tịch trực Uỷ ban Nhân
dân Thành phố kiêm chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch.

Những năm đầu thập niên 1980, ông Phan Văn Khải đã sử dụng các thương nhân người
Hoa, lập các trạm thu mua nông sản để xuất khẩu. Ông cũng được ông Võ Văn Kiệt,
khi đó đã là phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ủng hộ lập công ty vận tải biển
Saigonship. Ông cũng là người chủ trương mở đường cho tư nhân ở Thành phố được
làm xăm lốp ô tô, xe đạp,…

Giai đoạn này, ông Nguyễn Văn Linh được điều trở lại thay ông Kiệt làm bí thư
Thành uỷ. Theo ông Khải: “Khi mới về gặp công nhân, ông Nguyễn Văn Linh nói: Bây
giờ chúng ta làm chủ nhà máy, xí nghiệp. Công nhân nói: Hồi xưa làm thuê chúng
tôi có việc làm bây giờ làm chủ thì chúng tôi không có việc làm nữa. Ông Linh
tỉnh ra. Ông Linh cũng đổi mới nhưng không phải bắt đầu bằng sự lăn lộn, nghiên
cứu, tổng kết như ông Kiệt”.

Thời gian đó, Thành phố bươn chải trong một khung cảnh, nhận thức của nhiều địa
phương còn ấu trĩ. Ông Phan Văn Khải nhớ lại: “Thấy chúng tôi thu mua lương
thực, thực phẩm, bí thư Đồng Nai than: Chiều chiều thấy bắp, trái chở về Sài Gòn
là tôi lại xót xa. Trong một hội nghị ở Vĩnh Long, có người nói: Gạo thịt của
chúng tôi bị chở về Thành phố hết. Chủ trì hội nghị, ông Kiệt nói: Sau này, nếu
Thành phố không tiêu thụ thì dân họ sẽ níu áo ông vì bán không được đấy”.

Cuối thập niên 1970, ông Phan Văn Khải luôn có mặt bên cạnh ông Kiệt trong những
chuyến đi cơ sở gỡ rối cho doanh nghiệp. Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, ông, một
người được đào tạo về kinh tế kế hoạch hoá ở Liên Xô, bắt đầu nhận thấy nhu cầu
tìm hiểu nền kinh tế của các nước phương Tây. Từ Sài Gòn, ông Phan Văn Khải đề
nghị Bộ Chính trị cho ông tổ chức một đoàn nghiên cứu đi các nước trong khu vực.
Mục đích của chuyến đi được đề nghị công khai là “thăm dò cơ hội đầu tư và thái
độ của các nước ASEAN đối với chính sách đổi mới của Việt Nam”. Tháng 9-1988, đề
nghị của ông Khải được Bộ Chính trị đồng ý sau nhiều lần thảo luận.

Ông Phan Văn Khải lúc đó là chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhưng
xin visa với danh nghĩa là trưởng đoàn doanh nhân Thành phố. Theo ông Nguyễn Văn
Kích, thư ký ông Khải: “Lúc đầu Đoàn dự định đi năm nước, bao gồm cả Hồng Kông,
nhưng sau khi đi Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, do có vài trục trặc
nên chuyến đi đến Hồng Kông không thực hiện”.

Chuyến đi được sắp đặt bởi Charles Đức. Ở Singapore, theo ông Võ Tá Hân: “Tôi bỏ
việc để đưa đoàn tham quan. Vì chưa có quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và
Singapore nên Đoàn không thể thăm trực tiếp nhiều chỗ, chẳng hạn như khi muốn
xem cảng Singapore thì tôi phải đưa lên tầng cao toà nhà IBM đang xây của tập
đoàn CDL - Hong Leong để ngắm”.

Sau mấy ngày thăm Singapore, ông Khải muốn có một buổi nói chuyện và câu hỏi mà
ông đặt ra là, “Việt Nam phải làm gì để đi theo con đường của Singapore?”. Chiều
28-9-1988, Đoàn họp tại Vietnam Trade House(562). Ông Lương Văn Tự khi ấy đang
là trưởng đại diện thương mại của Việt Nam tại Singapore chủ trì. Ông Võ Tá Hân,
diễn giả được ông Tự mời đến cuộc họp này, kể: “Buổi họp kéo dài khoảng bốn
tiếng đồng hồ. Tôi chuẩn bị mười bốn trang ghi chú viết tay, điểm qua mọi vấn đề
như đâu là năm thế mạnh của Việt Nam, chiến thuật giúp tăng trưởng kinh tế,
chống lạm phát phi mã, và nói về việc chống tham nhũng… Tôi bắt đầu buổi họp
bằng một câu phát biểu rất ngắn gọn: Việc đầu tiên là các anh phải để dân chúng
tự do làm ăn!”.

Trong cuộc họp này, ông Hân mang theo một chồng sách tặng ông Phan Văn Khải,
trong đó có cuốn Singapore, The Socialist Model That Works. Theo ông Hân: “Tôi
nói với ông, Singapore thực sự cũng là một mô hình xã hội chủ nghĩa. Họ chỉ có
một đảng cầm quyền là Đảng Hành Động Nhân Dân(563) và đảng này, mỗi lần viết các
văn bản nội bộ, thường bắt đầu bằng câu ‘Dear Comrades’ mà Việt Nam vẫn dịch là
‘Thưa các đồng chí’”. Trưa thứ Sáu, 30-9-1988, thông qua sự thu xếp của ông Hân,
Canadian Business Association tổ chức cho Đoàn một cuộc gặp tại Tanglin Club,
hội quán lâu đời và uy tín nhất ở Singapore.

Ông Hân kể: “Trước khi bước lên thang lầu để vào phòng họp, tôi đứng chụp một
bức hình kỷ niệm với ông Khải nơi chân cầu thang. Thấy ông Khải rút điếu thuốc
định bật lửa để hút, tay hơi run, tôi bèn nói: anh Khải ơi, mình đang ở trong
phòng lạnh, họ không cho mình hút thuốc; rồi trấn an để ông ấy lên tinh thần:
anh phải hăng hái lên vì thế giới họ vẫn coi mình là cọp đó! Ông Khải trả lời
với giọng Nam rặc: cọp gì! cọp… đói!”.

Theo lời mời của CBA, sứ quán Mỹ và Canada tại Singapore đã cử hai vị phó đại sứ
đến tham dự. Ông Khải tự giới thiệu là đại biểu Quốc hội, chủ tịch Thành
phố(564). Tuy không cấm vận thương mại Việt Nam nhưng để bày tỏ thái độ trước
việc Việt Nam đưa quân tới Campuchia, Singapore không cho các công ty nhà nước
và công ty nhận bảo trợ của nhà nước có quan hệ thương mại với Việt Nam. Chính
quyền cũng phản đối các doanh nghiệp Singapore cung cấp cho Việt Nam những vật
tư chiến lược và giúp Việt Nam phát triển hạ tầng. Chính vì vậy, bài diễn văn
của ông Phan Văn Khải được mở đầu bằng thông tin “việc rút quân khỏi Campuchia
có thể hoàn thành trước năm 1990”. Ông Khải nói: “Chúng tôi hy vọng với việc rút
quân này, Mỹ không còn lý do gì để tiếp tục áp dụng cấm vận thương mại lên Việt
Nam”.

Ông Khải nói một cách chân thành: “Chuyến đi của chúng tôi là nhằm tìm kiếm một
cái nhìn bên trong những thành tựu của các quốc gia Đông Nam Á. Những điều đã
tạo nên sự phát triển kỳ diệu và giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội một cách
thành công. Chúng tôi tin rằng những điều đó có thể trở thành bài học tốt cho
Việt Nam”.

Ông Khải giới thiệu đôi nét về các chính sách mới ban hành kêu gọi đầu tư nước
ngoài như Luật Đầu tư 1987, Nghị định 139, rồi ông nói: “Cánh cửa giờ đây đã mở
ra. Chúng tôi muốn làm ăn với các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các quốc
gia Đông Nam Á”. Sau cuộc họp, CBA tổ chức một cuộc họp báo, mời bốn cơ quan
truyền thông: Reuters, Straits Times Singapore, Sunday Times và một tờ báo Nhật
Bản.

Chính quyền Singapore đã phản ứng sau khi tờ Sunday Times, số ra ngày Chủ nhật
2-10-1988 đưa tin về “tiệc trưa” tại CBA. Ông Khải đến Singapore cùng mười người
khác theo visa cá nhân, “khách hàng” được hai công ty Singapore, Thai Hing Long
và Imkov Shipping, mời và bảo lãnh. Nhưng hoạt động của ông bị nhà báo Mike
Yeong mô tả: “Khi đến Singapore, họ hợp thành nhóm, cùng với hai quan chức từ cơ
quan đại diện thương mại của Việt Nam tại Singapore, tự giới thiệu là phái đoàn
thương mại Việt Nam và hoạt động ngoài khuôn khổ những gì được chỉ ra trong
visa”.

Chính quyền, như được cảnh báo sau bài tường thuật của Sunday Times, đã nhắc nhở
ông Lương Văn Tự, nếu vi phạm hơn thế hoặc tiếp tục vi phạm như thế thì sẽ
“không được tha thứ” và “việc xin visa của các doanh nhân Việt Nam sẽ bị khó
khăn hơn”. Bộ ngoại giao Singapore cũng “doạ” trục xuất ông Võ Tá Hân. Theo ông
Lương Văn Tự: “Khi thấy tôi bị Bộ ngoại giao Singapore triệu tập phê bình vì tự
tiện tổ chức họp báo, ở nhà cũng xôn xao, nhưng tôi bình tĩnh vì biết họ sẽ chỉ
làm điều này như một thủ tục, chính quyền Singapore lúc đó bắt đầu muốn nối lại
làm ăn với Việt Nam”(565).

Sau chuyến đi, ông Phan Văn Khải có làm một bản báo cáo gửi Bộ Chính trị và Hội
đồng Bộ trưởng. Theo ông Nguyễn Văn Kích, người chấp bút bản báo cáo này, sau
khi điểm qua những hoạt động và ghi nhận chính của Đoàn trong chuyến đi, ông
Khải đưa ra ba kiến nghị: cần sớm xác lập quan hệ với ASEAN, phải coi ASEAN là
đối tác thay vì đối đầu; chỉ có trong kinh tế thị trường các nguồn lực và tài
nguyên của đất nước mới được phát huy đúng mức; các nước sẵn sàng đầu tư tại
Việt Nam miễn là mình có chính sách bảo vệ được đồng vốn cho họ. Ông Kích kể
rằng, trong suốt chuyến đi, câu nói của Lý Quang Diệu mà Đoàn tâm đắc nhất là:
Kinh tế thị trường + tổ chức xã hội theo kiểu xã hội chủ nghĩa = Singapore.

Uy tín của ông Phan Văn Khải bắt đầu lên cao, nhưng khi ấy ông vẫn ở Sài Gòn lại
thuộc thành phần tập kết.